|
Mặt khuất
của con người : cái dâm và cái ác trong tác phẩm
của Vũ
Trọng Phụng
Thụy
Khuê - RFI
Tính phổ quát trong tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng không chỉ dừng lại ở những trang phóng sự mà bao
trùm lên toàn thể tác phẩm như một con đường tư tưởng xuyên sâu
vào sự lầm than của kiếp người, sự người bóc lột người, ở bất cứ
nơi nào, càng khốc liệt hơn dưới những chế độ độc tài mà pháp luật
dừng lại ở vùng ngoại cảnh.
Tả chân Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại: từ phóng sự đến
truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, tiểu luận bút chiến... và trong
loại nào ông cũng để lại những tác phẩm giá trị.
Thập niên 1930-1940, trên diễn đàn văn học đất Bắc,
có hai khuynh hướng báo chí đối lập nhau: một bên là Tự Lực văn
đoàn với Phong Hoá, Ngày Nay và một bên là những tờ báo chống lại
Tự Lực văn đoàn, như Tiểu thuyết thứ bẩy, Hữu Ích, Phổ Thông bán
nguyệt san thuộc nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long, với các
nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Lan Khai, Tchya Đái
Đức Tuấn, Trương Tửu...
Sự đối lập nghề nghiệp này tạo ra những cuộc bút
chiến nẩy lửa hoặc những cách phê bình độc địa nhau trên mặt báo.
Ngày nay đọc lại những bài tranh luận này, chúng ta thấy nổi bật
khía cạnh hiềm tị cạnh tranh nghề nghiệp nhiều là hơn đối lập tư
tưởng.
Chỉ riêng trường hợp đối chất giữa Khái Hưng-Nhất
Linh và Vũ Trọng Phụng là có nguyên do sâu xa hơn, đó là sự đối
lập tư tưởng và phong cách văn học giữa Khái Hưng-Nhất Linh và Vũ
Trọng Phụng.
Sự bất đồng xẩy ra trên một số nét rõ ràng: Khái
Hưng chê Vũ trọng Phụng chỉ nhìn thấy cái xấu trong con người và
Nhất Linh chê vũ Trọng Phụng dâm ô. Vũ Trọng Phụng phản bác rằng
mình chỉ nói lên sự thực.
Lập luận của Khái Hưng và Nhất Linh điển hình cho
lập luận chung của những người đả phá Vũ Trọng Phụng, kéo dài trong
nhiều năm, từ thập niên 30 thế kỷ trước, qua những ngòi bút như
Lê Thanh, Phan Trần Chúc..., Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại
cũng chê Số đỏ (sau này ông có sửa lại lập trường trong hồi ký),
đến những nhà nghiên cứu sau này như Phạm Thế Ngũ, chịu ảnh hưởng
Vũ Ngọc Phan cũng giữ khoảng cách, không đề cập tới Số đỏ, một tác
phẩm gây "scandale" mà những người "đứng đắn"
không thể bảo kê được.
Thái độ này rất dễ hiểu, bởi Vũ Trọng Phụng đi ra
ngoài hệ tư tưởng chính thống của văn học đương thời.
Thập niên 30-40, trên văn đàn Việt Nam, có hai hệ
tư tưởng nòng cốt: thứ nhất, đề cao cái đẹp, văn hay, phong cách
lãng mạn, trong văn chương Tự lực văn đoàn, văn chương Nguyễn Tuân
và Thơ Mới. Thứ nhì, vạch trần sự xấu xa của xã hội cũ trong các
tác phẩm Tự Lực văn đoàn, vạch trần sự bóc lột của giai cấp giầu
có, thống trị, phía các nhà văn hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Nguyên Hồng và các nhà phóng sự của Tam Lang, Nguyễn
Đình Lạp, Hoàng Đạo ...
Trong toàn bộ hệ tư tưởng chính thống đó, con người
được mô tả qua một khuôn thẩm mỹ cổ điển, một khuôn mẫu đạo đức
sẵn có, văn chương phản ảnh cái hay, cái đẹp, chống lại cái xấu,
cái cặn bã của xã hội.
Vũ Trọng Phụng đơn phương đi ra ngoài quỹ đạo chính
thống đó: ông không nhìn con người tiên thiên như một thực thể tốt
hoặc xấu. Ông không viết văn hay theo thẩm mỹ lãng mạn, mà ông theo
dõi hành vi của mỗi cá nhân để xem họ hành động và phản ứng như
thế nào trước tình huống.
Là nhà báo, Vũ Trọng Phụng có phong cách nhà báo,
tức là nói thẳng, nói thực. Lối viết của ông luôn luôn có tính điều
tra phóng sự, ghi chép tất cả, cả những lời sống sượng, thô tục
của con người hàng ngày trong các ngõ hẻm, trong các khu tăm tối
của bạc lận, tiền gian, của đĩ điếm, của ma cô, của đủ mọi hạng
người sang giầu, dung tục.
Vũ Trọng Phụng dám đưa ra những vấn đề cấm kỵ nhất
của xã hội Việt Nam thập niên 30: đó là vấn đề tính dục, vấn đề
đồng tình luyến ái, vấn đề mãi dâm... Và ông không ngại đi vào những
vùng thâm u nhất của xã hội để điều tra sự thật: xã hội cờ bạc,
xã hội lấy Tây, xã hội làm điếm, xã hội con sen...
Những phóng sự của Vũ Trọng Phụng không chỉ có giá
trị nhất thời, tức là vẽ nên những tệ đoan xã hội của thời Pháp
thuộc, mà còn có giá trị cho mọi thời, bởi những sự thật mà ông
phanh phui những năm 30 của thế kỷ trước, vẫn còn là hiện thực của
hôm nay và hôm qua: chỉ cần đổi tên Kỹ nghệ lấy Tây thành Kỹ nghệ
lấy Mỹ, là chúng ta rơi vào hoàn cảnh phụ nữ thời 54 -75 ở miền
Nam, hoặc thành Kỹ nghệ lấy Đại hàn là có điều kiện của những phụ
nữ bán thân cho ngoại quốc hôm nay, nhiều khi còn phải chịu số phận
biệt xứ.
Vũ Trọng Phụng là nhà văn đã vẽ nên Con người toàn
diện (L' homme total) theo nghiã của Sartre, nghiã là ông nhìn thấy
toàn diện mọi khía cạnh của con người, của mọi hạng người, như trường
hợp Nguyễn Du.
Văn phóng sự
Tính chất trào phúng càng đưa ông đi xa hơn nữa,
khiến ông có thể nhìn những đau thương qua lăng kính trào lộng,
tạo thêm một sức mạnh, một sức đớn đau chua chát mới mà các tác
giả cùng thời chưa đạt được, ví dụ:
"Cái giường của một me tây cũng như cái dùi
khui của một thầy cảnh sát, cũng như cái búa của bác thợ rèn, cũng
như cái cổ của một ông nghị viên Việt Nam. Trong cái kỹ nghệ lấy
Tây, thợ chỉ làm việc trên giường" (Kỹ nghệ lấy Tây, tuyển
tập Vũ Trọng Phụng trang 568).
Những so sánh có tính cách khiêu khích ấy làm đỏ
mặt một cộng đồng chuộng nền nếp trật tự, có trên, có dưới, có sang,
có hèn, nhưng chúng phản ảnh sự thực chua cay nhất.
Hoặc:
"Bốn mươi năm trước đây, người Việt Nam
ngoài sự lo tưới nước luộc lợn vào xác người chết lại còn muốn người
chết phải cảm động bởi những câu khóc lóc khéo của kẻ sống ở sau
chiếc quan tài! Nhà nào sợ vì lẽ gì tang gia bối rối mà không đủ
lời lẽ thảm thiết thì mời bà Đội Chóp giúp hộ một ... miệng. Bà
Đội Chóp, một người có lòng từ thiện, đã vui vẻ mà khóc, tươi cười
mà khóc, khóc một cách chu đáo, mà lại không tính tiền, nghiã là
khóc ga-tuýt vậy.
Ối ai ơi là ai ơi...." (Kỹ nghệ lấy Tây, sđd,
trang 571).
Còn gì thật hơn và trào lộng hơn về tục khóc mướn
của dân ta.
Vì thế những phóng sự của Vũ Trọng Phụng không chỉ
là bức ảnh chụp đúng thời điểm mà nhà báo săn tin bước qua một cảnh
quan nào đó, nó còn dựng lên cả một hậu cảnh, một dĩ vãng, một tập
tục, mà những người trong cảnh đã sống, đã trải qua.
Phóng sự của Vũ Trọng Phụng khác với phóng sự của
Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp, Hoàng Đạo... và những người cùng thời,
vì họ mới chỉ chụp được những bức tranh thời sự để đưa lên mặt báo.
Và ngày nay, tính thời sự ấy đã mất, những hiện tượng ấy đã chấm
dứt, ảnh của họ chỉ còn là những giá trị tư liệu của một thời, trong
khi phóng sự của Vũ Trọng Phụng, là những cuốn phim sống động mà
con người mọi thời có thể soi mình, thấy lại mình.
Bức tranh phóng sự của Vũ Trọng Phụng là bức tranh
nổi và sinh động chụp năm 1930 nhưng vẫn còn đang tươi rói những
giọt máu hôm nay trong một bối cảnh hoàn toàn khác, trong khi phóng
sự của các nhà báo khác là những bức ảnh phai màu về một thời quá
khứ.
Cái chợ buôn người của Hà thành thời Vũ Trọng Phụng
và cái chợ buôn nhân công hôm nay ở Hà Nội dường như không khác
nhau là mấy, cùng một không khí:
"Cả đám người ấy, ngồi tản mạn thành từng tốp
nho nhỏ. Trẻ với trẻ, già vời già, đàn bà với đàn bà, con trai với
con trai. Mụ già đưa người thì không ngồi, chỉ đi đi lại lại, nhìn
người này, nhìn người nọ, như một viên võ quan lúc diễu binh và
mấp máy cái mồm, không hiểu là đếm hay đánh giá những kẻ chịu lụy
mụ. Ngưòi ta nói chuyện rầm rì huyên thuyên lên, cái đó đã cố nhiên.
Người ta lại chửi nhau, vui vẻ bắt chấy cho nhau cắn đỡ đói",
và Hà thành ngày ấy cũng chẳng khác Hà Nội và Sài gòn bây giờ là
bao:
"Nó [Hà thành] đã cất tiếng gọi dân quê bỏ những
nơi đồng khô cỏ héo đến đây để chết đói một lần thứ hai sau khi
bỏ cửa bỏ nhà. Nó đã làm cho giá con người phải ngang hàng với giá
loài vật: Nó đã làm cho một bọn trẻ đực vào nhà Hoả Lò và một bọn
trẻ cái làm nghề mãi dâm!" (Cơm thày cơm cô, sđd, trang 588-589).
Chỉ cần đổi Cơm thày cơm cô thành Kiếp ô sin là chúng
ta ngay thân phận của những cô gái quê lên tỉnh đi ở, hôm nay:
"Tiên nhân cha con ranh con! Chưa chi đã giở
ngay những thói trộm cắp! Liễn thịt còn ba mươi hai miếng mà dám
thọc ngay đũa vào ăn vụng mất ba miếng! Bà đã đếm rồi bà mới cất
đi, dễ mày tưởng bà không biết đấy à?" (Cơm thày cơm cô, sđd,
trang 598).
Chân dung những mụ ma cô già hoá cáo, ngày ấy với
ngày nay nào có khác gì:
"Con mẹ chủ tôi thì ăn mặc đến nực cười. Chân
thì đi giày đầm, đầu thì để tóc đuôi gà, mà quần áo thì là quần
áo khách! Trông thấy anh tây đen nào con mụ cũng liếc mắt đưa tình,
giở trò gạ gẫm ngay thôi. Nó cứ bắt tôi lẽo đẽo theo sau y như là
muốn bắt tôi học nghề làm đĩ ấy! Mà cái má nó đã răn reo, nó lại
trát phấn bự khắp cả, thành thử trông như mặt ngáo ộp, thế mà cũng
có anh bắt nhân ngãi với nó! Ấy thế rồi, cha tiên nhân năm đời mười
đời nhà nó!... Chính nó làm cho tôi mất tân! Anh ơi, tôi lúc ấy
mới có 13 tuổi đầu mà nó nhét giẻ vào mồm tôi, giữ hai chân tôi,
cho thằng oẳn cứ việc hiếp lấy hiếp để! (...)
Không chịu nhận tiền đền, tôi ra phố kể lể, khóc
mếu máo với một ông đội xếp... Chưa kịp nói rõ đầu đuôi, nó đã chạy
ra đứng án ngữ trước mặt mình rồi nói tiếng Tây với ông đội xếp
không biết những gì mà thấy ông ấy đổi giọng mắng tôi những là đừng
có vu oan giá họa, chứng cớ không có mà đi kiện láo thì rồi tù mọt
gông! Thế là tôi đâm ra sợ, không dám nghĩ đến chuyện lên bót nữa,
đành phải nhận hai đồng bạc tiền đền. Ba hôm sau, tôi khỏi, nó quen
mui, lại bắt tôi tiếp khách nữa! Tiên sư bố nó, thật là giời quả
báo nên mấy hôm sau nó bị xe ô tô đâm phải, gẫy mẹ nó ngay một tay..."
(Cơm thầy cơm cô, sđd, trang 569).
Đúng là một mụ trùm tú bà mà chúng ta có thể tìm
thấy trên màn ảnh hay ở ngoài đời, bất cứ trong xó xỉnh xã hội đen
nào trên trái đất, hôm nay, từ Praha, Hồng Kông, Manille, Bombay,
New York... hay Sài Gòn, Hà Nội, mà nạn buôn người chưa bao giờ
gián đoạn trên thế giới.
Tính phổ quát trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không
chỉ dừng lại ở những trang phóng sự, mà bao trùm lên toàn thể tác
phẩm của ông như một con đường tư tưởng xuyên sâu vào sự lầm than
của kiếp người, của sự người bóc lột người, ở bất cứ thời nào, nơi
nào, càng sâu sắc và khốc liệt hơn dưới những chế độ độc tài mà
pháp luật dừng lại ở vùng ngoại cảnh.
Từ năm 2000, khi Lại Nguyên Ân và Piter Zinoman giới
thiệu thêm một số tác phẩm đã đăng báo nhưng chưa in thành sách
của Vũ Trọng Phụng, trên hai cuốn Vẽ nhọ bôi hề và Chống nạng lên
đường (nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2004), và bốn năm sau, Lại Nguyên
Ân cho in cuốn Nghiên cứu văn bản Giống tố (nxb Tri thức 2008),
chúng ta có thêm một số tư liệu quý nữa về Vũ Trọng Phụng và có
thể nói, trên bình diện tìm lại và nghiên cứu văn bản, Lại Nguyên
Ân và Peter Zinoman đã hoàn thành những công trình đáng kể về Vũ
Trọng Phụng.
Nhờ những văn bản mới tìm ra này, nhất là những truyện
ngắn in trên báo năm 1930-31, (sáng tác lúc Vũ Trọng Phụng mới 18,
19 tuổi, với bút pháp già dặn và từng trải), chúng ta có thể biết
được khuynh hướng tư tưởng của Vũ Trọng Phụng ngay từ những sáng
tác đầu tay. Tư tưởng ấy có thể chia làm hai hướng: hướng về tính
dục qua các truyện ngắn: Thủ đoạn,(1/1931), Cô Mai thưởng xuân (3/1931)...
và hướng về tính bất nhân của con người, trong các truyện Một cái
chết (3/31), Bà lão loà (4/31), Chống nạng lên đường (7/31), nhất
là truyện ngắn Bộ răng vàng (in năm 1936) là một kiệt tác.
Vấn đề tính dục
Vấn đề tính dục trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
đã làm ngứa mắt cả một thành phần trí thức "nghiêm chỉnh"
và ông bị kết án là dâm ô.
Ngày nay đọc lại những tác phẩm, hay những đoạn văn
bị kết án, chúng ta không còn có gì phải ngượng, phải nhăn mặt như
các "cụ" thời trước, vì những "sự" ấy chẳng
có gì đáng kể, so với lối viết bây giờ.
Vũ Trọng Phụng không phải là một tác giả dâm ô, kích
dục, ông chỉ là nhà văn đầu tiên dám đề cập đến vấn đề xác thịt
và tính dục của con người mà điều kiện viết của thập niên 30 cho
là những cấm kỵ.
Vấn đề tính dục được đề ra lần đầu tiên trong tiểu
thuyết Việt Nam, năm 1931, qua hai truyện ngắn Thủ đoạn và Cô Mai
thưởng xuân.
Cô Mai thưởng xuân là sự chơi chữ của nhà văn: chữ
thưởng rất rõ ràng và cũng rất mờ ám, chữ xuân hai nghĩa. Truyện
viết về sự đòi hỏi và thoả mãn tính dục giữa Mai, cô chủ dạy thì
và thằng nhỏ đầy tớ, trong những đêm rút bất ngày Tết. Thằng nhỏ
đã sớm nhìn thấy sức quyến rũ và sự kích lệ của cô chủ đang độ xuân
thì, nó không ngần ngại, vụng trộm tìm cách "đáp ứng"
nhu cầu của cô chủ để nhận tiền thưởng. Cô Mai thưởng xuân viết
khá kín đáo cho nên người đọc khó nhận ra ý nghiã tính dục nằm sau
ngôn ngữ.
Cùng năm ấy Vũ Trọng Phụng bị ra toà vì một đoản
thiên tiểu thuyết (theo sự suy luận của Lại Nguyên Ân) đó là truyện
Thủ đoạn, in trên Ngọ báo đầu năm 1931.
Thủ đoạn viết về một người thư ký, muốn phục vụ chủ
hết mình, cưới một người vợ trước kia là gái điếm, ép nàng phải
hiến thân cho chủ, và chính anh ta cũng đã hiến mình cho chủ nhiều
lần. Không chấp nhận sự nhục nhã, người vợ tự tử.
Ngoài yếu tố tính dục, yếu tố quan trọng thứ hai
trong hai truyện ngắn này là quan hệ chủ tớ: là sự nô lệ của con
người nhưng dưới hình thức cộng hưởng khoái lạc. Truyện Thủ đoạn
đi xa hơn, dám đề cập đến vấn đề đồng tính trong một xã hội lễ giáo
mà tất cả vần đề xác thịt đều bị coi là dâm loạn.
Cô Mai và Thủ đoạn báo hiệu tính cách điều tra của
Vũ Trọng Phụng về bản chất dục tính của con người xuyên qua triết
học Freud, mà vài năm sau trong truyện dài Làm đĩ, ông đào sâu hơn
vào tiềm thức một cô gái điếm và vào những nhân vật như Thị Mịch
trong Giông tố, Bà Phó Đoan trong Số đỏ...
Sự bất nhân của con người
Một tín hiệu đi đôi với khuynh hướng thứ hai trong
tư tưởng Vũ Trọng Phụng: sự bất nhân trong con người. Tháng tám
năm 1931, ông dịch truyện ngắn Fou (Điên) của Guy de Maupassant.
Trong đó Maupassant ghi lại hồi ức một ông toà điên, mặt tiền xử
tử những tội phạm, mặt hậu chính ông toà là kẻ giết người.
Truyện của Maupassant đã ảnh hưởng đến Camus khi
viết La chute (Sa đoạ), và chắc chắn đã củng cố thêm cho cái nhìn
Vũ Trọng Phụng về cái ác của con người. Những nhân vật trong những
truyện ngắn như Một cái chết, Bà lão loà, Chống nạng lên đường,
Vũ đã mô tả sự bất nhân trong nhân tính như một hiện thực không
xoá bỏ được. Và muốn tìm hiểu sự lầm than, chết chóc thì phải lật
cái bộ mặt bất nhân ấy lên, phô ra ánh sáng.
Một cái chết viết về một thầy cai thu thuế chợ, goá
vợ, bao nhiêu tình thương dành cho đức con duy nhất là thằng Hợp,
nhưng khi hành nghề, thày cai lại không tiếc tay đánh đập hành hạ
những người không đủ tiền đóng thuế chợ. Một đêm đông mưa gió, có
người ăn mày đói rét đến gõ cửa, thầy cai tàn nhẫn đuổi đi. Sáng
hôm sau, Thằng Hợp nhìn thấy xác người ăn mày chết cóng nằm bên
miệng cống ruồi bu nhặng bám, đứa bé nhạy cảm giàu lòng thương người
đã không chịu nổi cái nhìn thê thảm ấy và nó đã uống dấm thanh trộn
thuốc phiện tự tử.
Bà lão loà là một bà cụ 76 tuổi, trọ nhờ gia đình
người cháu, trước đã chịu ơn bà. Ngày xưa khi còn giàu có, bà cụ
đã cứu bao nhiêu mạng sống. Nay bà gặp cảnh khốn cùng thì không
còn nhờ cậy được ai. Hàng ngày phải ra gốc đa ngồi ăn xin. Một hôm
trời bão, muốn cho bà cụ không về nữa, để bớt một miệng ăn, người
vợ cản chồng không cho sai con đi đón bà cụ loà về. Hôm sau người
cháu thấy xác bà cụ bị quạ mổ nát nhừ trong ruộng.
Những bi kịch trên đây cho thấy ngòi bút Vũ Trọng
Phụng luôn luôn đi đến tận cùng, đến dút điểm về con người, về thiện
cũng như về ác.
Truyện Bộ răng vàng đưa ra một thực tại kinh hoàng.
Sau khi cha chết, đứa con trai "xử lý" bộ răng vàng của
bố:
"Nó nhìn sau nhìn trước, lắng tai nghe kỹ, thấy
vợ chồng anh mình đã ngáy mới yên trí, rón rén đến bên giường bố
chết, lật cái chăn ra.
Để một tay giữ trên đôi mắt người đã qua đời, còn
một tay nó bóp lấy hàm, cố vành cho được. Thấy hơi răn rắn, nó liền
dùng hết sức, cố vành mồm kẻ chết lấy ra được bộ răng vàng. Như
người sốt rét phải chậu nước lạnh dội vào mình, nó bỗng run lên
bần bật. Bộ răng vàng rơi lăn xuống đất nó cũng không kịp nhặt,
vì khi nhìn lại đôi mắt của kẻ qua đời đã bị bàn tay phũ phàng kia
làm cho lật hẳn mi lên. Mà cái mồm, một cái mồm không răng trông
sâu hoăm hoắm mà tối om om, sau khi đã bị vành thì thôi, nhất định
không thèm ngậm lại. Người chết hình như trợn mắt, há mồm, nguyền
rủa thằng con bất hiếu, trông đáng sợ vô cùng.
Nó đứng ngây ra đấy kinh khủng mà nhìn không chóp
mắt một hồi, rồi sau khi rú lên một tiếng, bưng mặt đẩy cửa chạy
đi" (Bộ răng vàng, tuyển tập Vũ Trọng Phụng, trang 548).
Nhưng chưa hết, khi thằng em hoảng sợ rú lên vùng
chạy, tránh ánh mắt kinh hoàng của người chết, thì anh nó tỉnh dậy,
nạt nộ em rồi thản nhiên nhặt bộ răng vàng đút vào túi!
Cái hiện thực mà Vũ Trọng Phụng mô tả, đi xa hơn
bất cứ nhà văn nào từ trước đến giờ. Ông không cho ta một ảo tưởng
nào nữa về con người, nghiã là ông đã đi sâu vào lòng giếng không
đáy của sự bất nhân, đã đi tới non cùng thủy tận của lòng người.
|