|
Cánh
Đồng Bất Tận
Nguyễn Ngọc Tư
CHƯƠNG
2
Cánh đồng không
có tên. Nhưng với tôi và Điền, chẳng có nơi nào là vô danh, chúng
tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên
mỗi cánh đồng. Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn, chỗ
tôi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai này khi trôi dạt đến một
nơi nào khác, nhắc đến cánh đồng này với cái tên của chị, chắc chúng
tôi sẽ xốn xang.
Sáng sớm ngày thứ ba, chị ngồi dậy được, ngó quanh,
chị hỏi, "Trời đất ơi, chỗ nào mà vắng tanh vậy nè". Làng
xóm xa xa đằng phía những rặng dừa xanh thẩm. Đồng đất trống trơn,
trên đôi bờ kinh chơ vơ những cây gòn. Hai đứa nhỏ đầu mướt sương
đang hí húi trộn thức ăn cho vịt, nhìn chị ngạc nhiên đến ngây ngất.
Giọng nói chị không bị thương tích gì hết, trong vắt và ngọt ngào.
Chị hỏi "Tắm ở đâu, mấy cưng?". Tôi chỉ
xuống kinh. Chị ngó những váng phèn, ngao ngán. Điền nói, đằng kia
có một cái ao.
Đó là một hố bom cũ, bình bát mọc quanh, rau muống
chằng chịt phủ kín mặt nước, cọng rau ốm nhằng, đỏ au. Chỗ này,
hôm qua, Điền đã câu được những con cá thát lát ú mềm. Chị trầm
mình dưới đó rất lâu, chẳng kỳ cọ gì, chỉ để nước lạnh chườm dịu
lại những chỗ đau. Lúc chị lên bờ, tôi thấy máu lợn cợn theo những
giọt nước nhỏ xuống giữa hai đùi, chắc chị đã làm gì với chỗ keo
dán ác nghiệt ấy. Rồi cũng lâu lắc, cũng cà nhắc từng bước ngắn
như lúc đi, chị với tôi quay lại bờ kinh. Điền hí hửng khi thấy
chị chịu mặc chiếc áo sơ-mi thẫm phèn và cái quần cụt quăn queo
của nó.
Chỉ có cha lầm lì dọn cỏ quanh chòi. Chỉ có cha
là hờ hững với thành quả của hai chị em tôi. Không chấp thái độ
lạt lẽo của cha, chị ngó về phía người đàn ông đang vồng lưng trong
nắng sớm, chếnh choáng: "Ba mấy cưng đẹp trai dễ sợ…".
Vì lẽ đó? Có phải vì cha mà chị ở lại với chúng
tôi, trên một cánh đồng vắng ngắt. Những vết thương đã lành rất
mau. Chị cười, bị đánh hoài riết cũng quen. Tôi hỏi chị làm gì để
bị đánh. Chị cười, "Làm đĩ". Rồi có lẽ chị áy náy vì quá
sỗ sàng với chúng tôi, chị vò đầu Điền "chắc mấy cưng không
biết đâu…".
Điền nhìn tôi cười. Chúng tôi đã gặp nhiều, rất
nhiều người phụ nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên
đê, lượn lờ quanh lều của những thợ gặt, những người đàn ông giữ
lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Họ cố làm ra vẻ trẻ trung, tươi tắn
nhưng mặt và cổ đã nhão, nhìn kỹ phát ứa nước mắt. Đêm đến, sau
các đụn lúa, họ thả tiếng cười chút chít, tiếng thở mơn man… lên
trời, làm nhiều người đàn bà đang cắm cúi nấu cơm, cho con bú trong
lều thắt lòng lại. Tối nào mua rượu cho cha, chúng tôi cũng đi ngang
qua những đôi người. Chúng tôi nhận ra họ ngay, khi không còn mảnh
vải nào trên người họ vẫn điềm nhiên cười khúc khích và uốn éo thân
mình chứ không trơ ra ngượng ngịu, cam chịu như những người phụ
nữ quê. Sáng sau, họ xiêu xiêu biến mất, đem theo mớ tiền công ít
ỏi suốt một ngày làm việc quần quật của đám đàn ông.
Chị, cũng giống như họ, chớm tàn tạ, đói rã ruột
ở thị thành mới chạy xuống quê, cất cái quán nhỏ, giả đò buôn bán
bánh kẹo lặt vặt, thực chất là làm nghề. Ở đó đàn ông dễ tính và
thiệt thà. Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đêm đêm, bằng
tiền bán lúa, dừa khô hay những buồng chuối chín. Cũng có lúc thu
hoạch bất ngờ, khi chị mồi chài một người đàn ông vào trò chơi giường
chiếu, suốt hai ngày đêm, và chị được một triệu hai. Đó là vốn vay
xoá đói giảm nghèo, khi về tới nhà, với tám trăm ngàn còn lại trong
túi, hẳn người đàn ông ấy não nề biết bao nhiêu, oán chị biết bao
nhiêu khi thấy vợ con nheo nhóc bu quanh nồi khoai luộc trong nhập
nhoạng nắng chiều.
- Ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu
bị đánh cũng đáng đời, hen mấy cưng?
Chị nói, và ngã nghiêng cười, dường như chị thấy
mình trả giá vậy cũng vừa. "Mà hên nghen, nhờ vậy mà gặp được
mấy cưng, được ở chung vầy, vui thiệt vui...".
Cha không vui, vì có thêm một miệng ăn. Bầy vịt
cũng không vui, chúng mổ vào chân chị mỗi khi chị bước qua rào,
"bà ở đây làm chi để phần ăn của tụi tui bị xén bớt, trong
máng độn toàn là trấu ngán thấy ông thấy cha, đã vậy còn bắt tụi
tui đẻ trứng để nuôi bà". Chị nhảy xổm ra, la oai oái, sau
lại cười (mà con mắt đung đưa phía cha) "mai mốt mấy con vịt
quỷ này sẽ khoái chị, mấy hồi…".
Nhưng tôi và Điền biết thể nào chị cũng ra đi, trong
mỏi mòn. Quãng thời gian chị bên chúng tôi, vì thế cũng mong manh.
Nhiều khi lùa vịt ăn mót một đỗi đồng, nghĩ chị bỏ đi, Điền thảng
thốt chạy về.
- Mấy cưng thương chị thiệt hả? Tội chưa…!?? ".
Chị ngạc nhiên, thấy nước mắt ràn rụa trên má thằng
Điền (mà chị không biết là nó bị bệnh chảy nước mắt sống từ hồi
chín tuổi). Thật cảm động khi đời đánh ta tả tơi bầm dập, vậy mà
hai đứa nhỏ này lại trìu mến, quyến luyến lạ lùng. Thêm một lý do
nữa để chị ở lại với chúng tôi, trong một mùa hạn nóng bỏng, bất
thường.
Mùa đến sớm. Vì vậy mà nắng rất dài. Mới rồi, chúng
tôi dừng chân ở một xóm nhỏ bên bờ sông lớn mênh mang. Mỉa mai,
người ở đây lại không có nước để dùng (như chúng tôi đi trên đất
dằng dặc mà không có cục đất chọi chim). Người họ đầy ghẻ chóc,
những đứa trẻ gãi đến bật máu. Họ đi mua nước ngọt bằng xuồng chèo,
nín thở để nước khỏi sánh ra ngoài vì đường xa, nước mắc. Buổi chiều
đi làm mướn về, họ tụt xuống ao tắm táp thứ nước chua lét vì phèn,
rồi xối lại đúng hai gàu. Nước vo cơm dùng để rửa rau, rửa rau xong
dành rửa cá. Con nít ba tuổi đã biết quý nước, mắc lắm cũng ráng
chạy ra vườn đái vô chậu ớt, chậu hành (báo hại cây rụi lá). Ở đó,
có người con trai bảo, "ước làm sao trước lúc má tui chết,
bà được tắm một bữa đã đời". Câu nói này làm tôi thương anh
ta quá chừng. Hôm tôi đi, anh tần ngần đứng bên hè, hỏi nhỏ "Không
biết em có muốn ở lại với… má tui?!". Tôi lắc đầu, hai gàu
nước ít ỏi của má anh, tôi nỡ nào sẻ nửa?
Tôi giục cha rời khỏi cái xóm tàn tạ đó. Những cánh
đồng chúng tôi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông. Người ta không
thể trồng đậu, trồng dưa vì thiếu nước. Bầy con nít giỡn nhoi trên
những con kinh khô trơ lòng.
Chỗ chúng tôi cắm lều cầm vịt, nước đã sắc lại thẫm
một màu vàng u ám. Nhưng chúng tôi chẳng có chỗ nào để đi nữa, từ
bờ bên kia của sông Bìm Bịp là vùng đệm cho những cánh rừng tràm
lớn. Mùa này, người ta lấy nước từ tất cả các dòng sông nhỏ, các
con kinh để bơm vào rừng, chống cháy. Chúng tôi cũng không thể ngược
sông Bìm Bịp băng qua vùng Kiên Hà, ở đó họ kiểm dịch thú y rất
gắt gao. Và dịch cúm gia cầm nghe đâu vẫn còn bùng phát khắp đồng
bằng.
Để bầy vịt khỏi bị chôn sống (điều đó đồng nghĩa
với việc đứt vốn cho mùa sau), bọn tôi quyết định vẫn cầm chúng
ở đây. Chúng được nuôi trong sự mỏi mòn. Ngày ngày, tôi lùa vịt
đi ăn mót những bông lúa khô quắt queo trên đồng, không có nước
chúng bì bạch, chậm rì và chẳng thể đi xa. Trứng thưa thớt, những
quả trứng chúng đẻ ra cũng chai ngắt, dài nhằng, nhẹ tênh, vỏ dày
sần sượng. Đòi hỏi gì nữa ở những con vịt đã già, đã đẻ quần quật
suốt ba mùa trước, đã vô vọng vì ngày càng khó tìm lúa và cám trong
máng thức ăn. Ngay cả nước để chúng tắm táp cũng chua lét vì phèn.
Mà, mùa mưa vẫn còn xa lắm.
Ngày ngày, Điền rủ chị đi giăng lưới, nhắp cá và
tát những cái mương cạn. Cá ăn không hết, chị đem vô xóm bán và
hãnh diện đưa cho cha vài mươi ngàn thừa sau khi đã sắm ít quần
áo. Mắt chị nhìn cha đầy khiêu khích, "Cuộc đeo đuổi vẫn còn
dài, cưng à…".
Chị đổ lì. Chị tìm mọi cách để sà vào cha. Một bữa
chị bảo Điền xuống ghe ngủ với tôi, còn chị sẽ lên chòi. Đó là một
đêm tối nhờ nhờ, trôi trên trời một mảnh trăng mỏng leo lét. Điền
ngọ nguậy, xoay trở liên tục, nó kêu khó ngủ, đòi nghe tôi hát,
bài gì cũng được. Nhưng Điền vẫn thao thức, dường như giọng hát
tôi không át được tiếng sột soạt rạo rực trong cái chòi nhỏ trên
bờ. Điền chê ngủ ghe chòng chành quá chừng.
Tôi biết lòng nó đang chao.
Điền có những ngày bối rối. Nó hay hỏi tôi, "người
ta thương mẹ ra làm sao?". Mặt nó dãn ra, khi biết cây kẹp
tóc, trái dừa tươi hay con cá thác lác… mà nó dành cho chị cũng
giống hệt như người ta vẫn thường cho mẹ. Và niềm nhớ lúc đi xa,
nỗi khao khát được nằm gần, được dụi mũi mình vào da thịt người
đó… cũng tự nhiên như ý nghĩ bình thường nhất của những đứa con.
Nhưng những nghi hoặc vẫn loay hoay trong mắt Điền, và nó quyết
định chịu đựng một mình, khám phá một mình. Thí dụ như đêm nay,
cái gì khiến tim ta đau nhói, cái gì làm cho ta cảm thấy giận dữ,
nặng nề?
Khi tôi thức dậy, Điền đã mệt mỏi thiếp đi, nó nằm
co quắp, hai tay kẹp giữa đùi, mặt buồn như phủ một lớp sương giá.
Chị bước ra khỏi chòi, khoan khoái vươn vai. Sự ưng ý, mãn nguyện
lấp lánh trên khoé mắt. Khuôn mặt chị tràn ngập ánh sánh, như chị
vừa mở ra một cánh cửa mặt trời. Có một con đường nào đó trãi dài
trước chị. Chị cười, bảo:
- Hồi hôm sương nhiều ghê, nó nhiểu lên mặt chị
hoài, nhột gần chết.
Rồi chị giành nấu cơm. Chị xoắn tay áo lên hì hụi
thổi lửa, đầu tóc xấp xãi dính đầy vảy cá. Trông chị như bà vợ tảo
tần. Hình ảnh ấy làm tôi ứa nước mắt, nhưng cha tôi chỉ lạt lẽo
nhếch cười. Vì cái cười đó mà tôi ứa nước mắt thêm lần nữa.
Cha đưa chị một ít tiền ngay trong bữa cơm, khi
nhà đủ mặt, "Tôi trả cho hồi hôm…". Rồi cha điềm nhiên
phủi đít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê trong
mắt. Chị nhét tiền vào trong áo ngực, cười, "Trời ơi, ba mấy
cưng sộp quá chừng".
Điền và tôi rủ chị đi câu (Chúng tôi cho là chị
buồn, dù chuyện đó khá tức cười, làm điếm được trả tiền mà buồn
nỗi gì). Suốt buổi, không dính con cá nào, chị nói, "Mắc cười
quá, tới mấy con cá quỷ này còn chê chị". Câu nói nghe tỉnh
bơ, bâng quơ mà tủi vô phương. Điền lặng bắt con cá rô lội xuống
mương, lặn sâu, móc cá vô lưỡi câu của chị. Lúc nó trồi đầu lên
thì đã thấy chị cười.
Trưa ấy chúng tôi trầm nghịch dưới nước rất lâu.
Chị cười nôn khi thấy bùn bám dưới mũi tôi xám xanh như bộ râu củ
ấu. Tự dưng nét mặt chị bỗng âu yếm lạ, như đang nựng nịu một đứa
bé con và thằng em trai mười bảy tuổi của tôi đứng đực ra, chết
lặng trong nỗi ngượng ngùng. Nước cồn cào chỗ bụng nó, tôi biết
chị đang táo tợn làm gì đó phía dưới. Rồi phát hiện ra một mất mát
lớn lao, chị thảng thốt kêu lên:
- Trời đất ơi, sao vầy nè, cưng?
Chị toàn hỏi những câu hỏi khó. Chỉ nghe thôi đã
đau, nói chi trả lời. Thí dụ như có lần chị hỏi "Má mấy cưng
đâu?", "Nhà mấy cưng ở chỗ nào?", thằng Điền đổ quạu:
- Biết chết liền!
<<
>>
|