Giá
Trị Nhân Bản Của Việt Võ Đạo
Chưởng Môn Việt Võ
Đạo Lê Sáng
TÍNH CHẤT NHÂN BẢN
CỦA VÕ THUẬT VÀ VÕ ĐẠO
Thời xưa, tại phương Đông, vì đất rộng người nhiều
và vì hệ thống giao thông kém, kinh đô xa, con người chỉ có cách
tăng cường khả năng tự tôn, chớ không thể chờ pháp luật can thiệp,
giải quyết hộ những bất công. Vì vậy, nẩy sinh một công thức:
Hạng người thứ nhất, học võ để tự vệ (để phòng giặc
cướp).
Hạng người thứ hai, học võ để tranh chiếm (muốn áp bức người, giành
lợi, phải giỏi hơn).
Và theo luật thừa trừ, cũng nẩy sinh hạng người thứ ba trọng tài,
can gián, dùng võ lực can thiệp, để:
Cứu người bị áp bức, hoặc
Đôi khi, lợi dụng tình thế để tranh đoạt quyền lợi về mình.
Tất nhiên, người có thế nắm vai tuồng thứ ba kia phải là một người
xuất sắc và có những khả năng đặc biệt, như: võ công cao hơn, có
nhiều uy tín, hoặc nhiều mưu lược, giỏi tâm lý, biết cách can gián.
Do đó, tự bản thân võ thuật, chúng đã có những gía
trị đặc biệt, về cả xấu lẫn tốt. Gạt bỏ những gía trị xấu, giữ lại
và phát triển những gía trị tốt, là đã nâng võ thuật lên hàng võ
đạo.
Tiếng “ĐẠO” của người phương Đông – nơi nhu cầu và
tài nghệ của con người được nghệ thuật hóa và triết hóa tới cao
độ - quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của phương Tây
có thể dịch thóat, vì “ĐẠO” ngoài ý nghĩa là “con đường, là “thông
lộ, còn bao hàm cả những ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật.
Ví dụ: Uống trà là một nhu cầu thông thường, nhưng
biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống
trà kết bạn, giúp ích xã hội, là trà đạo. Uống rượu là một thú vui,
nhưng biết cách uống rượu với những nghi tắc đặc biệt, và một quan
niệm cao khiết về nhân tâm thế đạo, hiển ích nhân quân, là tửu đạo.
Thưởng hoa là một thú vui thông thường trong đời sống, nhưng biết
cách thưởng ngạn là nghệ thuật thưởng hoa, và nâng cao hơn những
về đạo sống giúp tiến hỉên ích là hoa đạo.
Võ thuật cũng vậy. Học võ, để trau giồi kỹ thuât
tự vệ hay chiến đấu hoặc dùng làm nghề mưu sinh, là võ thuật, võ
nghệ. Nhưng học võ ý thức cao hướng thiện và cải thiện con người
toàn diện, có quan niệm hành võ tốt, phục vụ con người là võ đạo.
Do đó, học võ cốt để khoe khoang, thì tài, hiếu thắng và tranh thắng,
hoặc ý hướng tốt, sang khuynh hướng tốt, để đạt tới lý tưởng cao
đẹp. Lý tưởng cao đẹp đó chính là do người, vì người và phát triển
con người, để con người luôn luông thăng tiến về mọi mặt, hầu có
thể đóng góp khả năng giúp ích và hiển ích cho xã hội nhiều hơn.
Ý hướng phục vụ con người, hướng thiện con người để làm cho xã hội
tốt đẹp hơn, là ý hướng nhân bản. Khoa học phục vụ con người, để
học mang tính nhân bản. Võ thuật phục vụ con người, là võ thuật
mang tính nhân bản, thăng tiến thành võ đạo.
VÕ THUẬT PHẢI ĐƯỢC
HỆ THỐNG HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA
Ta Trở lại với lối học võ của tiền nhân, lối học
võ thích dụng, cho một trình độ tiến hóa đã qua, hệ thống giao thông
kém, phương tiện chuyển vận tồi- đi khoảng trăm cây số, nếu đi ngựa
phải mất một ngày hoặc đi bộ phải mất ba, bốn ngày. Đi thuyền cũng
chỉ tương tự như đi bộ hay đi ngựa, tùy theo vận tốc.
Điều này có quan hệ gì tới võ học đương thời? Xin
đáp: rất quan hệ, vì hệ thống giao thông còn yếu kém, việc di chuyển
khó khăn, nên sự truyền thông kiến thức – kể cả những kiến thức
về kỹ thuật – rất giới hạn. Võ thuật cũng vậy, mỗi vùng có những
cách thức luyện tập khác nhau, đòn thế khác nhau, kỹ thuật sử dụng
khí giới khác nhau. Do vậy kỹ thuật chiến đấu bằng quyền cước chung
của dân tộc thật vô cùng phong phú, nhưng mỗi môn phái chỉ nắm giữ
được ít nhiều bí thuật. Bởi đó, tinh thần tự tôn, chia thành môn
phái càng ngày càng lên cao, nghiệt ngã, môn đồ nào sử dụng đòn
thế không phải của sư môn sẽ bị khai trừ, liệt vào hạng phản đồ.
Sự trao đổi kiến thức về võ thuật có chăng, là chỉ
nhằm vào những ngày hội làng với những môn giải trí đô vật hay giao
đấu cá nhân, là nghững ngày long trọng trong năm quy tụ cả những
khán giả trong làng và những khán giả làng bên. Đời Trần có Giảng
Võ Đường và chính sách cưỡng bách học tập võ nghệ, nhưng chú trọng
nhiều vào giai cấp quý tộc và thiện dụng vũ khí hơn là căn bản quyền
cước, để đáp ứng kịp thời với nhu cầu chống xâm lăng Mông Cổ. Đời
Lê có chương trình cưỡng bách học tập võ nghệ cùng vớI kiến thức
văn hóa qua các khoa thi Minh Kinh Khoa áp dụng cho các hàng quan
văn võ từ tứ phẩm trở xuống, nhưng chưa phát động sâu rộng được
trong quảng đại quần chúng, mặc dầu vẫn khích lệ gián tiếp bằng
các khoa thi Minh Kinh Khoa cả văn lẫn võ được mở khắp nơi.
Trong khi đó, võ thuật căn bản là quyền cước vẫn
được âm thầm trui rèn, mỗi ngày thêm sắc bén bởi những vị võ sư
ẩn danh. Song kỹ thuật càng tinh tiến, tâm hồn càng đóng khung vào
cảnh trầm lắng, tịch mịch vô vi, thóat tục, xa lìa cuộc sống.
Vì giao thông hạn chế, nên việc truyền thông, hội
nhập và thái dụng các tinh hoa võ thuật cũng bị hạn chế theo. Ta
thấy rõ: võ Bình Định khác với võ Sơn Tây, võ Quảng Nam khác với
võ Thanh Nghệ, võ Gia Định khác với võ Hà Đông, võ 18 Thôn Vườn
Trầu khác với võ Tân Khánh, tuy cùng có chung một xuất xứ là võ
Việt Nam. Đã thế, kiến thức võ học chẳng những không trau giồi thêm,
mà còn có thể bị mai một đi vì lối dạy “kén học trò”, ngày xưa ,
mỗi lò võ hay võ đường chỉ gồm dăm bảy môn sinh, hoặc nhiều lắm
là vài chục môn sinh. Phương phát huấn luyện lại nghiêng về gia
truyền, tâm truyền, bí truyền và môn truyền: võ của họ này không
truyền cho họ khác, hoặc chỉ truyền cho vài môn đệ thật xứng đáng,
rồi còn lo xa, giữ lại vài miếng bí hiểm, cốt để phòng xa khi bị
học trò phản bội “dùng” võ thầy đánh lại thầy. Môn phái này không
bao giờ học hay dạy môn đồ môn phái khác. Làm trái lại là khinh
sư phản môn.
Bây giờ khác hơn. Nhờ những phương tiện giao thông
tân tiến, chúng ta có thể thâu nhập và thái dụng mọi tinh hoa võ
học trong nước, đồng thời, chế biến để hóa giải và khắc thế các
tinh hoa võ học nước ngoài. Xưa chống lại giáo dài, nay chống lại
lưỡi lê. Xưa tay không chống với đoản đao, nay chống với dao găm
(nhỏ hơn đoản đao) và các súng Colt. Xưa chú trọng đến đấu sức,
nay chú trọng đến cả đấu mưu, đấu trí. Xưa, trọng nhiều về nội công,
nay nghiêng về kỹ thuật, với cả những phương pháp té không đau,
quăng quật và sự đối phó thông thường khi đối phương bất ngờ sử
dụng võ khí hay xe cộ đâm phải. Xưa, có thể nặng tay đánh chết một
kẻ gian ác, nhưng nay chỉ cần khóa tay hay đánh gục, để phần lại
cho pháp luật liệu lý v.v…
Rõ rệt là mỗi thời đại, có một nhu cầu riêng về võ
họ. Nền võ thuật cần phải được hệ thống hóa và hiện đại hóa, mới
có giá trị thực dụng trong đời sống.
VÕ HỌC TRUYỀN THỐNG PHẢI ĐƯỢC TỔNG HỢP VÀ THÁI DỤNG
Võ học Vịet Nam có những đặc thù truyền thống để
tồn tại, tiềm ẩn dưới hình thức ôn hòa bình thường và sự nhu giả
tạo. Nhưng đặc thù ấy được xuất phát từ tính tình, nếp sống, tập
quán lâu đời, đã trở thành truyền thống của người Việt trước mọi
cảnh huống và tình huống lịch sử.
Triệu Quang Phục, Mai Hắc Đế, Bổ Cái Đại Vương, Triệu
Trinh Nương, Trưng Nữ Vương, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung
v.v … đều hiểu rõ nguyên lý “dĩ nhu chế cương” và “cương nhu phối
triển” và nhất là “đà” (elan) của võ học: muốn đánh trúng, đánh
mạnh, đánh gục, phải lùi lại để lấy “đà”. Thế nước yếu, muốn đánh
ngã đối thủ, trước hết phải lùi lại đã mới có “đà” tấn công.
Phải đánh vào chỗ địch yếu, tránh chỗ địch mạnh:
Lê Lợi 6 năm đầu tiên không nắm vững được nguyên lý đó, cứ ngày
đêm rèn quân để đánh vào chỗ địch mạnh nên thất bại, 5 năm sau,
nhờ chiến lược Nguyễn Trãi, đánh vào chỗ địch yếu, nên đã thành
công. Quang Trung muốn đánh tan địch bằng một trận tổng phản công
quyết định, phải cho địch những cơ hội đánh thắng vài trận nhỏ,
rồi mới ra quân đánh trận quyết định tối hậu năm Kỷ Dậu 1789.
Chiến pháp của Trần Hưng Đạo: dĩ nhiên nhu chế cương,
dĩ đoản chế trường. Mông Cổ giỏi đánh ngựa và bắn tên, đánh trên
rừng và trên sông, hai ưu điểm trở nên vô dụng.
Chiến pháp của Lý Thường Kiệt: đánh thốc vào nội
địa địch, nhưng phải dùng tâm lý chiến để yểm trợ ( bài xích tân
pháp Vương An Thạch làm dân Tàu khổ). Tới khi Tôn Đản vào Khâm Châu
giết hết quân dân địch trong thành, là phải rút ngay vì chính nghĩa
mất. Địch đem quân trả thù, ông chỉ dàn quân đánh trận nhỏ, vì biết
rồi địch bị kệ về tiếp vận, thủy thổ không hợp nên ốm đau nhiều,
phải rút. Rút cũng không đuổi, vì thắng thế là đủ rồi, không thể
làm xót: nước nhỏ dân ít, không thể đánh gục hẳn Trung Hoa.
Lê Lợi gạt nước mắt mà làm lại, làm lại mãi: vợ con
bị giết, bao lần ra quân bị tiêu diệt để lại phải tổ chức lại, tổ
chức lại mãi. Và cuối cùng, ông đã lật ngược được tình thế, chuyển
bại thành thắng, nhờ đức tính nhẫn nhục, kinh nghiệm chiến trường
và sự thay đổi chiến pháp.
Quang Trung khác hơn, ông biết dân chúng Bắc Hà còn
hướng về nhà Lê không phục ông, nên phải thua nhỏ để thắng lớn bằng
chiến pháp tốc chiến tốc quyết.
Truyền thống võ học Việt Nam là vậy. Chúng ta nên
tách rời cương nhu, công thủ ra thành nhiều môn phái hay kết hợp
lại? Dĩ nhiên, phải kết hợp lại theo tinh thần truyền thống Việt
Nam. Hồ Quý Ly, nhà Hậu Trần thất bại, nhưng Lê Lợi phải thành công,
vì dùng “cương”, dùng “công” không thắng được thì phải dùng “nhu”,
dùng “thủ tiên công”.
Đó chính là những kinh nghiệm lịch sử quý báu để
chúng ta áp dụng định luật “cương nhu phối triển” cho võ đạo Việt
Nam, bằng sự tổng hợp và thái dụng tinh hoa võ học truyền thống
dân tộc: không thể thuần nhu hay thuần cương.
QUAN NIỆM HÀNH VÕ PHẢI
THÍCH DỤNG
Thời xưa, việc cai trị hoàn toàn trông cậy vào đức
độ và tài năng của giới chức cầm quyền, chớ không có hiến pháp và
luật pháp như chúng ta ngày nay. Nhà cầm quyền thương dân, liêm
khiết, dân được hưởng phúc lợi. Bằng ngược lại, người dân “thấp
cổ bé miệng” đành cắn răng chịu đựng bất công, nếu không muốn nổi
lên chống lại.
Do đó, càng bị áp bức, bóc lột, đối xử bất công,
người dân càng mơ ước được giải thóat do những phép mầu mang lại.
Phép mầu của thần thánh đã đành nhưng còn những phép mầu khác, thực
tế hơn đó là những vị hiệp sĩ có bản lãnh võ thuật cao, đột nhiên
xuất hiện như những vị thiên thần để giúp đỡ họ chống bất công.
Tại Việt Nam, những huyền thọai về Đoàn Thượng, Chàng Lai… đã trở
thành truyện tích. Nguyễn Hữu Cầu, xuất thân cũng là một hiệp sĩ
chống bất công được dân chúng hâm mộ và tin theo. Rồi ông mưu loạn
lớn để chống triều đình, nên đã đi vào con đường phản tặc. Ba anh
em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cũng xuất thân là những hiệp
sĩ, diệt trừ tham quan ô lai, tay chân của quyền thần Trương Phúc
Loan, nên được dân tin theo mà dựng nên đế nghiệp một thời. Cặp
“uyên ương song kiếm” Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân cùng xuất thân
từ một sư môn, hành hiệp nổi tiếng một thời rồi trở thành lương
tướng của nhà Tây Sơn.
Ngày xưa thì được: anh hùng cá nhân, giang hồ hành
hiệp, giúp đỡ người nghèo thanh trừng bất công- vì đó là xã hội
nông nhiệp chân chất của một thời phong kiến đã qua, xã hội không
có luật pháp rõ rệt, nên rất cần những người hùng đơn độc xuất hiện
như những vị phúc thần, giúp dân trừ bạo.
Nhưng ngày nay thì không: xã hội đã có tổ chức, thể
chế, pháp luật rõ rệt. Không thể ban ngày nại cớ “vì dân trừ bạo”
mà phi thân lên nóc nhà, rỡ ngói ra đột nhập gia cư bất hợp pháp.
Đâu đó đã có luật pháp. Có thể tranh chấp, chống đối một người một
nhóm người, một tổ chức, nhưng phải trong vòng hiến định và luật
định.
Bởi lẽ đó, ngườI hiệp sĩ thời nay không thể là một
hiệp sĩ sống và làm việc đơn độc theo lối sống “người hùng cô độc”
hoặc ở ẩn nơi non cao rừng thẳm vài năm mới vân du hành hiệp một
lần. Anh ta phải tôn trọng pháp luật và sống trong vòng pháp luật
chớ không thể tự tách rời ra khỏi cộng đồng dù với bất cứ danh nghĩa
nào. Muốn chống bất công, giúp ích và hiển ích mọi người chung quanh,
anh ta phải hội nhập vào một đòan thể hay một thế lực có chủ thuyết
đường lối, quy chế, cơ cầu, tổ chức quy mô, và phải khép mình trong
kỷ luật của đòan thể, hay thể lực ấy để cùng trù liệu chương trình
làm việc chung. Mục đích vẫn thế, nhưng phương pháp và phương tiện
hành hiệp phải đổi thay.
VÀ PHẢI VƯỢT LÊN MỌI
ĐỊNH KIẾN, THÀNH KIẾN VỀ ĐỊA PHƯƠNG, MÔN PHÁI, QUỐC GIA, TÔN GIÁO…
Và trước khi giúp tiền, hiến ích mọi người, người
hiệp sĩ thời đại chúng ta phải tự tiến trước đã. Phải làm gì để
tự tiến? Truớc hết, anh ta phải tự kiểm. Tự kiểm để làm gì? Tự kiểm
để thêm tốt bỏ xấu, nói chung là cánh mạng tâm thân theo chiều hướng
tốt.
Anh hiệp sĩ thời nay kia chính lạ hình bóng của người
môn sinh Việt Võ Đạo chúng ta. Trở lại với những nhu cầu tự tiến,
trước hết chúng ta phải thay đổi ngay chính mình -- từ tâm hồn tới
thân chất.
Tại sao phải thay đổi thân chất? Và nhu cầu thân
chất của người võ đạo là phải mạnh.
Tại sao phải thay đổi tâm hồn? Vì mỗi chúng ta đều
bị ràng buộc, bị che mờ vì một số định kiến về địa phương, môn phái,
quốc gia, tôn giáo. Với những định kiến nay đã mê hoặc chúng ta,
ngăn cách chúng ta với lẽ phải, với chân lý. Nếu được khích lệ,
chúng sẽ phát triển thành những thành kiến về địa phương, môn phái
khác, quốc gia, tôn giáo. Chúng sẽ làm chúng ta ngộ nhận rằng người
địa phương này tốt hơn người địa phương khác, người của môn phái
này giỏi hơn người của môn phái khác, người nước này tốt hơn người
nước khác, người của tôn giáo này tốt hơn người của tôn giáo khác.
Ngộ nhận sẽ đưa đến kỳ thị, là đầu mối của mọi bất công. Trong lúc
sự thật khác hẳn: địa phương nào, môn phái nào, quốc gia nào, tôn
giáo nào cũng có người giỏi người dở, người tốt người xấu, và sự
lượng giá chính xác nhất phải là sự lựng tâm và sự thật -- chính
những sự kiện, dữ kiện chớ không phải trên những định lệ, ước đoán
vô căn cứ.
Là người Việt Võ Đạo, chúng ta luôn luôn phải đối
diên với lương tâm và sự thật -- đó là sứ vụ của người hiệp sĩ hiện
đại. Được như vậy, chúng ta sẽ vượt lên được những định kiến, thành
kiến để thâu góp mọi di sản tinh hoa võ thuật của ông cha, hội tụ
các phương pháp luyện tập; của các vùng lại, sắp xếp, san định thành
từng hệ thống: quyền cước riêng, vật và quăng quật riêng, khí giới
riêng cùng những công phu luyện nội ngọai công, thần công, khí công,
huyền công và ngạnh công v.v…. hầu mở rộng Việt Võ Đạo thành Nhân
Võ Đạo, khi đã biết cách hóa giải những sai khác bằng tinh tần võ
đạo.
GIÁ TRỊ HÀNH VÕ THẬT
SỰ CỦA CÁC MÔN PHÁI NỔI DANH
Võ đạo Trung Quốc
Võ đạo Trung Quốc thường lấy phái Thiếu Lâm làm “võ lâm Bắc Đẩu”.
Việc này cũng lắm chuyện thật bất ngờ.
Chuyện bất ngờ thứ nhất là, Đạt Ma sư tổ không phải
là người Trung Quốc. Ngài gốc từ Ấn Độ, môn đệ của sư tổ Bát Nhã
Ba La, vị sư tổ Thiền Tông đời thứ 27, Ngài sang Trung Quốc, chỉ
với mục đích truyền bá Thiền Tông, bằng cách tìm một địa điểm biệt
tịch để thâu nhận và giáo hóa môn đệ.
Chuyện bất ngờ thứ hai là, trên đường hành đà, ngài
gặp một tục gia đệ tử có khí lượng khá là Triệu Khuông Dẫn. Biết
Triệu quân có khí độ quân vương, Ngài truyền cho bài “Hồng quyền”
gồm 32 thế chính, khai triển tứ thành 128 thế biến. Nhờ đó, họ Trịêu
dương danh thiên hạ, và sau khi lên ngôi Tống Thái Tổ, bài “Hồng
quyền” được chuyển danh là “Thái Tổ Quyền”. Tống Thái Tổ cũng tri
ân tình sư đệ, đích thân tới thăm sư phụ sau khi thành công. Và
xuất tiền ra xây lại ngôi chùa cheo họa đồ của tổ sư vẽ sẵn.
Điểm bất ngờ thứ ba là, tục gia đệ tử của Đạt Ma
sư tổ đông hơn xuất gia đệ tử, nên môn phái Thiếu Lâm thành hình
và hành võ theo các nghiệp vụ của tục gia đương thời: dạy võ, bảo
tiêu, bán thuốc dạo, đóng tuồng, binh nghiệp v.v… yểm trợ cho việc
quảng bá Thiền Tông bại khắp Trung Quốc và các nước lân bang, kể
cả Việt Nam.
Điểm bất ngờ thứ tư, “Hồng quyền” và “Mai Hoa quyền”
nổi tiếng hơn hẳn phương pháp thiền tọa “kiết già phu tọa” (Karua
Yoga) của Yoga, được gọi là “Dịch Cân Pháp” hay “Dịch Cân Kinh”
giúp ích rất nhiều cho việc thiền định, tĩnh tọa và diện bích tư
tưởng.
Rõ rệt là võ học Thiếu Lâm chỉ là một phương tiện
hoằng dương Thiền đạo, vì đó mới là chủ điểm của Đạt Ma sư tổ Thiền
đạo tại Trung Quốc. Các thành tích hành võ khác của tục gia đệ tử,
kể cả Triệu Khuông Dẫn, chỉ là thứ yếu.
Kế đó, là môn phái Võ Đang của đạo sĩ Trương Quân
Bảo, cũng gọi là Trương Tam Phong (Tâm Phong: ba ngọn núi), một
vị xuất đồ của Thiếu Lâm phái. Cũng nặng về tu hành (theo Lão giáo),
vị sáng tổ Võ Đang cũng tổ chức môn phái tương tự như Đạt Ma sư
tổ. “Thái Cực quyền” được phổ biến rộng, nhờ sự phổ biến rộng rãi
Đạo giáo, Loạn Hồng Tú Toàn – Thái Bình Thiên Quốc -- và giặc Cờ
Đen v.v… đều xiển dương thành tích này. Hiện nay, Thái Cực quyền
của môn phái Võ Đang cũng vẫn được dạy trong chương trình giáo dục
của Đài Loan.
Võ đạo Trung Quốc do đó, thiếu hẳn giá trị võ đạo
thuần túy mà chỉ còn là một ngành sinh họat yểm trợ, lệ thuộc vào
sự phát huy tôn giáo, hoặc hội nhập vào chính trị để trở thành một
công cụ đấu tranh chính trị.
Võ đạo Nhật Bản
Võ đạo Nhật Bản, gốc từ Nhật Võ Đạo (Bushido), chịu ảnh hưởng mạnh
của Thần giáo; và sau đó, được bồi dưỡng thêm bằng tư tưởng Phật
giáo.
Khác với võ đạo Trung Quốc nặng về xuất thể và cố
giữ vị thế độc lập với chính trị, võ đạo Nhận Bản có truyền thống
hội nhập ngay vào sinh họat chính trị, để trở thành một giai cấp
xã hội: giai cấp võ sĩ đạo (samurai). Đây là một giai cấp đặc biệt,
chỉ Nhật Bản mới có. NgườI võ sĩ đạo Nhật Bản được huấn luyện ngay
từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và võ khí rất lành nghề,
và tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng
trong bộ luật “Nhật Võ Đạo”, trong đó có 6 đức tính chính và 3 đức
tính phụ. Năm đức tính chính là: sự ngay thẳng tức đức công bằng,
đức can đảm, đức nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm. Ba đức tính
phụ là đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc.
Rõ rệt là người võ sĩ đạo Nhật Bản được huấn luyện
để trung thành với chủ: một vị lãnh chúa, một vị tướng quân, hay
một vị chủ nhân trọng nghĩa. Bushi -- tiếng Nhật có nghĩa là nghĩa
hiệp -- không giống với nghĩa thông thường, mà chỉ có nghĩa là quên
mình để nghĩ tới tha nhân -- tức chủ nhân. Truyền thống này đã tạo
cho người võ sĩ đạo Nhật Bản có nếp sống thật đặc biệt: vâng lời
tuyệt đối minh chủ của mình, suốt đời không đổi chí. Đặc biệt hơn
nữa là nước Nhật có những “Tự sát viện” (Seppuku, Rappuku hay Hara-kiri)
dành cho những người có tội tới đền tội bằng cách mổ bụng ngã sấp
xuống.
Ta thấy tinh thần Nhật Võ Đạo gần như lệ thuộc vào
chính trị bằng động cơ tôn giáo. Người võ sĩ đạo Nhật do đó, ít
sáng kiến và ý chí tự cường, nhưng ngược lại, giàu can đảm và kỷ
luật, rất cần cho sự điều hành tập thể.
Võ đạo Triều Tiên
Võ đạo Triều Tiên nằm giữa thông lộ Trung Hoa - Nhật Bản, nên ảnh
hưởng rất nhiều ở cả hai nền võ đạo đặc biệt này. Tuy nhiên, không
phải vì thế mà người Triều Tiên bỏ quên dân tộc tính. Họ quen sống
trên sa mạc tuyết ít nguồn lợi, luôn luôn phải đối địch với đối
nhân và đối vật để dành nhu cầu sống, nên rất thực tế. Đánh trên
tuyết cần ra đòn mạnh, khai triển tất cả những ưu điểm của thân
mình: Túc Quyền Đạo (Tae Kwon Do). Túc Quyền Đạo, đúng như tên của
nó, không cần nói nhiều, mà chỉ cần “đá” nhanh, đấm lẹ, để sống
còn trên đất tuyết.
Do đó, chúng ta không lạ khi thấy người Triều Tiên
thiện dụng cặp chân dài tối đa trên mặt tuyết. Chúng ta cũng không
lạ khi thấy người Triều Tiên thường lầm lì ít nói cũng như Túc Quyền
Đạo rất nhẹ về lý thuyết võ đạo. Và chúng ta cũng không lạ khi thấy
người Triều Tiên nhìn bên ngoài có vẻ ngây ngô, cũng như khi xử
thế có phần kém tế nhị và hay dùng bạo lưc. Đó là truyền thống võ
đạo đặc biệt của Triều Tiên.
Tinh Thần Hiệp Mã Thượng Phương Tây
Ngòai các môn phái võ thuật, võ đạo phương Đông, chúng ta còn có
thể đề cập đến tinh thần hiệp mã thượng (chevalerie) phương Tây,
một tinh thần võ đạo đặc biệt phản ánh nếp sống phong kiến, trưởng
giả của giai cấp quý tộc phương Tây thời Trung cổ.
Tinh thần hiệp mã thượng biểu dương tinh thần “chính
nhân” chú trọng tới các nghi thức xứ thể qúy tộc hơn là thực trạng
xã hội. Người chính nhân ăn mặc sang trọng, kiểu cách, nói năng
mực thước, nhưng không cần thiết lắm tới đức tính tháo vát và lòng
nhân đạo. Do đó, ta thấy người quân tử Tàu có thể chết vì bênh yếu
chống mạnh, nhưng ta không thể thấy người chính nhân phương Tây
làm những công việc tương tự.
Người hiệp mã thượng phương Tây chịu ảnh hưởng sâu
đậm ở quan niệm này, nên sự hành võ của họ nặng phần trình diễn
hơn là phần thực dụng: lưỡi gươm to bản sáng ngời, bô áo giáp bóng
loáng nặng nề, con ngựa thật đẹp, đóng yên cương quá chắc, cây dáo
thật to và thật dài nhọn, cồng kềnh. Tất cả, chỉ để sử dụng trong
những trường hợp song đấu, trình diễn ở đầu trường hơn là ở chiến
trường. Ngoài ra, người hiệp mã thượng còn được ưu đãi quá đặc biệt:
nhà cao, cửa rộng, xe ngưa, gia nhân v.v…. nên không hề biết tới
thực trạng của một xã hội nhiều bất công, khổ cực. Cuối cùng chính
trị xen vài nội bộ của họ, để họ giết nhau và cùng bị tiêu diệt.
GIÁ TRỊ NHÂN BẢN CỦA
VIỆT VÕ ĐẠO
Khác với những môn phái võ đạo nhân chịu nhiều ảnh
hưởng của tôn giáo và chính trị, hoặc đôi khi, trở thành ngay chính
công cụ hoặc phương tiện hành giáo hoặc hành chính, Việt Võ Đạo
vẫn giữ vững truyền thống độc lập đặc biệt của mình với truyền thống
tổng hợp võ học Việt Nam và truyền thống này được tiếp diễn trong
các thời đại tiền Việt Võ Đạo liên tục qua các thời đại lịch sử.
Đôi khi, tôn giáo cũng đem lại nhiều ảnh hưởng với võ đạo, nhưng
thường hòa hợp vớI võ đạo để trở thành một sức mạnh chung đối phó
với cường xâm ngoại nhập. Do đó, các bậc danh tướng, lương thần
thường lui về ở ẩn lúc công thành danh toại, với một cuộc sống vừa
tiêu diêu, vừa nhiệm thể bằng cách vẫn can dự vào việc làng xã,
khi được hỏi ý kiến.
SỨ VỤ VIỆT VÕ ĐẠO TRONG
HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI
Dạy cho người biết võ rồi hướng dẫn họ phải làm gì
lợi ích cho mình và cho người là võ đạo. Còn có Đạo sẵn rồi mới
học võ để bảo vệ và phát huy Đạo, thì chỉ là dùng võ để làm phương
tiện, làm công cụ, chứ không phải “làm võ đạo”.
Việt Võ Đạo đi theo con đường võ đạo độc lập và thuần
túy, nhất thiết từ chối mọi chi phối, đồng hóa của tôn giáo và chính
trị. Do đó, Việt Võ Đạo đang phát triển để trở thành võ đạo của
võ đạo, tức võ đạo thuần nhất của con người.
Các võ sư, HLV Việt Võ Đạo cần ý hội sứ vụ này trong
tương lai quảng phát võ đạo vào cộng đồng nhân loại, bằng cách phát
huy song song tinh thần võ đạo và kỹ thuật võ học.
Tinh thần võ đạo đó phảI được thể hiện bằng nếp sống,
tình cảm, cách ăn ở, đối đãi với tha nhân sao cho mọi người hiểu
và kính mình trước khi đến thụ giáo.
Chúng ta phải truyền thống ấn tượng tốt vào cảm quan
của đối tượng về một tinh thần võ đạo thật sự không biên giới quốc
gia, giai cấp, tôn giáo. Trường hợp đãi ngộ ưu tiên cho những người
bằng cấp lớn vào địa vị cao trong Việt Võ Đạo chỉ là sự đáp ứng
những tiêu chuẩn tiếp thụ tinh thần võ đạo, chớ không phải vì tiêu
chuẩn bằng cấp độc tôn hay tiên quyết.
Kỹ thuật cần tinh tiến, đổi mới, võ đạo càng lâu
đời càng có truyền thống, càng được tôn quý. Việt Võ Đạo là kết
tinh của tinh thần và kỹ thuật chiến đấu để giữ nước, dựng nước
và mở nước của dân tộc Việt có từ thời lập quốc.
Võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc là người đầu tiên có công
thâu thập kho tàng võ học phong phú của dân tộc ẩn náu ở nhiều vùng
với nhiều phương pháp huấn luyện độc đáo, đặc dị, san định, và bổ
túc phần phân thể thất truyền, rồI hệ thống hóa và hiện đại hóa
thành Vovinam Việt Võ Đạo.
Giá trị nhân bản ưu việt của Việt Võ Đạo là ở chỗ:
từ ái, hòa giải, kếp hợp, bao dung và bình đẳng với mọi người, không
phân biệt hoặc kỳ thị địa phương, quốc gia, giai cấp, tôn giáo hay
chính kiến.
http://www.vovinam.ws
|