Võ
Tây Sơn - Bình Định
Tây Sơn - Bình Định là một địa danh võ thuật. Nơi đây cũng là nơi
phát tích của nhà Tây Sơn mà lịch sử đã ghi dấu ấn những chiến công
hiển hách của Hoàng đế Quang Trung với một đội quân được luyện tập
nhuần nhuyễn về võ thuật. Câu ca dao đầy khí phách của đất Bình
Định vẫn còn lưu truyền, cho thấy võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng
dấp của võ cổ truyền dân tộc:
Ai vô Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền.
Phát tích của võ thuật
Võ thuật là bản năng sinh tồn của nhân loại. Lúc đầu lập quốc, tổ
tiên ta đã phải chống chọi với biết bao sự vật đổi sao dời của thiên
nhiên, cùng nguy hiểm do bầy ác thú gây ra. Có một rẻo đồng bằng
ven biển chật hẹp, ba bề núi chắn, con người dân không lúc nào không
dùng võ thuật chiến đấu với ác thú, với ngoại xâm để sinh tồn. Như
vậy, gọi võ thuật là bản năng, là lợi khí sinh tồn của nhân loại
không phải là không đúng!
Ba anh em nhà Tây Sơn thời đó được gửi học võ tại
võ đường của một bậc trượng phu - võ sư Trương Văn Hiến. Ông dạy
cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm
võ. Người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Văn võ
phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững.
Vị sư phụ họ Trương dẫn dắt trai tráng đến đất võ
bằng đường văn! Trong dân gian, từng gia đình có sự truyền thụ rất
công phu để cháu con lên rừng, ra rẫy không e ngại muông thú, có
việc đi đường xa không sợ đạo tặc. Giỏi võ trước hết là để giữ mình,
để làm người trượng phu, không làm kẻ giặc bạo tàn! Do đó, nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín là những quy pháp trong võ thuật.
Võ Bình Định ra đời rất sớm, quy tụ những võ sư tài
giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những
bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo...
Những làng võ một thời như Thuận Truyền, An Thái,
An Nghi, Bình Nghi của đất Tuy Viễn, Bình Khê; những bậc thầy như
võ sư Hồ Ngạnh, Hà Trọng Sơn... đã rèn luyện nên nhiều thế hệ học
trò hiện vẫn kế tục và phát triển võ nghiệp. Ngày nay nếu về thăm
Tây Sơn gặp cụ Phan Thọ tuổi ngoại 70 và có dịp xem cụ biểu diễn
bài "Trường đao hiệp nghĩa" mới cảm nhận được phút giây
như sóng dâng bão cuốn, gió mây vần vũ mà bài võ thể hiện!
Đặc điểm của võ Tây
Sơn
Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiếp thu tinh
hoa độc đáo của các dòng võ khác nhau để xây dựng dòng võ Tây Sơn
với những đặc điểm riêng.
Tính dân tộc: Trong các chiến công của Hoàng đế Quang
Trung, người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp giữ vai trò rất
quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh, biến
hóa khôn lường, lấy thủ làm công, lấy công giữ thủ song toàn, hư
thật bất phân, khéo léo trăm bề, tư thế nghìn nẻo, làm cho đối phương
rất khó chống đỡ.
Ông Nguyễn Lữ, em Nguyễn Huệ, đã làm cho võ thuật
Việt Nam trở thành một trường phái độc đáo không kém võ Trung Quốc.
Người Việt ta có thân hình bé nhỏ, sức khỏe hạn chế so với người
Tàu. Võ Trung Quốc phải luyện từ 10 năm trở lên. Muốn cho các chiến
sĩ Tây Sơn tinh thông võ nghệ trong một thời gian ngắn thì phải
luyện theo cách khác. Nguyễn Lữ nghiên cứu các thế gà đá nhau áp
dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng
mềm thắng cứng. Ông cũng nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của
con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn,
xỏ vỉa, từ đó tạo ra các thế lặn hụp, tránh né, đến phản công. Cuối
cùng ông đã sáng tạo ra bài quyền mang tên "Hùng Kê Quyền".
Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa
nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm".
Tính truyền thống: Trước đây người dân Bình Định
đều biết võ để tự vệ. Họ truyền cho nhau trong thôn xóm, bản làng.
Với người thân thì cha truyền cho con, chồng truyền cho vợ, anh
truyền cho em... Nhờ đó, những bài võ từ thời xa xưa vẫn được lưu
truyền. Võ Bình Định đã có nhiều môn phái khác nhau, nhưng tựu trung
vẫn giữ truyền thống của miền đất võ. Cách đây hơn sáu năm, đoàn
võ thuật Bình Định gồm Kim Dũng, Đinh Tuấn, Văn Cảnh... nhiều lần
sang Pháp giảng dạy theo lời mời của Liên đoàn Võ thuật Paris, Marseille,
Orion và nhiều địa phương khác, đã để lại niềm tự hào cho những
người đồng hương sống trên đất khách quê người.
Các nữ võ sĩ thuộc Câu lạc bộ Võ thuật Paris rất
thích thú, thán phục bài thảo "Ngọc trản" đầy biến hóa,
mềm mại như điệu múa khi sử dụng nhu công và hài hòa như một bức
tranh khi cương nhu phối hợp. Bài thảo được trình diễn một cách
hoàn hảo về nghệ thuật, về sức mạnh, thể hiện nét đẹp vốn có của
võ Tây Sơn - Bình Định. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ võ đạo xưa.
Những điều nên làm, nên tránh đối với các môn sinh vẫn giữ nguyên
và ba điều tâm niệm chính là: Kính tổ - Trọng thầy - Mến bạn.
Tính đa dạng và liên hoàn: Võ Tây Sơn - Bình Định
rất đa dạng và phong phú. Bất cứ môn phái nào cũng theo bí quyết
quyền thuật, một sức mạnh tổng hợp, dung hòa trên, dưới, trái, phải,
trước, sau. Phép dùng liên quan với nhau của lực họp chia ra nội
tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên trong là tinh, khí, thần. Ngoại
tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên ngoài là thủ, nhãn, thân. Trong
ngoài hợp với nhau đó là lục hợp. Có được như vậy mới đủ khả năng
thắng địch thủ. Tính liên hoàn rõ nét trong việc sử dụng 18 ban
binh khí, chia ra 9 loại võ khí dài và 9 loại võ khí ngắn. Dù bất
cứ loại võ khí nào cũng đều không ra ngoài 6 điểm: chém xuống, chém
ngang, hất lên, gạt xuống, lướt qua và đè.
Từ khi nhà Tây Sơn sập đổ, Nguyễn Gia Long vẫn sợ
"oai hùm" nên cấm ngặt toàn bộ 18 ban binh khí của quân
đội Tây Sơn - những vũ khí lợi hại làm nên sự bách chiến bách thắng
của Hoàng đế Quang Trung ở thế kỷ 18. Mãi đến khi Bảo tàng Quang
Trung được thành lập năm 1979 mới thu gom được 9 môn. Hiện nay các
võ sinh ở Bảo tàng Quang Trung thường biểu diễn khi khách trong
và ngoài nước đến tham quan.
Sự liên quan giữa võ
Tây Sơn và võ Bình Định
Trước thời Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những
người này có thể là tướng sĩ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa
lập nghiệp, cũng có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam
trú ngụ tại vùng Quy Nhơn, An Nhơn.
Người Bình Định vốn ưa học võ, đã học thầy, học bạn,
rồi dung hòa cải tiến dần. Theo cụ Hồ Ngạnh, ba anh em Tây Sơn cũng
học võ như mọi người, nhưng nhờ óc phán đoán, thiên tư võ thuật,
nghiên cứu tinh thâm, đã gạn lọc được những tinh hoa võ thuật, hệ
thống lại và tạo thành phái võ riêng. Công trình này cũng có sự
đóng góp của nhiều tướng lĩnh Tây Sơn. Sau đó, võ Tây Sơn được phổ
biến hạn chế trong quân đội. Những người này nắm được một số chân
truyền của môn phái rồi truyền dạy lại cho con cháu, học trò. Lại
pha trộn thêm võ Bình Định, hoặc cải cách ít nhiều để tránh sự nhòm
ngó của triều Nguyễn.
Cũng theo cụ Hồ Ngạnh, võ Tây Sơn, võ Bình Định đều
là võ dân tộc Việt Nam. Môn phái nào cũng hay. Tuy nhiên có vài
đặc điểm khác nhau là võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý được biến đổi
qua các dòng họ, được chân truyền của môn phái; còn võ Bình Định
được truyền dạy tương đối tùy tiện, thêm bớt, sửa đổi những điều
mình đã học để dạy lại cho học trò. Lâu dần, võ Bình Định chuyên
về cương công - công phu cứng rắn, xa dần nhu công - công phu mềm
dẻo.
Võ Bình Định thích hợp với người có thể chất khỏe
mạnh, nên mới có câu "Võ dĩ dũng vi bán" - võ lấy sức
mạnh làm một nửa, những người ốm yếu khó học được. Ngược lại, võ
Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu. Càng luyện tập, võ sĩ thuộc
phái Tây Sơn càng mềm dẻo, nhưng càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên
về ngoại công - công phu luyện tập bằng chân tay, võ khí, ít chú
trọng về nội công, hít thở, vận khí như võ Tây Sơn.
Theo Thiếu Lâm
st. Báo Bình Định
|