Cách mạng - Bạo động
hay bất bạo động?
Huỳnh Thục Vy
- thành viên NTHF
Cách mạng hay cách mạng xã hội theo nghĩa rộng, được hiểu như là
một sự thay đổi sâu rộng trong xã hội nhằm biến cái cơ cấu cũ đã
lỗi thời thành một cơ cấu mới tiến bộ và phù hợp hơn, trong một
thời gian tương đối ngắn. Đó chính là những biến đổi mang tính chất
cơ bản và trọng yếu trong bản chất của thượng tầng xã hội chứ không
phải là những cải cách nhỏ mang tính thứ yếu trong một vài lĩnh
vực cụ thể nào đó, càng không phải là những đổi chác chính trị nhắm
đến mục tiêu thay người lãnh đạo quốc gia của một nhóm người nhỏ
(đảo chính).
Theo nghĩa hẹp, cách mạng chính là một biến cố chính trị lớn, thường
được gọi là cách mạng chính trị. Cuộc cách mạng chính trị này sẽ
dẫn đến những thay đổi toàn diện từ trật tự xã hội, chế độ chính
trị của quốc gia đến tầng lớp những người lãnh đạo. Những cuộc cách
mạng chính trị thường bắt đầu bằng những cuộc đấu tranh của đa số
quần chúng nhằm lật đổ chế độ chính trị hiện thời để tạo điều kiện
xây dựng một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn.
1/ Tính chất bạo lực
Dường như khi nói đến cách mạng chúng ta luôn liên tưởng ngay đến
bạo lực. Những ai từng ngồi trong nhà trường xã hội chủ nghĩa đều
thấm nhuần quan điểm rằng : bạo lực cách mạng là điều kiện tiên
quyết và không thể thiếu của việc giành chính quyền. Nhiều người
phủ nhận Marx, cho rằng ông này cổ súy bạo lực. Nhưng Marx đã đúng
trong nhận thức về lịch sử chính trị đối với những giai đoạn trước
khi chúng ta tạo dựng được những Nhà nước Hiến pháp trị. Nhìn lại
lịch sử, chúng ta không thể phủ nhận rằng hầu như bất cứ một cuộc
thay đổi chế độ chính trị nào cũng đẫm máu. Ngay cả việc tạo dựng
một định chế chính trị tiến bộ như sự hình thành Nghị viện Anh cùng
với sự ra đời của bản Đại Hiến chương Tự do vào thế kỷ 13 ở Anh
quốc cũng chỉ đạt thành qua cuộc đấu tranh mang đầy bạo lực giữa
một bên là triều đình phong kiến Anh quốc (đại diện lúc đó là vua
John, sau đó là vua Henry III) với một bên là các lãnh chúa phong
kiến lãnh đạo quần chúng. Sau này, vào thế kỷ 17, để thành lập được
một thế chế quân chủ lập hiến ở Anh với quyền lực nhà vua bị Nghị
viện kiểm soát và kiềm chế cũng phải trải qua cuộc Nội chiến và
cuộc “Cách mạng Vinh quang” (Glorious Revolution) đẫm máu.
Cuộc cách mạng Pháp- một chuyển biến
chính trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, với sự ra
đời của Hiến pháp 1791, xóa bỏ chế độ phong kiến không còn phù hợp
với nguyện vọng người dân và tình hình kinh tế xã hội Pháp lúc bấy
giờ, đã diễn biến trong một quá trình thậm chí còn phức tạp và đẫm
máu hơn nữa. Còn rất nhiều minh chứng khác, đến nỗi không chỉ có
Marx, hầu như tất cả chúng ta khi nghĩa đến cách mạng đều nghĩ ngay
đến những phong trào khởi nghĩa, những cuộc chém giết lớn giữa một
phe đại diện cho quần chúng và nhà cầm quyền đương thời.
Thật vậy, nhân loại đã phải trả những cái giá rất đắt, những tổn
thương nhân mạng to lớn để đi từ những trang sử cổ đại đến thời
hiện đại, để vượt qua thời kỳ của chế độ nộ lệ, rồi chế độ phong
kiến mới có thể xây dựng được những Nhà nước dân chủ tiến bộ ( tuy
sự tiến bộ này phải trải qua một thời gian nhất định để đạt được
diện mạo như ngày hôm nay). Nhưng Marx đã mắc một sai lầm to lớn
khi ông cho rằng nhân loại cần phải tiếp tục lật đổ, xóa bỏ những
nhà nước dân chủ tư sản (theo cách gọi của ông) bằng những cuộc
“cách mạng vô sản” với “bạo lực cách mạng”. Thực tế cho thấy vào
cuối thế kỷ 19- đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc những
quốc gia nghèo đói, trình độ dân trí thấp, nền công nghiệp hầu như
không có, chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện để phát triển, để
mà “làm cách mạng”. Họ luôn hô hào xóa bỏ chủ nghĩa tư bản nhưng
quả thực, nhiều nhất họ cũng chỉ xóa bỏ được chế độ phong kiến,
cùng với sự hỗ trợ đắc lực của tình hình xã hội đương thời đang
chất chứa những quả bom bất mãn chỉ chờ thời cơ là phát nổ.
Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không “làm
cách mạng” được ở những xứ sở có truyền thống pháp trị và tự do.
Chúng ta có thể thấy cách mạng chính trị, tức sự thay đổi chế độ
chính trị không thể xảy ra ở những nơi người dân có thể dùng lá
phiếu để thay đổi chính phủ. Trong các thể chế dân chủ tự do chỉ
có khủng hoảng chính phủ chứ hoàn toàn không hề có khủng hoảng chế
độ.
Vậy nơi nào có sự chuyên quyền nơi đó
có cách mạng, mức độ chuyên quyền càng cao thì khả năng xảy ra sự
phản kháng bằng bạo lực càng lớn.
2/ Một lý thuyết đấu tranh mới
Đầu thế kỷ 20, thế giới chứng kiến cuộc đấu tranh dành độc lập của
nhân dân Ấn Độ từ tay Thực dân Anh với hình thức đấu tranh bất bạo
động đầy ngoạn mục dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi. Từ đây,
chúng ta có một phương thức đấu tranh giành chính quyền mới, làm
thay đổi nhận thức đấu tranh của những nhà cách mạng thời hiện đại.
Cách đây hai năm, tôi đã đọc “Từ độc tài đến Dân chủ” của Gene Sharp.
Trong tác phẩm này, ông đã phân tích khá toàn diện và cụ thể việc
tổ chức và tiến trình của một cuộc cách mạng bất bạo động. Như một
bài đã viết cách đây khá lâu, là một Phật tử, tôi cho rằng đây là
phương pháp đấu tranh đầy nhân bản và mang lại nhiều niềm hi vọng
cho các dân tộc đang sống dưới các ách độc tài, tạo cơ hội cho quần
chúng “tay không tất sắt” có thể đoàn kết sức mạnh chống lại những
chính quyền độc tài vũ trang hùng mạnh.
Gần đây, đối với những người đang cổ vũ cho phương pháp đấu tranh
“bất hại” này, niềm tin và lý luận của họ lại một lẫn nữa được khẳng
định khi có thêm những minh chứng hùng hồn cho việc thực hành một
cuộc đấu tranh bất bạo động của quần chúng với sự sụp đổ của hai
thể chế độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Dù không phải là không có thương
vong, nhưng người dân hai nước này đã thành công bằng các cuộc xuống
đường không vũ trang để phản đối và cuối cùng là lật đổ được hai
nhà độc tài Ben Ali và Mubarak.
Nhưng quay sang Libya, tình hình có
vẻ ngược lại và phức tạp hơn nhiều. Phong trào chống chính phủ đã
trở thành cuộc nổi dậy vũ trang kéo dài cho đến hôm nay vẫn chưa
ngả ngũ. Có ai trong chúng ta đã tự hỏi vì sao có sự khác nhau ấy
? Cùng là các quốc gia thuộc thế giới Ả Rập, nền công nghiệp dầu
khí là trụ cột kinh tế quốc gia, sống dưới chế độ độc tài, đang
rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế, thiếu thốn lương thực, công
ăn việc làm của người dân không được bảo đảm…., nhưng cuộc phản
kháng của người dân Libya chống chính quyền đã diễn ra theo một
kịch bản khác hắn với Tunisia và Ai Cập. Phải chăng chính những
người lãnh đạo và những người tham gia đấu tranh không thể tự quyết
định được phương pháp và chiều hướng đấu tranh? Đây thực sự là một
câu hỏi khó.
3/ Những yếu tố chi phối tính chất cuộc đấu tranh
Trong trình độ tri thức hạn chế của mình, người viết cho rằng ở
đây chắc hẳn phải có những yếu tố khách quan vô cùng quan trọng
chi phối con đường đấu tranh của người dân chống lại độc tài, những
điều mà những nhà đấu tranh không thể can thiệp bằng ý chí chủ quan
(ý chí chủ quan thể hiện qua trình độ tổ chức đấu tranh và ý thức
chính trị của những người tham gia đấu tranh).
Trở lại với Libya, chúng ta thấy Gadhafi là nhà độc tài sắt máu
và ngoan cố hơn hắn Ben Ali và Mubarak; trong một thời gian dài
chế độ của Gadhafi là một chế độ khủng bố, còn bản thân Gadhafi
bị Tổng thống Reagan gọi là “con chó dại…”. Đó chính là yếu tố đầu
tiên tôi muốn nói đến- bản chất và mức độ độc đoán, tham quyền cố
vị của nhà độc tài hay nói chung là chế độ độc tài sẽ chi phối nổ
lực, thời gian và chiều hướng đấu tranh của chúng ta.
Tiếp đến là sức mạnh nội tại của chế
độ: chế độ độc tài càng mạnh, sự đoàn kết nội bộ của họ càng cao
thì khả năng ra đi của họ khi có một cuộc phản đối bất bạo động
của người dân càng thấp.
Tiếp theo chúng ta xét đến mối liên kết của chế độ độc tài đó với
các thế lực bên ngoài, cụ thể hơn là việc chế độ độc tài đó có quan
hệ mật thiết về ngoại giao với ai, phụ thuộc chính trị vào cường
quốc nào. Nếu “đàn anh” ngoại giao của họ là một nước có thể chế
chính trị tiến bộ, có ý thức hệ phóng khoáng thì khả năng nhượng
bộ tăng lên và khả năng đàn áp bằng vũ trang giảm xuống, so với
việc “đàn anh” của họ là một nước có chế độ chính trị cực đoan và
độc tài hà khắc. Chúng ta có thể thấy Mubarak là vị tổng thống độc
tài nhưng được người Mỹ ủng hộ, vì thế sự ra đi của ông khỏi chiếc
ghế quyền lực có vẻ êm thấm hơn so với trường hợp ông là “đàn em”
của một chế độ tàn bạo như Trung cộng chẳng hạn.
Điều tiếp theo cần được xem xét là mức độ phẫn uất của lòng dân;
mức độ căm phẫn này lại được quyết định bởi mức độ bất công xã hội,
hố ngăn cách giàu nghèo, tình trạng tội tệ của nền luật pháp, mức
độ bóp nghẹt các quyền tự do, số lượng những hành động làm tổn hại
quốc gia và dân tộc của chính quyền, mức độ tổn thương của lòng
dân.... Sự phẫn uất do những yếu tố nói trên gây ra và nung nấu
trong lòng dân càng lâu dài và càng lớn thì nguy cơ bạo động càng
gia tăng. Bởi sự căm giận của lòng người như một quả bom, nó càng
lớn thì mức độ công phá và thiệt hại càng lớn. Và cuối cùng điều
phải kể đến là cục diện chính trị quốc tế. Nếu xu hướng tự do dân
chủ trên thế giới ngày càng vững mạnh, các chế độ độc tài ngày càng
yếu và ít đi, một số các cường quốc bất hảo rơi vào khủng hoảng
thì các chế độ độc tài sẽ phải xem xét lại sự thiệt hơn giữa một
bên là ra đi trong bình yên và một bên là tiếp tục ngoan cố để trở
thành tội đồ của cả dân tộc.
4/Trở lại tình hình Việt Nam
Xét về tình hình Việt Nam, tôi thiễn nghĩ Việt Nam giống Trung cộng
nhiều hơn so với các quốc gia Ả Rập kể trên. Vậy nên khi đánh giá
tình hình tôi hi vọng những người đấu tranh dân chủ của chúng ta
hãy so sánh tình hình nước ta với Trung Quốc để nhận ra những bất
lợi và thuận lợi, chứ không phải là so sánh với những nơi cách mạng
vừa thắng lợi ở Bắc Phi . Việt Nam và Trung Quốc tuy khác nhau về
diện tích lãnh thổ và quy mô chính quyền nhưng lại có nhiều điểm
tương đồng như : chế độ chính trị, ý thức hệ của giai tầng lãnh
đạo, cách thức và mức độ siết chặt các quyền tự do, bản chất nền
kinh tế, tình trạng bất công xã hội …Có thể nói Việt Nam là mô hình
thu nhỏ của Trung Quốc. Thêm vào đó, ta nhận thấy ở đây một sự phụ
thuộc về chính trị và sự tồn vong mang tính liên đới giữa Việt cộng
và Trung cộng.
Tất nhiên cuộc cách mạng hoa lài đã mang lại cho chúng ta niềm cảm
hứng và hi vong to lớn về một thế giới không độc tài, về tiền đồ
dân chủ tự do của Việt Nam, bởi chúng ta đã cảm nhận sâu sắc rằng
sức mạnh của ý chí và sự đoàn kết chống độc tài của người dân Bắc
Phi một lần nữa đã minh định khao khát tự do của nhân loại là không
gì cản nổi.
Theo một số nhà quan sát thời cuộc, thì chưa thể có một cuộc cách
mạng như thế ở Việt Nam vì sự quan tâm chính trị của người dân chưa
cao, và sự thiếu vắng một lực lượng đối lập mạnh, cùng với một trình
độ tổ chức cần thiết. Điều đó đúng, thế nhưng đó là mới chỉ xét
mặt chủ quan mà chưa để tâm đến tình hình khách quan, đó là sự tùy
thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau rất nhiều ở mọi quốc gia trong thời
đại Toàn cầu hóa này. Khi nào Trung Quốc rúng động vì sự nổi dậy
của người dân thì đó cũng là lúc cho chúng ta hy vọng một cuộc “đổi
đời” trong tầm tay. Đây không phải là sự bắt chước, rập khuôn mà
là sự suy xét mối tương quan tồn tại và tình hình thực tế khách
quan giữa Việt Nam và Trung Quốc.Thiết nghĩ, sự phát hiện đúng thời
cơ và hành động đúng thời điểm là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho
mỗi thắng lợi.
Trên đây chỉ là những ý kiến gợi mở và chắc chắn bài viết còn nhiều
thiếu sót không thể tránh khỏi. Bài viết chỉ nhằm trình bày quan
điểm và những ưu tư của cá nhân tôi.
Chúng tôi - thế hệ 8x, vẫn còn quá trẻ
để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa
Việt Nam. Thế nên, chúng tôi trông cậy rất nhiều vào những bậc trưởng
thượng - những người sẽ vạch ra con đường và dẫn dắt chúng tôi,
để từ đó chúng tôi có cơ hôi đóng góp sức mình cho đất nước và biết
được mình sẽ phải làm những gì. Bởi nếu những người đi trước nhầm
đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ
gặp thảm họa.
Tam Kỳ ngày 13 tháng 3 năm 2011
|