|
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Việt Sử Siêu Linh
Hạ Long Lưu Văn Vịnh
TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM: NHÀ TIÊN TRI
CỦA VIỆT TỘC
Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, cách đây khoảng 500
năm, trên thế giới xuất hiện hai nhà tiên tri lừng danh là Trạng
Trình bên Việt Nam và Nostradamus bên Pháp.
Thời đại này Tây phương nổi lên phong trào Tin Lành,
bên Tầu nẩy ra tân Nho thuyết của Vương Dương Minh, bên ta phát
sinh Thánh mẫu Liễu Hạnh, bắt đầu thực sự Nam Tiến mở đầu khúc rẽ
lịch sử văn hóa trọng đại nhất kể từ ngày lập quốc.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật lịch sử độc nhất
trong sử Việt làm cố vấn một lúc cho ba bốn phe đối nghịch nhau:
Mạc, Lê, Nguyễn, Trịnh.
Ông vượt lên như một Tiên ông trên non cao mây trắng
nhìn xuống bàn cờ người, thương tình chỉ cho nhân thế đua chen vài
nước cờ tiến thoái sinh tồn tạm thời, mặc dù trong đôi mắt tiên
tri ông đã nhìn thấy rất xa lẽ được thua "ngũ bách niên tiền,
ngũ bách niên hậu".
Ông sinh năm 1491, cách đây 507 năm. Ông sinh sau
Nguyễn Trãi 111 năm, trước Nguyễn Du 274 năm, kém Mạc Đăng Dung
8 tuổi và cùng quê với ông vua xuất thân đánh cá này. Tại Cổ Am,
Hải Dương (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) từ lúc sinh ra tới
năm 13 tuổi (1481 - 1504), Nguyễn Bỉnh Khiêm được sống yên ổn dưới
triều thịnh trị Hồng Đức và Lê Hiến Tông.
Từ lúc lớn lên trong 23 năm liên tiếp (1504 - 1527),
nhà Lê mạt vận thay đổi tới 6 ông vua, toàn là vua Quỷ giết bà nội
(chính cung vua Lê Thánh Tông), giết cận thần, như Lê Uy Mục, hay
vua Heo như Lê Tương Dực, hoang dâm bạo ngược, đến nỗi sứ thần nhà
Minh phải gọi là Quỷ Vương và Trư Vương, lại còn than hộ nước Việt
là "thiên ý như hà giáng quỷ vương" ! (ý trời sao lại
giáng vua quỷ !).
Tương truyền ông thông minh từ nhỏ, lên một tuổi
đã biết nói, lên bốn đã thuộc thơ và kinh sử do bà mẹ hay chữ và
giỏi tướng số chỉ dạy. Bà mẹ đặc biệt này là con gái Thượng Thư
Bộ Hộ Tiến sĩ Nhữ Văn Lạn, kén chồng mãi tới năm 30 tuổi gặp ông
Văn Định thấy có tướng sinh đại quý tử nên mới chịu kết duyên vợ
chồng.
Có thuyết nói rằng bà gặp anh đánh cá Mạc Đăng Dung
ở bến đò và tiếc rẻ là không có duyên với con người có tướng cách
đế vương này ! Bà lấy chồng với hy vọng sau đẻ con đạt ngôi cửu
trùng, ngay từ đêm tân hôn bà đã dặn trước chồng là khi nào trăng
lên đến đầu ngọn tre mới được động phòng, nào ngờ ông Văn Định động
phòng hơi sớm nên bà thụ thai không đúng giờ tốt, vì thế tuy sinh
quý tử nhưng không đạt được tột đỉnh thiên tử !
Cũng có truyện kể lại rằng thuở nhỏ Bỉnh Khiêm trông
rất khôi ngô tuấn tú, khi đang tắm với lũ trẻ ở sông Hàn, một người
thầy tướng Tầu đi thuyền qua nói rằng "cậu này đáng lẽ tướng
làm vua, nhưng vì nước da hơi thô nên chỉ làm tới Trạng nguyên Tể
tướng !"
Lúc còn bế ẵm, Bỉnh Khiêm đã biết thốt lời "mặt
trời mọc ở phương Đông" khiến mọi người đều kinh ngạc. Có lần
Từ Thục phu nhân đi vắng, ông Văn Định chơi đùa với con, đọc: "Nguyệt
treo cung, nguyệt treo cung", Bỉnh Khiêm liền đọc tiếp: "vén
tay tiên, hốt hốt rung". Khi trở về nghe chồng kể chuyện, Từ
Thục phu nhân không vui, trách rằng: "mặt trăng là khí tượng
bầy tôi, sao ông lại dậy con như thế !".
Rất có thể với biệt tài tướng số, biết trước vận
số nhà Lê 40 năm sau đời Lê Thánh Tôn sẽ suy tàn, phương Đông (Hải
Dương) có khí tượng đế vương, nên bà đã cố tạo ra một ông vua theo
giờ giấc sinh đẻ chăng ?
Người mẹ có giấc mơ làm Mẫu hậu mất sớm, người con
tên Khiêm, tự là Hanh Phủ, theo quẻ Dịch: Khiêm tốn thì hanh thông,
sau này tuy không làm vua nhưng làm thầy mấy ông vua và là chiến
lược gia chỉ đạo cho dân tộc:
Bắc hòa, Nam tiến.
Thiếu thời
Thuở nhỏ học ở quê nhà, cha từng sung chức Thái học
sinh, mẹ lầu thông kinh sử, lý số, chắc hẳn ông đã đã được rèn luyện
kỹ lưỡng. Khi lớn lên, ông vào Thanh Hóa (cách Cổ Am độ 150 cây
số) học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, nguyên Lại Bộ Thượng Thư.
Trước khi chết ông thầy họ Lương truyền lại cho người
môn sinh đầy năng khiếu lý số cuốn Thái Ất Thần Kinh là một cuốn
sách lý giải Kinh Dịch của Dương Hùng đời Hán, cuốn sách hiếm này
khi đi sứ Tầu, Lương Đắc Bằng đã tìm được.
Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy học giỏi nổi tiếng trong giới
nho lâm nhưng ông đã bỏ không dự khoa thi 1523 và 1526 vì vào thời
hỗn loạn cuối triều Lê, bỏ khoa đầu tiên của nhà Mạc vì thiên hạ
còn chưa phục tùng, mãi tới năm 1534 - 1535, đời vua Mạc Đăng Doanh
thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc, ông mới dự thi và đậu Trạng
Nguyên. Năm ấy ông đã 44 tuổi.
Thời xuất chính : không phải 8 năm mà 30
năm !
Đỗ đầu thi hương, thi hội, thi đình, Tam nguyên Nguyễn
Bỉnh Khiêm được bổ nhiệm Đông Các hiệu thư (sửa chữa văn thư), sau
thăng Tả Thị Lang Bộ Hình, Bộ Lại, kiêm Đông Các Đại Học Sĩ (Tam
phẩm).
Trong 8 năm tại triều (1535 - 1542) ông từng dâng
sớ xin chém 18 lộng thần. Năm 51 tuổi đời vua Mạc Phúc Hải, ông
cáo quan về quê. Ít năm sau triều đình lại vời ông ra làm Thượng
Thư Bộ Lại, Thái Phó, phò giúp vua nhỏ Mạc Phúc Nguyên (1546 - 1561),
cùng với Mạc Kính Điển là chú vua và là cột trụ chống đỡ nhà Mạc.
Trong khoảng 55 tới 73 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy
không ở hẳn kinh đô Thăng Long, nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều
chính, lúc bàn quốc sự, lúc đi đánh giặc, nhà Mạc tôn kính ông như
quân sư, phong ông làm Trình Tuyền Hầu (vì thế dân gian mới gọi
là Trạng Trình). Mãi tới ngoài 70 tuổi ông mới hoàn toàn quy ẩn
nơi quê nhà.
Thời quy ẩn và triết lý sáng tạo "trung
tân"
Ông về quê năm 1563, sống đời tiên thoát tục trong
Am Bạch Vân, bắc cầu Trường Xuân, Nghênh Phong, làm nơi nhàn tản
nhìn trăng hóng mát.
Ông lại khuyên dân làng trồng cây bờ đê để lấy bóng
dâm, mở chợ làm nơi buôn bán, tu sửa đình chùa...
Ông cùng học trò dựng quán Trung Tân nơi bến Tuyết
giang, cho khắc văn khuyến Thiện trên bia đá, bài bia này nói lên
triết lý tư tưởng cao siêu của Trạng Trình : "...Toàn kỳ thiện
giả vi trung, bất toàn kỳ thiện giả tắc phi trung dã... Tân giả
tân dã, tri sở chỉ vi yếu tân, bất tri sở chỉ tắc mê tân dã... Trung
chi sở tại, tức chí thiện chi sở tại..." nghĩa là : "vẹn
toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải
là Trung... Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không
biết chỗ dừng lại là bến mê ... Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí
Thiện..."
Có lẽ trong nghìn năm Nho học mới thấy một nhà Nho
giải nghĩa chữ Trung Dung một cách giản dị, đầy đủ và sáng tạo như
vậy. Cốt tủy của Trung phải là Thiện, không có lòng Thiện thì biết
đâu là chỗ Trung, chỗ đúng tiết, chỗ "juste milieu" mà
dừng lai ! Tâm bất chính thì lạc vào bến mê, tâm giác ngộ thì biết
bờ bến để neo thuyền, tư tưởng này phảng phất tư tưởng "Đáo
bỉ ngạn" tức tới được bến của nhà Phật.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nối Nho vào Phật Lão, mang lại
cho nhà Mạc cái vinh dự tiếp tục tư tưởng Tam Giáo Đồng Tôn mà nhà
Lê độc tôn Tống Nho đã đánh mất, và đánh mất nặng nề truyền thống
dân bản khai phóng của Lạc Việt. Ở tuổi thất thập cổ lai hy, Trạng
Trình có phong thái của một Lã Vọng Khương Tử Nha ngồi câu bên bờ
sông Vỵ, một Gia Cát Lượng nằm ngâm thơ chân núi Ngọa Long :
Ngư ông bất ngộ Đào nguyên khách
Khởi thức hưng vong thế cổ kim !
Tương truyền cụ Trạng thường cùng các nhà sư già
đi thăm các nơi danh lam thắng cảnh, nay Yên Tử, Đồ Sơn, mai Ngọa
Vân, Kim Hải...học trò trước sau đông tới ba nghìn người. Cụ có
ba phu nhân, 7 trai và 5 gái.
Năm 1585 tuổi già lâm bệnh, biết mình khó qua, cụ
Trạng 95 tuổi còn dâng sớ xin vua "... thần tính độ số thấy
vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định,
sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua
hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng,
trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được
cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng".
Nhà Mạc cử cột trụ Triều đình là hoàng thân Khiêm
Vương Mạc Kính Điển cùng các quan về tế lễ, sai lập đền thờ, cấp
ruộng tự điền trăm mẫu, vua Mạc Mậu Hợp lại đích thân viết chữ đề
lên đền thờ: "Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ".
Bảy năm sau khi Trạng Trình mất, 1592, nhà Mạc cũng
mất theo, tuy còn giữ đất Cao Bằng thêm được 4 đời nữa. Xem thế
Trạng Trình đã dốc lòng phò Mạc và nhà Mạc cũng hết mực cung kính
cây cổ thụ che chở triều đại suốt 60 năm.
Một trăm năm sáu năm sau, 1741, Tiến sĩ Vũ Khâm Lân
nhân đi đánh giặc và đắp đê tới thăm đền thờ Trạng Trình, viết tựa
cho tập gia phả của họ Nguyễn Bỉnh vào đời thứ tám (ngã bát thế
chi hậu, binh qua khởi trùng trùng !) đã xúc động mô tả kiểu đất
"Nghiễn trì thủy ảnh", tức mặt hồ nghiên, ánh nước long
lanh, là đất phát sinh bậc đại nhân, đầm nước sâu hơn một trượng,
bốn năm vụng đất trên khoảng vài trăm mẫu, chỗ thắt chỗ phình, khi
lặng bóng, khi nắng vàng tỏa ánh.
Đạo học của bậc quân sư: môn phái Bạch vân
am với quyết sách tam phân thiên hạ
Từ cổ xưa, trước khi rơi vào cái học Tống Nho khoa
cử độc tôn, tầm chương trích cú, người trí thức theo Đạo học, học
để hành, hành tàng theo đạo. Đạo học là Đại học, quan để quán, bao
quát mà vẫn qui về một mối (Uni- versity).
Trạng Trình và các môn đệ của ông như Trạng Phùng
Khắc Khoan, Nguyễn Dữ (tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục), Nguyễn Quyện
(danh tướng nhà Mạc), Trương Thời Cử, Trạng Giáp Hải, Lương Hữu
Khánh... tập hợp thành một môn phái Đạo học, Đại học chi đạo, tiếp
nối truyền thống Lý, Trần, học cả Nho lẫn Phật, Lão, cả Tứ Thư Ngũ
Kinh lẫn các môn lý học, huyền học, binh thư, phong thủy địa lý...
Trạng Trình phân phối môn đệ thân hữu đi mọi hướng
đất nước: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh... vào với nhà Lê trung
hưng ở Thanh Hóa, Nguyễn Đình Thân, người cùng quê Hải Dương, đi
với Nguyễn Hoàng vào Hoành Sơn, Trạng Giáp Hải, Nguyễn Quyện và
chính mình phò Mạc tại quốc đô Thăng Long cho tới gần hết thế kỷ
XVI.
Sở học của Trạng Trình có lẽ được chính bà mẹ nuôi
dưỡng uốn nắn từ nhỏ : học để làm vua, không làm vua thì cũng làm
thầy vua, đấy là truyền thống "đế vương chi học" cao siêu
của của bậc đại nhân :
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ
Du nhàn ngã thị địa trung tiên
Mà muốn vậy thì trên phải thông thiên văn, dưới phải
rành địa lý, mưa gió nắng bão phải biết trước như Gia Cát , Trương
Lương, chiến lược chiến thuật đều tinh thông nên có thể xếp đặt
thiên hạ như bàn cờ , nhà Mạc một phần, Lê Trịnh một miếng, họ Nguyễn
một phương...thế Tam quốc này chính Trạng Trình và môn đệ phân định
thi hành, mặc dầu Trạng Trình cũng như Gia Cát, biết là mình đang
cố lấy nhân lực để cưỡng mệnh trời, thế loạn mà muốn trị cũng giống
như "con ngao to đội núi đỡ trời cao" . Cho nên dù có
than :
Cổ lai nhân nghĩa tri vô địch
Hà tất khu khu sự chiến tranh
dịch :
Nhân nghĩa xưa nay là vô địch
Sao vẫn khư khư việc chiến tranh
Vẫn phải cáng đáng thiên mệnh, tận kỳ tính, lo toan chuyện dân chuyện
nước.
Từ Bạch Vân Am Trạng Trình dùng cái nhìn chiến lược
và phong thủy để mở ra mặt trận Nam phương cho Nguyễn Hoàng: vừa
thực hiện việc mở rộng bờ cõi, vừa lấy thế hiểm mà dung thân, ông
thôi thúc Phùng Khắc Khoan vào Thanh Hóa với nhà Lê vì sau này,
1598, chính họ Phùng đi sứ sang Tầu đã dàn xếp chấp nhận để yên
cho họ Mạc ở đất Cao Bằng.
Chính Trạng Bùng là người theo chí thầy viết tập
Sấm Văn và tập Chu Dịch Quốc Âm Ca Quyết, việc ông hai lần gặp Liễu
Hạnh Thánh Mẫu hiển linh, lần đầu ở Lạng Sơn, lần sau ở Tây Hồ,
là một khúc mắc lớn.
Có thể chính hai thầy trò, đều tinh thông lý số,
đều viết Sấm, đã nhân chuyện linh thiêng mà dựng nên một tín ngưỡng
bình dân, lấy hình ảnh một bà Mẹ dân tộc làm mái che bên cạnh Phật,
Lão, đang bị Nho đè xuống ?
Dù sao, không thể phủ nhận khả năng thần toán của
Trạng Trình mà sứ nhà Thanh Chu Xán sau này phải nhận là "An
Nam lý số hữu Trình Tuyền". Rõ ràng nhất là bài văn tế của
Tiến sĩ Đinh Thời Trung khóc thầy và xác định tài lý số của thầy
:
Một kinh Thái Ất thuộc lòng
Đốt lửa soi gan Dương Tử
Một mình lý học tinh thông
Hai nước anh hùng không đối thủ...
Đạo thống Thánh nhân tự tiên sinh mà truyền ra
Bờ cõi Thánh nhân duy tiên sinh là thấu đáo
Đuốc ngọc chưa tàn ba ngọn
Văn viết đã xong...
Như vậy quả có Thái Ất, Thái Huyền của Dương Hùng
làm luận giải cho Kinh Dịch và quả có chuyện thầy trò từng ngồi
đoán số gieo quẻ với nhau.
Bên cạnh những lời cố vấn như Hoành sơn nhất đái,
vạn đại dung thân cho Nguyễn Hoàng, Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản
và Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, nên tìm giống cũ mà gieo
mạ, cho Trịnh Kiểm tiếp tục phò Lê, hay dặn dò Cao Bằng tuy thiểu,
khả diên sổ thế (đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng cũng ở được mấy đời)
cho con cháu nhà Mạc, thơ văn Trạng Trình cũng xác nhận lý số sấm
ký là một khía cạnh trong Đạo học của Trạng :
Thái cực nhất chu đàm luận liễu
Tri ngô thấu đắc Dịch chi thâm
Dịch :
Thái cực một vòng đàm luận suốt
Biết tôi Dịch lý thấu thâm sâu
Quẻ Phục "thiên địa chi tâm" trong kinh
Dịch được nhắc tới nhiều lần :
Bác vãng tĩnh quan tri tất Phục
Nhất dương dĩ nghiệm Địa Lôi trung
Dịch :
Quẻ Bác qua, lặng yên xem Phục đến
Một Dương nghiệm thấy giữa Địa Lôi
(Quẻ Phục sau quẻ Bác, gồm Khôn trên và Chấn dưới,
năm hào Âm đè ở trên, một hào Dương bắt đầu mọc ở dưới để Phục lên,
vạn vật suy mãi cũng phải nẩy ra thịnh, đen mãi cũng có hồi đỏ,
ánh sáng ở cuối đường hầm, đó là tâm của trời đất không nỡ để cái
gì suy mãi ).
Hay câu :
Tĩnh quan vạn vật sinh sinh ý
Ưng kiến vô cùng thiên hạ tâm
Dịch :
Lặng xem vạn vật sinh thông
Thấy lòng trời đất mênh mông vô cùng
Khi ra làm quan, ông đã biết trước :
Quý thế khí tài tuy tạm xuất
Hưng vương lương tá dĩ tiền tri
Dịch :
Thế cuối tài hèn tuy tạm xuất
Vua lên tôi giỏi biết trước ra
Nhất là hai câu thơ sau đây :
Từ thuở hai dê sinh đặt ra
Than ôi tuổi tác kẻ ban già
Nói về năm Ất Mùi (Ất là can thứ hai, dê là năm Mùi)
đậu Trạng Nguyên khi đã 44 tuổi (1535 đời minh quân Mạc Đăng Doanh),
rất giống ngôn từ dùng trong Sấm ký.
Mãi tới cuối thế kỷ XVIII, đời Tây Sơn, La Sơn Phu
Tử Nguyễn Thiệp (1723 - 1804) còn lặn lội ra thăm đền thờ Trạng
Trình và viết trong Thi Cảo là cụ Trạng đã "Phiến ngụ toàn
tam tính" tức khuyên lời ngụ ý bóng gió để ba họ được an toàn.
Một vài chuyện sau đây có thể xác tín vì đã được
ghi lại trong trong gia phả, trong Công Dư Tiệp Ký, hoặc truyền
khẩu từ xưa :
Quẻ "Thiết Đoản
Mộc Trường" (Sắt ngắn gỗ dài)
Một ngày cuối năm ba mươi Tết, cụ Trạng và một người học trò từ
xa đến lễ thầy, hai thầy trò đang ngồi đàm luận thì có người gõ
cổng xin vào.
Cụ sai gia nhân ra nói hãy chờ một chút, trong lúc
đó cụ và người học trò cùng bấm quẻ xem người gõ cổng đêm ba mươi
Tết có chuyện gì.
Hai thầy trò cùng bấm được quẻ "Thiết đoản mộc trường",
tức ứng vào vật sắt ngắn gỗ dài, cụ hỏi :
- Anh đoán xem là người gõ cổng có việc gì ?
Người học trò trả lời :
- Thưa thầy, sắt ngắn gỗ dài thì chỉ có cái mai,
chắc có người vào mượn cái mai đào đất.
Cụ nói :
- Tôi đoán khác anh một chút, người gõ cổng đến mượn
búa chứ không phải mượn mai.
Khi mở cổng cho người hàng xóm vào thì đúng là vào
mượn búa chứ không phải mượn mai mượn xẻng.
Cụ giải thích cho trò :
- Anh bấm quẻ đã đúng nhưng luận chưa cao. Đêm ba
mươi Tết đến mượn búa để bổ củi nấu bánh chưng chứ giờ này ai còn
đến mượn mai đào đất !
Vớt xác được phú quí
Bùi Sinh là người học trò nghèo trong làng, Trạng
Trình đoán sau này sẽ được phú quí. Mãi tới tuổi 70 Bùi sinh vẫn
không giầu không sang, bèn đến hỏi lại thầy mình.
Cụ Trạng cười không nói gì, rồi bỗng nhiên một hôm
cụ gọi Bùi Sinh lại bảo rằng :
- Hãy mang thuyền đánh cá ra cửa bể Vạn Ninh, tới
giờ ấy...hễ thấy gì trôi trên nước cũng vớt lên, sẽ được trọng thưởng.
Bùi sinh nghe lời ra bến Hồng Đàm ngồi đợi, quả nhiên
một hồi giông bão nổi lên rồi thấy một xác người dạt vào, nhìn kỹ
là xác một người đàn bà ăn mặc quần áo Tầu gấm vóc sang trọng.
Bùi sinh vớt lên, sau này mới biết là xác mẹ Tổng
Đốc Quảng Đông đi chơi ngoài biển bị bão bạt sang phương Nam. Viên
Tổng Đốc Quảng Đông cho người tìm về hướng biển Nam, khi tìm thấy
liền trọng thưởng Bùi sinh rất hậu, rồi Bùi sinh lại được nhà Mạc
phong quan tước vì hành vi ngoại giao tốt đẹp ! (Có chỗ thuật hơi
khác là bà mẹ Tổng Đốc hãy còn sống, Bùi sinh cứu lên và nuôi dưỡng
cho tới khi người Tầu sang đón về, có chỗ lại nói là vớt lên xác
một công chúa Tầu... ).
Những giai thoại khác như "Minh Mệnh Thập Tứ,
Thằng Trứ phá đền" hoặc "Cha con thằng Khả đánh ngã bia
tao", hoặc lấy số Tử Vi cho cái quạt...có thể do người sau
thêu dệt, không có có giá trị tiên tri sấm ký.
9
1
2 3
4 5
6 7
8 9
10 11
12 13
14 15
16
|