Võ
Học Bình Định
Ðào Ðức Chương
Mảng vui Hương Thủy, Ngự Bình
Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô
Chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng Bình định không đồng khô cỏ cháy
Ba dòng sông chảy
Bảy dãy non cao
Biển Ðông sóng vỗ dạt dào
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh...
Câu ca dao trên là bức tranh phác họa miền Ðất Võ,
xứ Bình định. Ðó là miền đất cách Kinh thành Huế 407 cây số về phía
đông nam, có ba mặt núi non hiểm trở. Phía tây dựa lưng vào dãy
Trường sơn trùng điệp, phải qua đèo An khê dốc đứng, vượt sông Ba
rồi lên đèo Măng giang mới tới được vùng Tây nguyên. Phía bắc có
dãy Thạch tấn nối từ Trường sơn ra tận biển, ngăn cách hai tỉnh
Quảng ngãi và Bình định, chỉ còn thông nhau qua đèo Bình đê. Phía
nam có dãy Nam sơn, còn gọi là núi Bình san, với các ngọn như hòn
Oâng, hòn Bà (cao 1100 mét), hòn Am, hòn An tượng, ngăn cách Bình
định và Phú yên. Muốn vào nam phải vượt đèo Cù mông. Phía đông giáp
biển, trải dài 100 cây số. Bờ biển lại gập ghềnh, lồi lõm với nhiều
cửa như Thiện chánh, Cà công, Hà ra, Phú thứ, Ðề gi, Thị nại.
Bình định có hai con sông lớn chắn ngang. phía bắc
là sông Lại giang, còn gọi là Lại dương, bắt nguồn từ hai vùng núi
An lão và Kim sơn, đổ ra biển qua cửa An giũ. Phía nam cũng có một
sông tương xứng: sông Côn, chia làm ba nhánh chảy vào đầm Thị nại.
Ngoài ba dãy núi và hai sông chính, Bình định còn
nhiều nhánh núi tẻ ra từ dãy Trường sơn và có sông La tinh nằm vắt
ngang giữa tỉnh. Núi, sông xen kẽ với đồng bằng, tạo cho miền này
một địa hình phức tạp.
Các nhà phong thổ học nhìn cuộc đất Bình định như
một cái ngai vàng khổng lồ. Tay vịn phía tả là dãy Thạch tấn. Tay
vịn phía hữu là dãy Nam sơn. Lưng dựa là dãy Trường sơn, mặt quay
về hướng đông lồng lộng trời cao biển cả. Rải rác đó đây là những
ngọn tháp Chàm còn sót lại. Ơû huyện Phù cát có tháp Phúc Lộc tục
gọi là Phốc Lốc. An nhơn có tháp Cánh Tiên. Tuy phước có chùm tháp
Bánh Ít, tháp Thanh trúc ở Bỉnh lâm, tháp Long triều ở Xuân mỹ.
Qui nhơn có tháp Ðôi. Bình khê có tháp Thủ thiện và chùm tháp Dương
long. Những tháp cổ cao vút lên nền trời, trông như những cây bút
khổng lồ "ghi tiếng anh hào vào mây xanh".
Với bốn mặt núi sông biển vây phủ, lại thêm thiên
tai bão lụt thường xuyên, người dân miền này muốn sinh tồn phải
cần thích ứng với miền đất hiểm trở, đầy bất trắc. Ðấy là nhân tố
để cho võ nghệ Bình định nẩy nở. Rồi ngành dệt phát triển, nghề
chạm cẩn tinh vi, lại có những đặc sản như bánh tráng, bún Song
Thằng, nón Gò Găng, gốm Chợ Gồm, ngói Phú phong... Hải sản Bình
định thì quá dư dả, cần phải thông ra ngoài, tìm thị trường tiêu
thụ hoặc trao đổi:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên
(Ca dao)
Thời trước buôn bán với "nậu nguồn" là
quan trọng hơn cả. Lượt lên mang cá khô, mắm, muối. Chuyến về chở
măng le, trầu nguồn, rễ nài. Vốn một lời mười. Tổ phụ của Nguyễn
Nhạc là Hồ Lang, chuyên nghề buôn bán trầu nguồn. Ðến thời Hồ Phi
Phúc, rồi Nguyễn Nhạc cũng nối nghiệp cha ông. Số người buôn bán
hàng chuyến rất đông. Chở hàng ra Quảng, vào Nam, lên Tây nguyên
đều có cả. Vì vậy võ nghệ cần được phổ biến và phát huy để hộ tống
hàng hoá vượt đèo, qua sông, vừa chống chỏi với mãnh thú, vừa đề
phòng nạn trộm cướp dọc đường hoặc ngay tại nhà. Không những đàn
ông mà ngay cả đàn bà, trẻ con cũng phải học võ hộ thân và bảo vệ
tài sản, đã trở thành một truyền thống:
Ai về Bình định mà coi
Con gái Bình định múa roi, đi quyền
(Ca dao)
Tuy vậy, dòng chảy của Võ học Bình định cũng có những
thăng trầm, qua các giai đoạn sau đây:
THỜI KỲ MỞ MANG (1470-1558)
Năm Canh Thìn (1470), Hồng Ðức nguyên niên, vua Chiêm
là Trà Toàn đem quân đánh phá đất Hóa châu, và sai người sang Tàu
cầu viện nhà Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm quân, đem đại binh 20
vạn quân đánh Chiêm thành, phá được kinh đô là thành Ðồ Bàn (Vijara)
và chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ đấy, miền nầy được sát nhập vào
đạo Quảng nam, đặt tên là phủ Hoài nhơn gồm ba huyện là Bồng sơn,
Phù ly và Tuy viễn.
Dân các tỉnh Bắc kỳ, nhất là người Hà đông và các
tỉnh miền bắc Trung phần vào đây lập nghiệp. Họ đến lắp vào chỗ
trống vì có một số người Chiêm thành đã rút về phía nam.
Ðể sinh tồn, họ góp nhóp vốn liếng võ nghệ của cố
hương, pha trộn với các thế võ của người Chiêm, của dã thú, của
gà đá... rồi sửa đổi, sàng lọc, ứng chế cho hoàn toàn thích hợp
với hoàn cảnh, địa thế của quê hương mới. Ðầu tiên, hai thế võ được
thông dụng là lối đánh bằng tay chân gọi là quyền và lối đánh bằng
cây gọi là roi. Họ dùng khúc cây vừa làm đòn gánh vừa là vũ khí
hộ thân. Gánh, có thể chịu sức nặng gấp ba lần trọng lượng của mang
xách mà vẫn đi được xa. Ðòn gánh làm bằng gốc tre già, vừa chắc
vừa dẻo, tiện cả hai mặt: gánh thì êm vì đòn nhún theo nhịp đi;
đánh lại bền vì cây roi không bị gãy hay giập bể. Ðó là những năm
tháng dài, hình thành một nền võ thuật mới mẻ, độc đáo, được cả
nước quen gọi là võ Bình định.
THỜI KỲ PHÁT TRIỂN (1558-1771)
Từ cuối năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào trấn
thủ Thuận hoá, lập nên xứ Nam Hà, cho đến năm Tân Mão (1771) Tây
Sơn khởi nghĩa. Trong ngót hai thế kỷ, võ Bình định đã tiến một
bước dài, phát triển đầy đủ các môn binh khí và đi vào nề nếp. Sự
kiện chàng Lía xảy ra trong thời kỳ này còn lưu lại một bài vè dài
1336 câu, chia làm 6 đoạn, đã phản ánh phần nào tình trạng võ nghệ
ở Bình định lúc bấy giờ.
Kết hợp nội dung bài vè và lời truyền tụng của dân
chúng về cuộc đời của Liá, nhân vật tiếng tăm ấy có tên thật là
Võ văn Ðoan, nhưng người đời quen gọi thân mật là chú Lía, quê nội
ở huyện Phù ly nay là Phù mỹ, cha mất sớm, Lía theo mẹ về quê ngoại
tại làng Phú lạc, tổng Thời hòa, huyện Tuy viễn, sau là thôn Phú
lạc, xã Bình thành, quận Bình khê (nay đổi huyện Tây Sơn). Nhà nghèo,
mẹ thường đau yếu, Liá lại còn nhỏ không làm ra tiền để nuôi mẹ.
Nhiều lần Lía đến các nhà phú hộ xin bát cơm thừa
hay xin được họ thuê mướn, nhưng bị từ chối và còn bị mắng nhiếc
thậm tệ. Lía tự nhủ: "Dốc lòng cố giữ lòng thành, Mà trời chẳng
giúp phải đành lòng tham" (vè chú Lía) nhỏ nhặt sắn khoai để
cứu sống mẹ qua cơn ngặt nghèo.
Một hôm, Lía vào trộm gà vịt của một nhà phú hộ,
bị bắt qủa tang, họ trói và đánh đập tàn nhẫn trước khi giải cho
hương chức để chịu một trận đòn thừa chết thiếu sống khác. Từ đấy
Lía nuôi trong lòng mối hận thù kẻ giàu có và bọn cường hào ác bá.
Có một hương sư, thương cho tình cảnh của Lía, bèn
mướn chăn trâu. Ngày ngày Lía thả trâu ăn cỏ trên các sườn đồi.
Nhân có các võ sư thường đem môn sinh đến mé núi dạy võ, Lía ghé
mắt học lóm và tiếp thu rất nhanh, thấy đâu nhớ đó. Nhờ có sức mạnh
phi thường, thêm năng khiếu về võ nghệ, lại thông minh sáng tạo,
một hôm thấy con cá lóc nhảy từ dưới thấp lên ruộng cao, Lía học
được ngay:
Lía ta thấy vậy tức cười
Khen con cá lóc vô hồi tài ba
Chớ chi cá lóc dạy ta
Học theo miếng đó, thiệt là mang ơn
và chịu khó tập luyện thành thạo:
Nhảy cao như Lía thiệt tài
Nóc nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường
Từ ấy bọn chăn trâu trong vùng tôn Lía làm "vua",
chỉ có thằng Mướp không chịu phục, muốn đấu võ với Lía, ai thắng
mới chính thức lên ngôi vị:
Mướp ta cầm một khúc cây
Ðánh nam đỡ bắc múa may loạn trào
Nhưng hắn không đủ sức chống đỡ ngọn roi khốc liệt
Ðường côn toàn vẹn trăm bề
Múa lên giông tố tiếng nghe vù vù
nên Lía đã lỡ tay đập vỡ đầu thằng Mướp chết ngay
tại chỗ.
Lía hoảng sợ, bỏ vào rừng trốn biệt. Bọn lục lâm
từng nghe danh Lía, bèn mời về sơn trại. Sau đó Lía cầm đầu một
đảng cướp nổi tiếng. Nhưng Lía chỉ đánh cướp những nhà giàu có mà
gian ác hay những nhà của bọn tham quan ô lại. Nếu chủ nhà biết
điều, nộp tiền của và không chống cự, Lía chỉ lấy hai phần ba của
cải, một phần để lại cho chủ.
Tài sản cướp được, Lía đem về sơn trại một nửa, nửa
kia phân phát cho dân nghèo trong vùng. Lía cấm đàn em không được
sách nhiễu dân chúng, cấm chận đường cướp giật bừa bãi hoặc thu
tiền mãi lộ. Ðối với bọn cường hào có thành tích hà hiếp dân đen,
Lía cho thủ hạ trừng trị làm gương. Nhờ thế tuy là tướng cướp, Lía
vẫn được dân chúng ủng hộ và che giấu. Chính quyền địa phương tuy
tốn nhiều thì giờ và công sức mà vẫn không dẹp được đảng cướp của
Lía. Các nhà giàu trong tỉnh lo sợ, bèn mướn võ sư canh giữ tài
sản và tập luyện võ nghệ cho gia nhân, tạo cho tỉnh nhà một số đông
người rành võ nghệ và gây thành phong trào học võ.
Nhưng rồi Lía cũng chán đời thảo khấu, nhất là biết
được mẹ già qua đời vì buồn phiền về Lía, Lía buồn bã giã từ sơn
trại ở vùng Phú phong huyện Bình khê, đi về mạn bắc định tìm đến
một nơi xa lạ, sống đời lương thiện. Thế nhưng, việc võ nghệ là
nghiệp chướng đeo đuổi mãi. Trên đường ra Quảng ngãi, Lía phải qua
Truông Mây dài độ vài cây số, hai bên mây rừng bao phủ dày đặc.
Truông Mây, còn gọi là Hóc Sấu, nằm trên hai thôn, đầu bắc là Phú
thuận, đầu nam là Vĩnh hòa, thuộc Tổng Hạ, huyện Bồng sơn phủ Hoài
nhơn (còn có tên là phủ Qui nhơn và Qui ninh), nay thuộc xã Aân
đức, huyện Hoài ân, tỉnh Bình định.
Ðịa thế Truông Mây rất hiểm trở, phía đông và đông
nam gặp nhánh sông Kim sơn chảy từ nam ra bắc, quanh năm nước xanh
lè như màu lá, phía tây núi non trùng điệp và có hòn Núi Một tách
ra, sừng sững như chiếc bình phong. Nơi đây Lía bị một bọn cướp
chặn đường nên phải ra tay. Hàng chục tên cướp ngã gục. Chúng hoảng
sợ, vội phi báo với chủ trại là cha Hồ và chú Nhẫn. Lại một phen
Lía phải tỉ thí với hai tên đầu sỏ toán cướp:
Cự đương một đánh với hai
Tả xung hữu đột bụi bay mù trời
Gặp ngọn roi thần của Lía, bọn chúng phải bái phục:
Lía càng sung sức hoành hành
Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh đuối rồi
Và rước về sơn trại rồi nhường chức thủ lãnh cho
Lía.
Trong thời kỳ này đã có những cao thủ thuộc giới nữ lưu:
Mụ Mân khoảng độ bốn hai
Làu thông võ nghệ ít ai sánh bì
Ðến nỗi trình độ võ như cha Hồ chú Nhẫn hiệp sức
lại vẫn không thắng nổi:
Phút thôi Hồ, Nhẫn cả hai
Ðuối tay kéo chạy như bay khác nào
Nhưng khi gặp đường roi của Lía, mụ Mân không thể
áp đảo được:
Lía ta bình tĩnh đối đang
Mụ Mân tuy giỏi khó toan vẫy vùng
Rồi Lía dùng độc chiêu để hạ địch thủ:
Cầm chừng mụ đánh một hồi
Lía gạt đao gãy, đá bồi một chân
Và cũng từ ngày được tôn làm chủ soái Truông Mây,
Lía đã ra lệnh cho thủ hạ phải triệt để áp dụng tôn chỉ của mình.
Truông Mây không còn là chỗ cướp bóc bừa bãi khách bộ hành nữa mà
trái lại còn bảo vệ người qua đường khỏi bị ác thú hãm hại. Nhờ
vậy đảng cướp được dân chúng có cảm tình, được nhiều người gia nhập
và tiếng đồn về Lía vang dội khắp vùng:
Lía ta nổi tiếng anh hào
Sơn hà một góc thiếu nào người hay
Bạc tiền thừa đủ một hai
Chiêu binh mãi mã càng ngày càng đông
Làm cho bốn biển anh hùng
Mến danh đều tới phục tùng chân tay
Mục tiêu đánh cướp của Lía nhằm vào những:
Kẻ nào tàn ác lâu nay
Lía sai cướp của đoạt tài chẳng dung
Nhà giàu mấy tỉnh trong vùng
Thảy đều kinh sợ vô cùng lo toan
Nhất nhì những bậc nhà quan
Nghe chàng Lía dọa kinh hoàng như điên
Nhà nào nhiều bạc dư tiền
Mà vô ân đức, Lía đều đoạt thâu
Có binh hùng tướng mạnh, Lía cho sửa sang sơn trại
thành đồn lũy, luyện tập đàn em thành thạo các môn quyền, roi, đao,
kiếm, siêu, thương, cung, ná...
Lía nay ở chốn sơn trung
Ngày đêm luyện tập ung dung chén nồng
Từ một đảng cướp, Lía đã tạo thành một lực lượng
vũ trang có tổ chức, biết tự túc tự cường:
Lâu la mấy vạn tụ đông
Võ rừng làm rẫy vun trồng bắp khoai
Triều đình phái một đội quân đông đảo đến đánh dẹp
Truyền cho mười vạn binh hùng
Dưới cờ đại tướng binh nhung lên đàng
Lía đã đón quan binh bằng chiến thuật bất ngờ, nhanh
như một đường roi bí hiểm:
Lâu la kén đủ năm ngàn
Thình lình cướp trại đánh ngang quân trào...
Ðại tướng thoát trận thoát nàn
Về trào chịu tội mất thành binh tan
Lần này, không thể xem thường Lía như đám giặc cỏ,
triều đình phải cử một tướng lĩnh tài ba:
Ðô đốc võ nghệ vẹn toàn
Quân binh hùng dũng chiến tràng đua tranh
Lía bèn giục ngựa ra thành
Quyết cùng đô đốc giao tranh so tài
Ðôi bên xáp chiến cả ngày
Bất phân thắng bại khen thay anh hào
Nhưng rồi Lía không làm sao giữ nổi thành trong thời
gia dài:
Tính toan thành khó giữ nào
Bởi chưng quân ít không sao chống kình
Lía ngầm muốn tính bỏ thành
Ngặt vì binh tướng trào đình phủ vây
Lía đã dùng ngón võ tuyệt vời để thoát thân:
Cơn nguy chuyển hết sức thần
Dùng miếng "cá lóc" giậm chân nhảy liền
Quân trào vây kín khắp miền
Lía vọt ra khỏi rất nên kỳ tài
Trên đây là những câu trích trong vè Chú Lía cho
thấy võ học Bình định ở thời kỳ này đã thịnh hành và đóng vai trò
then chốt trong chiến đấu.
Chàng Lía là một Robin Hood của Bình định. Triều
đình đã dẹp yên đảng cướp ở Truông Mây, nhưng tình cảm của dân chúng
đối với chú Lía mãi mãi đi vào văn học:
Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành
THỜI KỲ CỰC THỊNH (1771-1802)
Từ năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa
ở Gò Tô đất Tây sơn đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Quang Toản bị
bất ở huyện Phượng nhãn tỉnh Bắc ninh, nền võ học Bình định mở ra
một kỷ nguyên mới. Ðó là võ Tây Sơn.
Tam kiệt Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc (?-1793) anh cả,
Nguyễn Huệ (1753-1792) anh thứ, và Nguyễn Lữ (?-1788) em trai út,
người làng Kiên mỹ đất Tây sơn, sau này là thôn Kiên mỹ, xã Bình
thành, huyện Bình khê (nay đổi huyện Tây sơn).
Họ Nguyễn Tây Sơn nguyên là họ Hồ, dòng dõi Hồ Qúy
Ly. Oâng tổ bốn đời là Hồ Phi Khanh ở huyện Hưng nguyên tỉnh Nghệ
an. Năm Aát Tỵ (1655), Trịnh Nguyễn giao tranh lần thứ năm, quân
Nguyễn tấn công Nghệ an. Hồ Phi Khanh cùng một số dân chúng bị quân
Nguyễn bắt đem vào phủ Qui ninh huyện Tuy viễn để khai hoang. Oâng
đến ở làng Bằng châu (nay thuộc xã Ðập Ðá huyện An nhơn) được họ
Ðinh đỡ đầu, gây dựng. Ðời con là Hồ Lang, dời về làng Phú lạc xã
Bình thành. Ðời cháu là Hồ Phi Phúc, dời qua làng kế cận là Kiên
mỹ. Nơi đây, ba anh em Tây Sơn ra đời, trước theo họ cha, sau đổi
ra họ mẹ là họ Nguyễn.
Lúc nhỏ, anh em Tây Sơn được học chữ Hán với thầy
giáo Hiến, một bậc tài danh bất mãn vì chế độ thối nát, nạn Trương
Phúc Loan chuyên quyền, tham tàn.
Sau đó, anh em Tây sơn học võ với võ sư Ðinh Văn
[Nhưng]. Nhưng thường gọi là ông Chảng (hoặc Chẳng?), người làng
Bằng châu. Thầy võ là người bộc trực, gan dạ và ngang ngạnh nhất
vùng, chẳng hề kiêng nể bọn cầm quyền. Oâng tự phong "Chảng
chảng ngang thiên". Câu ví von của người đương thời "Ngang
quá ông Chảng" nay đã trở thành tục ngữ. Ba anh em được thầy
yêu qúy, dạy cho nhiều thế võ bí truyền. Thấy được sự lợi hại của
võ Bình định, tam kiệt Tây Sơn đã đem võ thuật vào chiến thuật trong
cuộc khởi nghĩa và phát huy võ học Bình định đến mức cực thịnh.
Trong binh đội Tây Sơn, mỗi chiến sĩ là một võ sĩ.
Sự huấn luyện quân đội, cơ bản là tập võ nghệ. Người lính phải biết
sử dụng tất cả, hoặc một số các binh khí truyền thống sau đây:
1.- Quyền: lối đánh võ bằng tay chân, còn gọi là thảo bộ. Quyền
gồm nhiều thảo bộ, chẳng hạn như : thảo bộ Phượng Hoàng, Tứ Hải,
Thiền Sư, Ngọc Trản, Thần Ðồng, Lão Mai, Ðộc Thọ...Hễ quyền giỏi
thì roi cũng giỏi. Vì vậy quyền là môn võ tối cần. Quân Tây Sơn
đã dùng chiến pháp sở trường này trong khi xung phong giáp lá cà,
thanh toán chiến trường.
2.- Roi: lối đánh võ bằng gậy, còn gọi là côn. Roi
không nên lớn quá hoặc nhỏ quá, phải vừa cỡ tay nắm người sử dụng
thì đường roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại: roi trường và roi
đoản. Roi trường là roi trận, dài khoảng 2,50 mét, đầu lớn là đốc
roi, đầu nhỏ là ngọn roi. Người sử dụng roi trường ngồi trên ngựa
và chỉ đánh một đầu. Roi đoản là roi đấu, dài "tề mi"
tức là ngang lông mày người sử dụng (chừng 1,60 mét). Roi đấu cầm
ở giữa thân roi nên có thể đánh cả hai đầu. Chẳng hạn đầu roi bổ
xuống như trời giáng khiến đối thủ lo chống đỡ , nhưng đó chỉ là
cú đánh hư. Trong lúc ấy, nhanh như chớp đốc roi thúc mạnh vào hạ
thế đối thủ, đó mới là cú đánh thực. Ngày xưa, các võ sĩ thường
vắt vai một khăn lông to và dài, gặp khi bất trắc, có thể dùng khăn
thế roi, gọi là roi nhuyễn tiên, không phải là để đánh mà để "vung
roi" che mắt đối thủ rồi xông vào hất tung binh khí.
3.- Song sĩ: hai cây gỗ cứng kẹp dọc cẳng tay, ló
ra ở hai đầu. Khi đấm hay thúc cùi chỏ thì đầu nào của song sĩ cũng
có thể ấn sâu vào cơ thể của đối thủ.
4.- Ðao: để chém và đâm. Nếu đao có lưỡi bè ra rất
lớn thì gọi là đại đao.
5.- Kiếm: gồm độc kiếm và song kiếm, lưỡi dài nhưng
không quá 1 mét.
6.- Siêu: giống như đao, nhưng cán dài. Thế võ kết
hợp giữa kiếm và roi.
7.- Thương, giáo, mác, lao đều có cán dài, dùng để
đâm, đánh và phóng.
8.- Xà mâu, đinh ba, bừa cào đều có cán dài nhưng
đầu có nhiều nhánh, đường võ chậm chạp, ít thông dụng.
9.- Lăng, khiên: tròn dẹp, có tay nắm ở tâm điểm;
dùng để che đỡ khi lâm trận.
10.- song chùy: hình cầu bầu dục, xẻ răng cưa như
cạnh khế, có cán nắm, dùng để đánh, cũng ít sử dụng.
11.- Dây xích bằng sắt dùng để quất, lợi thế như
một cây roi.
12.- Cung, ná, nỏ dùng để bắn tên khi đối thủ còn
ở xa.
Một đặc điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ đều có
bài thiệu đi kèm, tức là phần lý thuyết được diễn thành thơ có vần,
có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người học võ, phải thuộc lòng bài thiệu,
đọc đến đâu múa đến đó, lý thuyết ăn khớp với thực hành. Lối học
võ này rất tiện cho việc luyện tập nhiều người cùng một lúc, được
áp dụng trong trường huấn luyện quân đội của Tây Sơn.
Thời ấy còn sáng chế ra điệu trống trận Tây Sơn.
Người đánh, cùng một lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái, và
phải dùng thế võ côn quyền mới đánh được. Ðánh bằng dùi cả hai đầu,
gọi là roi trống, vừa đánh cả hai bàn tay, cổ tay, cùi chỏ, vai...
làm cho tiếng trống phát ra những âm thanh khác nhau, nghe rất hùng
tráng. Lúc ra trận, dùng hai trống lớn, đánh theo võ nhạc trận,
âm thanh vang xa, dồn dập, khích động.
Chiến thuật của Tây Sơn là áp đảo đối phương từ tầm
xa đến tầm gần. Xa thì có đại bác đặt trên mình voi. Khi cách mục
tiêu chừng 100 mét thì dùng súng trường. Gần thì đến lượt cung nỏ,
rồi hỏa hổ. Cuối cùng là xung phong cận chiến, dùng các thế võ để
giải quyết chiến trường theo nguyên tắc "nhất nhân địch quần
nhân".
Như vậy, đội quân Tây Sơn không cần đông mà cốt ở
tinh và dũng cảm. Binh đội gọn nhẹ, di chuyển nhanh chóng, thích
hợp với lối tác chiến thần tốc. Ðánh nhanh đánh mạnh, hư thực không
rõ, bất ngờ thọc sâu vào kẽ hở của địch quân. Chiếm mục tiêu thì
dùng tượng binh làm lá chắn, vừa là pháo đài di động cho bộ binh
tiến lên. Ðó là kỹ thuật tác chiến của Tây Sơn, ảnh hưởng bởi bản
chất con nhà võ.
Tương truyền các tướng Tây Sơn đều là những tay võ
xuất chúng. Nguyễn Huệ sở trường về roi. Nguyễn Lữ xuất sắc về côn
quyền, đã sáng chế ra Hùng Kê quyền, lấy từ các thế võ của gà đá.
Võ văn Dũng rất giỏi về đao, người đời có câu truyền tụng
Phá sơn trung tặc, dị
Thắng Văn Dũng đao, nan
(Phá được giặc trong núi thì dễ, thắng được ngọn
đao của Văn Dũng thì khó)
Ðặng văn Long (có sách chép là Mưu) lại quán thông
cả cương quyền (ngạnh công) lẫn miên quyền (nhuyễn công) với đôi
tay mạnh và cứng như sắt nên người đời thường gọi là Ðặng thiết
tí. Bùi thị Xuân thì không ai bì kịp về môn kiếm.
Tóm lại, võ Tây sơn là võ truyền thống của Bình định
đã được tập hợp và tinh luyện để đưa vào quốc phòng. Võ trở thành
chiến lược độc đáo của Tây Sơn, thời huy hoàng nhất của võ học Bình
định.
THỜI KỲ ẨN MÌNH (1802-1867)
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Aùnh dẹp nhà Tây Sơn
và lên ngôi vua, xưng đế hiệu là Gia Long. Không những nhà vua trả
thù dã man đối với Tây Sơn mà còn có cả một kế sách lâu dài, nhằm
tận diệt tất cả những gì có liên quan đến Tây Sơn. Vì vậy võ Tây
Sơn không còn được lưu hành nữa. Các nhà võ rút lui vào bóng tối,
chỉ âm thầm truyền dạy cho con cháu. Các bài thiệu cũng phải dấu
trong trí nhớ và chỉ truyền miệng trong phạm vi gia đình. Ðiệu trống
Tây Sơn im bặt trong những ngày lễ hội đông người. Thời kỳ này kéo
dài suốt các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và đầu đời Tự
Ðức. Vì thế nền võ học Tây Sơn đã bị thời gian làm mai một rất nhiều.
THỜI KỲ TRUNG HƯNG (1867-1924)
Từ khi vua Tự Ðức lên ngôi (1847), quân Pháp luôn luôn tìm cách
gây hấn với nước ta để có cớ xâm chiếm. Năm 1858, liên quân Pháp
và Tây ban nha đánh chiếm bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng. Năm 1859, thành
Gia định thất thủ. Năm 1861, mất Ðịnh tường (Mỹ tho), đảo Côn lôn
và Biên hòa. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là
Vĩnh long, An giang, Hà tiên.
Trước tình thế khẩn trương, cần tăng cường quân đội để bảo vệ những
phần đất còn lại. Ðối với Tự Ðức, đề phòng Tây Sơn không còn là
việc thiết thực nhưng họa xâm lăng của Pháp thì sờ sờ trước mắt.
Vì thế năm 1867, nhà vua cho thành lập trung tâm tuyển chọn võ quan
ngay trên miền đất võ. Ðó là trường thi Hương võ Bình định tại thôn
An thành, tổng Thời đôn, huyện Tuy viễn phủ An nhơn, nay là thôn
An thành xã Nhơn lộc huyện An nhơn và chỉ cách trường thi Hương
Văn (tại Hòa nghi, xã Nhơn hòa) vài cây số xuyên qua các thôn Trường
cửu, Quang châu dọc theo hữu ngạn nam phái sông Côn.
Vốn sẵn truyền thống yêu thích võ nghệ, nay được
nhà vua mở trường thi, tuyển chọn nhân tài, cách mạch võ ẩn tàng
hơn sáu mươi lăm năm qua, giờ đây bùng lên trổ hoa kết trái. Các
lò võ ở Bình định mọc lên như nấm. Những đêm trăng, trong sân nhà
hay trên dãy gò hoang vắng, tốp năm tốp ba, võ sinh miệt mài tập
luyện.
Rồi kinh đô thất thủ (1885), vua Hàm Nghi bôn đào
và xuống chiếu Cần vương. Võ Bình định đã góp phần vào việc chống
Pháp. Lãnh tụ phong trào Cần vương ở Bình định, anh hùng Mai Xuân
Thưởng, là một người văn võ song toàn. Trong bài Ðiếu Mai Nguyên
Súy (Mai xuân Thưởng), Nguyễn Bá Huân, một danh sĩ đương thời, đã
hết lòng khâm phục:
Ðan tâm chỉ vị cứu lương dân
Hoành sóc ngâm thi hữu kỹ nhân
Nhất phó hung khâm hoành vũ trụ
Tam niên cầm kiếm định phong trần...
Tống Phước Hổ dịch:
Lòng son chỉ muốn cứu lương dân
Vung giáo, ngâm thi mấy kẻ bằng
Một tấm lòng trung trùm vũ trụ
Ba năm đàn kiếm sạch phong trần
Dưới cờ khởi nghĩa của Mai nguyên soái, ở Bình khê
có một dòng võ mà cả ba thế hệ gồm hàng trăm võ sĩ, võ sinh đã theo
thầy đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Ðó là lò võ Lê Thượng Nghĩa,
sư tổ của Hồ Tá Quốc. Hồ Tá Quốc đã ca tụng tay kiếm lợi hại của
thầy trong việc cứu nước, qua bài tặng Lê công Thượng Nghĩa:
Lão sư thân thủ nhược du long
Lẫm liệt tu mi khí lực hùng
Tích nhật Cần vương đồng tá quốc
Tây trù trảm tận hiển hùng phong
Ðào Văn dịch:
Nhớ thầy dáng tựa rồng bay
Ðường gươm nhát kiếm râu mày xứng danh
Theo vua vì nước quên mình
Dẹp tan lũ giặc đinh ninh lời nguyền
Trong bài Trường Uùc sơn quan đại chiến hậu, hựu
đại thắng ư Cẩm Văn thôn hữu cảm (cảm xúc sau khi đánh lớn trên
ải Trường úc, lại thắng lớn ở thôn Cẩm văn), sư tổ Lê Thượng Nghĩa
cũng đã nói rõ, thắng lớn là nhờ áp dụng võ thuật vào chiến thuật:
Binh nhung hào kiệt vũ Ngô câu
Xung đột trùng vây trảm tặc đầu
Trường úc, Cẩm văn tề báo tiệp
Nghĩa binh thanh giá chấn toàn châu
Việt Thao dịch:
Diệt thù, hào kiệt múa gươm thiêng
Xông phá vòng vây chém giặc liền
Trường úc, Cẩm văn đều thắng lớn
Nghĩa quân lừng lẫy khắp trong miền
Tướng Ðặng Ðề, cũng người quận Bình khê (tức huyện
Tây sơn), một tay võ nghệ nổi tiếng, đã chỉ huy mặt trận Thủ thiện,
cho quân xung phong cận chiến, có trống trận yểm trợ tinh thần y
như đạo quân Tây Sơn ngày trước, ông viết:
Thủ thiện thôn trung bề cổ động
Nghĩa binh phấn dũng vũ đao thương...
Việt Thao dịch:
Thủ thiện, trong thôn trống trận rền
Nghĩa quân dũng cảm giáo vung lên
Năm 1908, làng võ Bình định lại một lần nữa góp phần
chống Pháp trong phong trào Kháng thuế tại tỉnh nhà. Các võ sĩ ở
An vinh và An thái tham gia rất đông. Họ lãnh trách nhiệm trừng
trị bọn tay sai của Pháp và những tên thổ hào dựa vào giặc để nhiễu
hại dân lành.
Căn cứ vào các châu bản triều Duy Tân trong quyển
Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 của Nguyễn Thế Anh (xuất
bản tại Sài gòn năm 1973) thì ở huyện Bình khê có Hà Khuê, Hồ Cường,
Lê Lý, Lê Hữu, Lê Thức, Võ Nghiệp... đã lùng kiếm các viên chức
đấc lực của chính phủ Bảo hộ để trừng trị, tiêu biểu có tên Vinh
và Giao bị nịch sát. Ở vùng An vinh (Bình Khê) và An thái (huyện
Tuy viễn) có Nguyễn văn Khải lý trưởng An vinh, đã chỉ huy toán
bắt cóc bọn tay sai cho giặc, tiêu biểu có tên Uẩn đền tội, xác
thả trôi sông. Ơû huyện Phù cát có Nguyễn Hoành đã tổ chức ám sát
hai tên gian ác là Bá và Tường do phủ phái tới. Ơû huyện Bồng sơn
có Ðỗ Dương, Nguyễn Ðiềm, Phạm Quế, Phan Thuần đem thủ hạ khoảng
50 người cầm đao côn đến huyện đường kháng cự với lực lượng đàn
áp. Ngoài ra, toán võ sĩ còn thi hành bản án tử hình đối với thường
dân đã tham tiền làm do thám hay chỉ điểm cho giặc, như trường hợp
nịch sát tên thợ Cẩn để làm gương.
Khoảng năm 1920, cả hai tỉnh Bình định và Phú yên
mất ăn mất ngủ vì nạn cướp Dư Ðành. Võ sĩ các phủ, huyện Bình khê,
An nhơn, Tuy phước, Phù cát được quan tỉnh điều động vào việc bắt
cướp. Dư Ðành người làng Kiên ngãi, xã Bình thành huyện Bình khê,
giỏi võ nghệ và có sức mạnh phi thường. Hắn có thể kẹp nách một
con bò nghé, nhẹ nhàng như bồng một đứa bé. Người đương thời ví
Dư Ðành "sức đương Hạng Võ, mạnh kình Trương Phi". Dư
Ðành cầm đầu một toán cướp 11 tên. Hựu (quân sư), Phỉ, Cao, Ðen...
toàn là những tên cướp tên tuổi. Chỉ có tay roi Hồ Ngạnh ở Thuận
truyền là Dư Ðành né tránh, còn Bảy Lụt cũng là một tay quyền nổi
tiếng ở An vinh, bị Dư Ðành và đồng bọn phục kích đánh bất tỉnh
để cảnh cáo làng võ đang tìm bắt chúng:
Dư Ðành sức mạnh quá trâu
Vùng lên đánh ngã cả xâu triều đình
(Ca dao)
Triều đình khiển trách quan tỉnh, tỉnh nạt xuống
huyện. Quan huyện đổ cáu trút lên đầu làng xã. Khổ cho đám dân đinh
phải canh phòng nghiêm nhặt suốt ngày đêm, lùng sục khắp hang cùng
ngõ hẻm mà vẫn không tìm ra tung tích bọn cướp. Tình cờ, Dư Ðành
bị bắt ở vùng Dương an, huyện Tuy phước, lúc đang ngủ say dưới lòng
tảng đá hàm ếch, thuộc núi Phước an. Người ta phải lập thế dùng
ba khúc danh mộc "Kiềng kiềng ba khúc cán ngay yết hầu"
(vè Dư Ðành) và có súng bắn thị uy, Dư Ðành mới chịu bó tay.
Xét cho cùng, thời kỳ trung hưng đã trải dài trên
nửa thế kỷ, nhưng làng võ Bình định không thể có lại cảnh huy hoàng
rực rỡ như thời Tây Sơn. Tuy vậy võ học Bình định thời kỳ này cũng
đã phục hưng được ý hướng tốt đẹp là dạy võ, học võ để ứng thí,
cứu nước và giúp đời.
THỜI KỲ NGOẠI NHẬP (1924-1945)
Từ xưa Bình định đã có câu truyền tụng: "Roi Thuận truyền,
quyền An vinh", và "Trai An thái, gái An vinh" là
những địa danh thuộc tỉnh, đã phát tích những dòng võ nổi tiếng
và nối nghiệp cho đến bây giờ. Thôn Thuận truyền thuộc xã Bình thuận,
quận Bình khê. Thôn An vinh thuộc xã Bình an, cùng huyện. Còn An
thái xưa là một thị tứ, nằm trong thôn Mỹ thạnh, xã Nhơn phúc, huyện
An nhơn.
"Roi Thuận truyền" trước xa nữa không rõ
ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ
Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976, thọ 85
tuổi. Oâng nguyên quán thôn Háo ngãi, xã Bình an, huyện Bình khê,
trú quán ở Thuận truyền, xã Bình thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc
Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ
lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi
của cao sư Ba Ðề, học nội còng của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi
của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại
thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi
đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng
năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình,
Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm,
ông truyền nghề cho cháu nội, nay là võ sĩ Hồ Sừng. Học trò lớp
lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường úc xã Phước nghĩa huyện
Tuy phước được riêng dạy ngón độc chiêu bí truyền. Học trò lớp sau
có Ðinh văn Tuấn ở Qui nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ
vang cho lò võ Thuận truyền.
"Quyền An vinh" có từ lâu, nhưng cũng chỉ
biết từ đời ông Hương mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa,
cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương
mục Ngạc học quyền Bình định rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách
Bút. Sở dĩ ông nổi tiếng là nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác
nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ Bình định đương
thời. Oâng có ba người con là Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác
đều tinh thông võ nghệ. Oâng dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng
như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan
dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con
trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho Phan Thọ. Sau này
Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp
thu được cả tinh hoa quyền An vinh từ mạch võ Hương mục Ngạc lẫn
võ chiến của Tây Sơn. Hiện nay lò võ Phan Thọ ở thôn Thủ thiện huyện
Bình khê vẫn đông học trò dù ông nay đã vào tuổi thất tuần.
An thái cũng có những dòng võ nổi tiếng mà câu ca
dao nói đến Hội Ðổ Giàn tại chùa Bà ở vùng này đã đề cập:
Tiếng đồn An thái, Bình khê
Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo
Nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng
võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái
nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng
lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát,
sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời
đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia
đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi
được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc
phái Thiếu lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc
bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở
trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn
đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu lâm của ông đã rải
khắp miền đất võ và riêng ở An thái, võ quyền truyền thống đã bị
quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng
từ xưa ra "roi Thuận truyền, quyền An thái".
Dân Bình định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì
xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ
để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười
Mỹ.
Trong thời kỳ này, ngoài võ Thiếu lâm của Tàu Sáu
còn có võ Thái cực đạo, võ quyền Anh cũng xâm nhập làng võ Bình
định và được người Pháp nâng đỡ để giảm bớt ảnh hưởng của võ truyền
thống. Chính phủ Bảo hộ thường tổ chức những cuộc đấu võ đài đến
chết mới thôi. Cảnh tượng ghê rợn, trên đài có một cỗ quan tài để
sẵn. Các lò võ cố luyện cho gà nhà những cú đánh tàn bạo, độc hiểm
để thủ thắng càng nhanh càng tốt, vì thế gây nên sự thù hằn, hiềm
khích giữa các lò võ. Ðó chính là mục đích "chia để trị"
của thực dân. Tuy nhiên vẫn có những nhà võ ý thức được điều đó.
Họ khước từ những cuộc thách thức tranh tài, chỉ đóng cửa truyền
võ để khỏi mất dòng và để tự vệ.
THỜI KỲ TRẦM LẮNG (1945 đến nay)
Cuộc chiến kéo dài 30 năm với vũ khí tối tân; côn, quyền, gươm,
giáo không còn tính cách quyết định cho cuộc chiến nữa. Số người
học võ để đi thi đã chấm dứt từ lâu. Học võ để phòng cướp hay làm
mưa làm gió như Dư Ðành cũng không còn. Hội Ðổ giàn, tục Tranh Heo
đã mai một từ khi khói lửa lan tràn. Số người học võ tuy dần dần
giảm bớt nhưng tinh thần thượng võ đã trở lại với ý nghĩa chân chính.
Trong ý nghĩa tìm về cội nguồn, tưởng nhớ đến người
sáng lập võ Tây Sơn, năm 1960, nhân dân toàn quận Bình khê đã chung
sức lập xong đền thờ Tam Kiệt Tây Sơn tại nền đình cũ đã bị phá
hủy thời Việt minh. Nguyên khuôn viên ấy là vườn nhà của gia đình
ba anh em Tây Sơn. Vua Thái Ðức (Nguyễn Nhạc) lên ngôi, cho xây
dựng thành một nhà từ đường khang trang. Khi Gia Long diệt Tây Sơn,
ra lện san phăûng ngôi nhà. Sau dân làng lập ngôi đình làng Kiên
mỹ tại đó và bí mật thờ Tam Kiệt Tây Sơn.
Ðền thờ Tây Sơn có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung
Hoàng đế. Hai gian bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương Nguyễ
Lữ. Trước sân đền đặt tượng bán thân của vua Quang Trung và dựng
bia ca tụng ngài.
Cũng từ năm 1960, hằng năm cứ vào ngày mùng 5 Tết
Nguyên đán, tỉnh Bình định lại tổ chức trọng thể lễ Ðống đa. Trong
ngày lễ hội có biểu diễn võ trận và trống trận Tây Sơn. Người xem
hội từ các nơi đổ về đông nghẹt đường.
Năm 1972, hội Võ thuật Bình định được thành lập,
thành phần sáng lập viên gồm có: các võ sư Hà Trọng Sơn, Huỳnh Liễu,
Lý Xuân Tạo, Nguyễn Nghè, Nguyễn Thông, Nguyễn văn Thành, Thanh
Hoàng, Thành Nở, Xuân Sơn Quảng và ba huấn luyện viên là Lý Thành
Nhân, Nguyễn Thành Công, Xuân Trường Tịnh. Thanh Hoàng có tên thật
là Nguyễn Bính, sinh năm 1935, người thôn An phú xã Phước lộc, huyện
Tuy phước được bầu làm Tổng thư ký. Tôn chỉ của hội là bảo tồn và
phát triển võ Bình định. Hoan nghênh các phái võ khác hội nhập vào
làng võ Bình định làm phong phú thêm cho nền võ học tỉnh nhà; nhưng
cương quyết ngăn chặn các môn võ ngoại lai đang muốn đồng hóa võ
truyền thống.
Một điều quan trọng là từ năm 1972 hội võ thuật Bình
định được thành lập với đầy đủ các môn võ của Bình định. Trước đó
chỉ có Phân cuộc Quyền thuật Bình định được thành lập mà thôi và
trực thuộc vào Tổng cục Quyền thuật Sài gòn.
Lại nữa, võ Bình định cũng được phổ biến rộng rãi
qua các võ đường ở Sài gòn và các tỉnh, như võ đường Sa Long Cương
ở Sài gòn do sư trưởng Trương Thanh Ðăng người Bình định tổ chức,
dạy cả võ Bình định lẫn võ Thiếu lâm.
Thời kỳ này có những nhà sư nổi tiếng về võ Bình
định như thượng tọa Bửu Thắng, tuổi ngoài 80, trụ trì chùa Quang
Hoa huyện Tuy phước, là tay roi chiến thượng thặng; sư Hạnh Hòa,
khỏang ngũ tuần, trụ trì chùa Long phước, huyện Tuy phước, một tay
võ danh tiếng; sư chú Vạn Thanh, 30 tuổi, cũng ở chùa Long phước,
tay roi tay đao đang thời kỳ sung sức.
Vào đầu thập niên 1970, một ngôi sao lóe sáng trên
vòm trời võ học Bình định: nữ võ sĩ Thanh Tùng của miền sông Côn.
Chưa ai thấy cô thắng trên võ đài hay từng tranh tài cao thấp với
ai, người ta chỉ thấy Thanh Tùng ở điện thờ Quang Trung dịp lễ Ðống
Ða biểu diễn các bài quyền như Lão Mai Ðộc Thọ hay bài roi như Tấn
Nhất Ô Du là đã đủ khiếp.
Xét cho cùng, điều ấy là lẽ dĩ nhiên. Thanh Tùng
là con nhà võ, đời đời nối nghiệp và thừa hưởng các ngón bí truyền
của một dòng võ cao thủ. Ông nội của Thanh Tùng là một tay roi quỉ
khiếp thần kinh, người đồng thời và xứng tài với Hồ Ngạnh. Thân
sinh cô vẫn nối nghiệp nhà, giữ vai trò đứng đầu hàng võ tại địa
phương. Rồi đến Thanh Tùng, tuy là gái, cô vẫn tiếp nối thừa hưởng
tinh hoa của con nhà võ.
Học võ thì phải học luôn cả thuốc võ để tự chữa trị
những chấn thương do đánh võ gây nên. Tuy nhiên trong trường hợp
thương tích quá nặng thì phải tìm đến các thầy thuốc võ chuyên môn.
Họ cũng trong đội ngũ làng võ Bình định, vì phải xuất thân từ những
lò võ danh tiếng mới học được các bài thuốc bí truyền. Một số danh
sư về thuốc võ như : võ sư Hồ Ngạnh, Hoà thượng Huyền Aán trụ trì
chùa Bích Liên huyện An nhơn, Lê văn Chương ở thị trấn Bình định,
Minh Tân Phạm Hà Hải ở Qui nhơn... tiếc rằng Hồ Ngạnh và sư Bích
Liên đã qua đời, nhưng trong làng thuốc võ Bình định còn biết bao
danh sư khác nối tiếp được chân truyền.
Ngày nay, lớp người trên dưới 60 tuổi đang giữ vai
trò nòng cốt cho làng võ Bình định, tuy không nhiều nhưng rải khắp
nơi trong tỉnh. Ơû Qui nhơn có Ðinh văn Tuấn, tác giả cuốn Võ thuật
Cổ truyền Bình định; Kim Ðình gốc người Hoài nhơn; Nguyễn Lê Thanh.
Ở Bình khê có Hồ Sừng (cháu nội Hồ Ngạnh), Phạm Thi,
Phi Long. Huyện Tuy phước có Thanh Hoàng (cựu Tổng thư ký hội Võ
thuật Bình định) ở Cầu Gành, Hồng Khanh, Minh Tinh (con võ sư Xã
Hào) ở Trường úc, Ðào văn Thanh ở Phước thuận và Trần Can ở ngả
ba Diêu trì, cả hai đều thuộc mạch võ của Hà Trọng Sơn; nhà chùa
thì có các sư Hạnh Hòa, Vạn Thanh ở chùa Long phước, huyện An nhơn
có Lý Thành Nhân (con võ sư Lý Xuân Tạo) ở Ðập Ðá, Vũ Lê Cang. Huyện
Phù cát có võ sư Trần Diễn. Và các huyện phía bắc là Phù mỹ có Kim
Hòa, ở Hoài nhơn có Nguyễn văn Chức, Nguyễn Thành Tín...
Mạch võ Bình định như một dòng sông, lúc uốn khúc,
lúc bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất trời
"ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng vỗ dạt dào,
tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh", dòng chảy
ấy không bao giờ dứt.
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
|