|
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Việt Sử Siêu Linh
Hạ Long Lưu Văn Vịnh
CÁC NGÔI ĐẤT ĐẾ VƯƠNG
VÀ THẾ VƯƠNG ĐẠO ĐẤT NƯỚC
Mộ Vua Hùng thứ VI (phá giặc Ân) trên đền Thượng
núi Hùng. Đời vua Hùng được đại địa Phong Châu Bạch Hạc bền vững
ít nhất ngũ bách niên, qui phục thiên hạ, vỗ về trăm họ yên vui,
con dân hưng phát đời đời, mãi tới thế kỷ III trước TL mới suy vi.
Lạc Long Quân vị vua đầu của Lạc Việt mở nước bằng
bốn Vĩ tích: diệt Ngư Tinh biển Đông (trị Thủy), phá Mộc tinh Xương
Cuồng giả dạng cây Chiên đàn ngàn năm (khai Rừng phá núi), lấy Âu
Cơ từ phương Bắc mang về Nam (chống Bắc phương), triệt Hồ tinh chín
đuôi giả dạng Bạch Y Tản Viên Quốc Thần dụ dỗ thiếu niên trai gái
sa đọa vào hang Cáo (diệt yêu tinh ma quỷ).
Nhà Thục tiếp nối rời đô xuống Cổ Loa được có 50
năm thì mất. Sau hơn một nghìn năm, mãi tới đời Ngô Quyền (939 -
944) mới giành lại được độc lập, quốc đô lúc này vẫn ở Cổ Loa.
Phải chờ tới năm 968 Đinh Bộ Lĩnh mới thật sự dựng
lên Đế nghiệp tiếp nối sự nghiệp vua Hùng.
Truyền thuyết phong thủy kể rằng vua Đinh được ngôi
huyệt kết đế vương "mã đầu đới kiếm hữu sát" bộc phát
nhưng không bền.
Nguyên động Hoa Lư có một cái đầm ban đêm ánh hồng
quang bốc lên chiếu thẳng vào sao Thiên Mã, thầy địa lý Tầu đi dò
long mạch từ Tuyên Quang, Hưng Hóa xuống tới phủ Đại Hoàng thấy
sông sâu nước xoáy mạnh biết dưới đầm kết huyệt quí liền nhờ cậu
Đinh Bộ Lĩnh lặn xuống xem xét, khi lặn xuống đáy cậu sờ thấy hình
một con ngựa đá đứng dưới đầm liền lên nói lại với thầy địa lý,
thầy cả mừng đưa cho Bộ Lĩnh một nắm cỏ bảo lặn xuống lần nữa đưa
bó cỏ non nhử vào mồm ngựa xem sao.
Bộ Lĩnh lặn xuống đưa bó cỏ trước mồm ngựa liền thấy
nó há miệng ngoạm lấy. Khi lội lên nói rõ chuyện thầy Tầu biết chắc
là huyệt đại quí thủy mã đang linh liền trọng thưởng cho Bộ Lĩnh
rồi hẹn ngày khác trở lại. Bộ Lĩnh rất tinh khôn liền trở về nhà
mang bó xương cha vẫn để trên gác bếp rồi bí mật lặn xuống táng
vào mồm ngựa.
Từ đấy mỗi ngày Bộ Lĩnh một khôn lớn mạnh mẽ phi
phàm, đánh đâu thắng đấy. Ít năm sau thầy Tầu trở sang thấy Đinh
Bộ Lĩnh đã trở thành thủ lĩnh anh kiệt biết ngay là họ Đinh đã đoạt
ngôi huyệt quí, thầy rất căm tức liền dụng mưu trả thù. Thầy nói
với Bộ Lĩnh là ngựa phải có gươm mới toàn mỹ nên bảo Bộ Lĩnh lặn
xuống đặt một thanh gươm bên cổ ngựa. Bộ Lĩnh không nghi ngờ liền
lặn xuống đầm gác gươm lên cổ ngựa. Quả nhiên từ đấy Đinh Bộ Lĩnh
đánh dẹp hết 12 sứ quân xưng là Vạn Thắng Vương rồi lên ngôi Hoàng
đế. Được đúng 12 năm thì cả hai cha con đều bị ám sát chết vì kiếm
để đầu ngựa tất sinh sát khí !
Câu chuyện sau khi tước bỏ huyền thoại, có thể còn
lại điểm đất Hoa Lư có hình con ngựa gọi là "thủy mã huyệt",
sau này mộ vua Đinh đặt trên núi Mã Yên có nghĩa là trên yên ngựa
.
Cũng có thể các đời vua Đinh, Tiền Lê (Lê Hoàn),
Hậu Lê (Lê Lợi), Chúa Trịnh, Nguyễn, đều phát xuất ở miền đất gần
nhau: Hoa Lư, Lam Sơn, không cách xa sông Mã (cũng lại là ngựa),
đều gốc người Mường, nên hưởng long mạch sông Mã chăng ? Tới đời
nhà Lý thì khoa phong thủy đã rất thịnh hành qua các nhà sư Mật
tông. Đất Cổ Pháp do sư Định Không đặt tên là đất phát Đế vương
lâu bền, nhà Lý với tám vị vua (Lý Bát Đế) là triều đại liên tục
dài nhất trong Việt sử sau đời Hùng, được 215 năm (1010 - 1225).
Có hai thuyết ngoại sử về đại địa họ Lý: một là ông
thân sinh Lý Công Uẩn ngã xuống giếng trong khu rừng Báng bị chết,
sau mối đùn lên thành ngôi huyệt đại phát; hai là bà mẹ Lý Công
Uẩn đi quanh quẩn trong rừng Cổ Pháp hốt nhiên chết, kiến mối xông
lên kết thành mả cao 7 thước được chỗ đất tốt chung linh.
Khi lên ngôi vua về yết lăng, Lý Thái Tổ trông thấy
cây cối xanh tốt, loài chim bay liệng cảm động rơi nước mắt, Vua
sai đo quanh mỗi bên vài mươi thước làm cấm địa, sau gọi là Thọ
lăng (Việt Sử Tiêu Án).
Có lẽ chuyện bà mẹ chửa hoang nhẩy xuống giếng tự
tử sau khi sinh Công Uẩn thì hợp tình lý hơn, dù sao ngôi huyệt
ở giếng trong rừng Báng là một huyệt kết, có tám gò ở chung quanh
nở ra như hình hoa sen tám cánh nên nhà Lý truyền được tám đời vua.
Công Uẩn được sư Lý Khánh Vân nuôi (xưa nay con hoang
mang gửi gấm nhà chùa là chuyện thường, ngoại truyện lại nghi là
một sa môn tư tình làm bà Phạm thị mang thai, có thuyết nói sa môn
nặng nghiệp ấy chính là sư Vạn tức Vạn Hạnh !), sau lại được theo
học với sư Vạn Hạnh nên trở thành một vị vua hiền đức.
Có thể tin rằng sư Vạn Hạnh có ân tình sâu nặng với
nhà Lý nên đã để đất tái phát cho họ Lý sau một ngàn năm (xem phần
Sấm Vạn Hạnh), "Lý đi rồi Lý lại về" là câu đồng dao chỉ
có thể truyền ra sau khi Vạn Hạnh để đất Bảo sơn thiên tử xuất.
Chữ Lý gồm ba chữ thập, bát, tử, hợp thành, Lý Công Uẩn ở ngôi 18
năm (thập bát) 1010 - 1028, sinh ra ở chùa Ứng Tâm nên chùa có tên
nôm na là Chùa Dặn (dặn đẻ !), tại làng Đình Bảng bây giờ.
Sách Đại Việt Sử Lược là cuốn sử cổ nhất của Việt
Nam, được viết vào đời Lý, chép nhiều chuyện rồng xuất hiện trong
cung bên cạnh việc rồng hiện với mây ngũ sắc khi thiên đô ra Thăng
Long.
Đời Lý Nhân Tôn (1066, mẹ là Nguyên phi Ỷ Lan) vua
là con cầu tự, sử chép ngài có tướng "Nhật giác long nhan"
tức xương trán nổi lên như như hình chữ nhật, hai tay buông dài
quá đầu gối, là tướng thiên tử.
Trong đời vua Lý Nhân Tôn, 56 năm ở ngôi, vua làm
lễ tắm tượng Phật (giống như pháp môn Tây Tạng), tế núi Tản Viên
(tổ sơn), lại có đại danh tướng Lý Thường Kiệt phạt Tống, bình Chiêm
(số Tử Vi Lý Thường Kiệt có sao Thái Dương bị Triệt nên là số hoạn
quan), Chân Lạp triều cống... là một thời đại vinh quang của Đại
Việt.
Vua Nhân Tôn không có con nên lập cháu là Dương Hoán
làm Thái Tử, ngày Dương Hoán chào đời là ngày sư Đạo Hạnh hóa thân,
nên có chuyện cho rằng Thái tử là Từ Đạo Hạnh hóa sinh.
Tiếp theo nhà Lý là nhà Trần, một dòng họ xuất thân
từ nghề đánh cá, trên sông nước từ vùng duyên hải Hạ Long đến Nam
Định, trước ở vùng An Sinh, Đông Triều (sau này các vua Trần trở
về đây tu hành tại núi Yên Tử), sau rời xuống Tức Mạc, gần cửa Tuần
Vường, ngã ba sông Cái, huyện Mỹ Lộc.
Theo truyền thuyết, một thầy địa lý Tầu đi tầm long
từ tổ sơn Tam Đảo, qua đất Thăng Long rồi xuống phương Nam, thấy
gò đống tụ tập biết là đúng hướng nhưng rồi không thấy vết tích
long mạch đâu nữa ! Thầy địa lý đi tiếp đến một con sông mạch nước
chẩy xiết , qua bên kia sông thấy một ngọn núi đột ngột hiện lên,
thầy vui mừng nói "ai ngờ đất đế vương lại lạc xuống quãng
bình điền !". Sau đó thầy để cuộc đất quí ấy cho Nguyễn Cố
nhưng Nguyễn Cố là người bất nhân lật lọng đem trói thầy địa lý
ném xuống sông để khỏi trả 100 quan tiền.
Đúng lúc ấy thuyền đánh cá họ Trần tình cờ đi qua
vớt lên được. Để cảm ơn cứu mạng thầy địa lý mang mộ tổ họ Trần
táng thay vào. Đây là đất phát đế vương, mặt trước minh đường ngã
ba sông mênh mông mặt nước, đằng sau gối vào voi phục, hai bên cờ
kiếm la liệt, huyệt nằm vào đúng phương vị "Thổ phúc tàng kim",
ngồi phương Càn trông chữ Tốn, kiểu đất này thầy địa lý đoán rằng
"Phấn đại yên hoa đối diện sinh, tất dĩ nhan sắc đắc thiên
hạ" nghĩa là "son phấn yên hoa bày trước mặt, hẳn vì sắc
đẹp lấy giang sơn" (Công Dư Tiệp Ký tr. 75).
Mãi ba đời sau, đất mới ứng phát ra Trần Cảnh có
tướng mũi rồng mắt phượng, Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng rồi lên
ngôi mở đầu nghiệp vua 188 năm (1225 - 1407). Người sau nói long
mạch họ Trần bị đứt vì mang đào một con sông từ cửa sông Cái xuống
tới xã Đại Đường; cuối cùng vua Trần Nghệ Tôn nằm mơ thấy Xích Chủy
(chữ Nho tên Hồ Quí Ly là xích chủy có nghĩa là mỏ đỏ) sẽ đoạt ngôi
vua vì Nghệ Tôn sinh năm Dậu là Bạch kê (gà trắng) tất bị mỏ đỏ
hồ tinh cắn chết !
Họ Trần phát ra những nhân vật xuất chúng như Hưng
Đạo, Quang Khải, những ông vua hiền triết (philosopher kings) như
Thái Tôn, Nhân Tôn...biết đem cái bình dị thực tế của lớp dân đánh
cá lồng vào cái cao siêu của đạo pháp đại hùng đại lực, nên trước
đại thắng Mông Cổ, sau chiếm gần hết Chiêm Thành bằng đạo binh nhân
nghĩa gọi là đô "Tỏa Kim Cương" vừa hàm ý sắc bén của
kim cương vừa hàm ý lan tỏa Phật pháp kim cương thừa.
Chính vua Nhân Tôn đã đi chân đất mà giảng giải Thập
Thiện cho dân chúng, lại lập nên thiền môn Trúc Lâm Yên Tử khai
phát và quy kết tinh thần dân tộc. Vua còn nạp phi con gái pháp
sư người Tây Tạng, một vị sư "đã 300 tuổi, có thể đi trên mặt
nước, thu lục phủ ngũ tạng lên ngực...", đời vua Minh Tông
cũng có sư Bồ Đề Thất Lý từ Ấn qua, vị này cũng có thể ngồi nổi
trên mặt nước... Xem như thế tới đời Trần, thiền phái Mật Tông,
Yoga vẫn còn ảnh hưởng và Phật giáo chưa bị Tống Nho làm suy yếu
lệch lạc như thời Hậu Lê trở về sau.
Một vấn đề luân lý thường được nêu ra về nhà Trần
là vấn đề loạn luân, trong họ lấy lẫn nhau để giữ cơ nghiệp không
cho lọt vào họ khác, thậm chí Trần Thủ Độ ép cả vua Thái Tông lấy
vợ của anh đang mang thai để chắc chắn có người nối nghiệp.
Có thể họ Trần rất tin số Tử Vi và chắc có người
tinh thông khoa này nên xắp xếp việc vợ chồng theo lý số, bất chấp
liên hệ gia tộc, miễn là hợp tuổi để sinh quý tử.
Khoa Tử Vi nhà Trần còn truyền đến bây giờ, môn phái
này đoán số rất chính xác, dựa trên vòng sao Thái Tuế, Lộc Tồn...
để tính đại tiểu sự. Đức Trần Hưng Đạo, người anh hùng được thờ
cúng ngay từ lúc còn sống (đền Sinh Từ) cho tới sau khi chết, như
một bậc Thánh, sinh ngày 8 tháng 4 năm Mậu Tuất, giờ Ngọ, và qui
thần vào ngày 20 tháng 8, năm Canh Tý (1300). Số Tử Vi của ngài
Hỏa mệnh, Thân Mệnh đồng cung ở Mùi, vô chính diệu, đắc Nhật Nguyệt
chiếu Mệnh, hội Thiếu Âm Thiếu Dương, thêm Tả Hữu Khoa Quyền Khôi
Việt, Thanh Long, Long Đức, là số siêu nhân, đứng giữa trời đất
thanh thiên bạch nhật, uy quyền chỉ huy vạn dặm, tuyệt đỉnh thông
minh.
Tới đời Lê, từ thế kỷ XV (1428 - 1527) tới vua Lê
chúa Trịnh chúa Nguyễn (1674 - 1775) thế kỷ XVII - XVIII, đất nước
chuyển sang một đại chu kỳ 500 năm, lúc thịnh lúc suy, loạn lạc
nhiều hơn thái bình, vương đạo vẫn còn nhưng thánh đạo thì hết,
anh hùng vẫn phát sinh nhưng trường thế thì mất, cuộc đất Việt Trì
Tam Đảo châu thổ sông Hồng bước vào chu kỳ suy và cuộc đất Nam phương
bắt đầu thịnh.
Lê Lợi, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn... đều là người thiểu
số Mường, một bộ tộc rất gần gũi với người Việt, không khác gì người
Việt cổ thời Hùng Vương, cũng có huyền thoại một bọc trăm trứng,
cũng có trống đồng, cũng có chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh và cũng thờ
Thánh Tản Viên. Vùng tập trung người Mường kéo dài từ miền núi Hòa
Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa tới Nghệ An, Quảng Bình... Phùng Hưng,
Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành đều gốc người Mường, cho nên người Mường
là người Lạc Việt ở vùng núi non, còn người Việt là người Lạc Việt
ở đồng bằng, cả hai đều chung một nguồn gốc lịch sử khởi đi từ vua
Hùng.
Tằng tổ Lê Lợi là Lê Hối vốn làm nghề thầy cúng,
đi chơi núi Lam Sơn thấy đàn quạ bay lượn tụ họp, cho là đất tốt
liền dời nhà đến đấy. Tổ Lê Lợi tên Đinh, bà tổ tên Quách (Đinh,
Quách, Bạch, Hoàng...là những tên thông thường trong tiếng Mường),
thân mẫu họ Trịnh. Lê Lợi là con út, khi chưa sinh thường có con
cọp đen gần làng, khi sinh ra rồi thì con cọp đen biến mất, mọi
người cho Lê Lơi là hóa thân cũa con cọp đen !
Trong sách Lam Sơn Thực Lục, Nguyễn Trãi ghi "vua
Lê vai tả có bảy nốt ruồi, lông lá đầy người, tiếng như chuông lớn,
ngồi như hổ..." có lẽ tướng lông lá như vậy nên mới có chuyện
hổ thành người chăng ? Nhưng đất phát lên đại nghiệp lại nằm ở xứ
Phật Hoàng, động Chiêu Nghi, hình quả ấn, tả có núi Chí Linh,, trong
có gò Tiên Ban, trước có nước Long Sơn, Long Hồ nước xoáy...nhà
sư họ Trịnh từ Ai Lao để cho họ Lê miếng đất quí đó, lại đoán rằng
đất này con cháu phải phân cư, nếu cải táng thì sẽ trung hưng năm
trăm năm nữa.
Trong giai đoạn kháng chiến chống quân Minh đầu tiên
với 635 thủ hạ, Lê Lợi từng bị giặc đuổi phải chạy trốn vào bụi
rậm, cầu xin "một vị thần áo trắng" (một người đàn bà
mặc áo trắng, tay đeo xuyến vàng, thoa vàng, mới chết, hiển linh
thành con chồn trắng làm lạc đường chó săn của quân Minh), lại vớt
lưới được lá gươm "thuận thiên" và nhặt được cán vừa liền
nhau, có lẽ là thanh gươm trời cho rồi sau này bị Thần Rùa đớp lại
tại Hồ Hoàn Kiếm, Thăng Long.
Vua Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, giờ Tí,
Kim Mệnh. Số Tử Vi Mệnh Thân đồng cung ở Dậu, vô chính diệu, có
Bạch Hổ tọa thủ (phải chăng vì vậy có chuyện nói ngài là con hổ
hóa thân ?), Thái Tuế ở Quan chiếu lên, Tứ Linh, Thanh Long Hóa
Kỵ Âm Dương ở Quan Lộc, thêm Song Lộc Quyền hợp chiếu, đắc cách
sát tinh độc thủ, anh hùng, không thọ (49 tuổi) và không hiền từ.
Như vậy nhà Lê cũng bắt đầu với những huyền sử truyền
kỳ dân tộc : một nhà sư để đất dấy phát, một vị nữ thần áo trắng
(Quan Âm ?, Thánh mẫu ?...), một thần Kim Qui.
Chỉ tiếc rằng công nghiệp của ông vua khai sáng triều
đại này bị lu mờ vì chuyện giết hại hầu hết các công thần gốc tích
châu thổ sông Hồng như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, ngay cả quân
sư Nguyễn Trãi cũng bị tống giam, sau lại thả ra nhưng không được
tin dùng.
Đấy là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc có sự căng
thẳng mang màu sắc địa phương, giữa nhóm triều đình hầu hết là gia
tộc họ Lê, gốc Mường, ít học, võ biền, và nhóm sĩ phu miền Hồng
Hà.
Mãi tới đời Lê Thánh Tôn, một ông vua hiền tài do
chính Nguyễn Trãi lập kế nuôi dưỡng, bảo vệ cả mẹ (Ngô Thị Ngọc
Dao) và con (Tư Thành) trong chùa chiền và thuyền bè tại vùng vịnh
Hạ Long để tránh khỏi sự truy lùng của nhóm Thị Anh và Thái Tử Băng
Cơ, nên nhà Lê mới lại thuần hóa vào dòng sinh mệnh châu thổ sông
Hồng và sau 38 năm tại ngôi vua Lê Thánh Tôn đã để lại một ấn tượng
tốt trong dân chúng và sĩ phu khiến cuối đời Lê, dù suy yếu mà vẫn
trung hưng lên được.
Tuy vậy sau này xẩy ra vụ Kiêu binh (thế kỷ XVII),
bọn lính Thanh Nghệ cậy công làm càn, là chuyện đã manh nha từ khoảng
cách giữa hai khối dân từ hai địa vực khác nhau ấy.
Vụ tru di tam tộc Nguyễn Trãi không những vì lòng
ghen giữa mấy người đàn bà mà còn mang nặng thù hận của nhóm thân
tộc địa phương họ Lê với bậc khai quốc trưởng thượng, nó không xẩy
ra ở một hai đời mà còn xẩy ra ở nhiều đời vua Lê khác. Xét chung,
triều Lê không có vương đạo như triều Lý, Trần và về sau đức độ
còn thua kém cả nhà Mạc.
Cuối đời Lê, các ông vua Quỷ như Lê Uy Mục, vua Lợn
như Lê Tương Dực, làm cho sứ thần nhà Minh (vốn biết tướng số) phải
phê bình :
An Nam tứ bách vận vưu trường
Thiên ý như hà giáng quỷ vương !
nghĩa là :
Bốn trăm năm vận nước Nam lâu dài
Sao ý trời lại giáng xuống quỷ vương ?
và biết trước loạn vong sẽ tới. Sứ thần nhà Minh
nói vào khoảng năm 1505 - 1509, đã biết trước vận quân vương Việt
Nam dài độ 400 năm nữa tức là vào khoảng 1900 là lúc mất nước vào
tay Thực dân Pháp.
Bốn trăm năm này không phải là hồng vận quốc gia,
vì trời giáng quỷ vương với trư vương ! lời nói có vẻ tiếc cho nước
Nam.
Nhưng 99 năm sau Lê Lợi, một kết tập cuối cùng của
đất sông Lô núi Tản chung quanh nhà Mạc và Trạng Trình lại mở ra
một sách lược mới cho dân tộc nhằm phục hoạt lại tinh thần Lý, Trần.
Mạc Đăng Dung đoạt ngôi của vua quỷ vua lợn không
phải là chuyện bất nhân, hay quá lắm, cũng chỉ như Trần Thủ Độ lấy
ngôi vua nhà Lý cho nhà Trần. Nhưng vì họ Mạc là quan võ, xuất thân
từ nghề đánh cá (giống họ Trần) nên bị khối quan văn Tống Nho khinh
thường và chống đối : nhà Lê, dù vua Lê Thánh Tôn rất anh minh,
đã đi lạc sang Nho giáo độc tôn, quên cái gốc "văn ôn võ luyện"
từ đời Hùng đến Đinh, Lê, Lý, Trần, để chìm đắm vào cái học khoa
bảng từ chương "tiên học lễ hậu học văn" làm sa đọa cả
hàng ngũ trí thức.
Nhưng gốc tích Mạc Đăng Dung là gốc văn học chói
lọi của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, mà chính Mạc Đĩnh Chi lại là
dòng dõi Trạng Nguyên Mạc Hiển Tích nguyên Lại Bộ Thượng Thư triều
Lý.
Như vậy về huyết thống Mạc Đăng Dung không có gì
thua kém nhà Lê. Mạc Đĩnh Chi (tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung) có bà
mẹ đi qua khu rừng cây um tùm vùng Chí Linh, Hải Dương, bị con khỉ
lớn hiếp nên đẻ ra ông mặt mũi xấu xí như khỉ, thân phụ tức quá
vào rừng giết được con khỉ đực, sau thấy xác khỉ bị mối đùn lên
thành một cái mồ rất lớn biết là đúng huyệt phát nên khi chết dặn
con cháu táng mình vào chính mộ con khỉ đó.
Về sau Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi cũng
được táng ngay ở chân mộ khỉ đực, bên cạnh mộ của hai ông bố ! Khi
đi sứ sang Tầu, Mạc Đĩnh Chi tuyệt đích thông minh linh lợi nên
vua Tầu nhà Nguyên phải khen tặng cho ông chức lưỡng quốc Trạng
nguyên, sứ thần Hàn quốc phải phục và mời ông sang chơi nước Hàn,
lại tìm một cô gái nước Hàn gả cho ông làm thiếp. Nhìn tướng mạo
quan Trạng quá xấu, người Tầu quyết tìm ra ẩn tướng, và họ đã theo
dõi ông vào tận cầu tiêu để khám phá ra ẩn tướng là cục phân Mạc
Trạng Nguyên hình vuông như quân cờ ! Họ lại gửi thầy địa lý sang
xem mộ tổ tiên họ Mạc và khi tới mộ "khỉ đực" thì thầy
điạ lý nói đấy chính là ngôi đất kết phát ! chỉ tiếc là thủy không
tụ mấy, thiếu hổ thủy, nên phát quí chứ không phát phú.
Trong thời gian đi sứ Tầu, văn quan Trung Quốc ra câu đối
An, nữ khứ : thỉ nhập vi gia
Chữ An bỏ chữ nữ thay chữ thỉ là heo vào thì thành chữ gia.
Ông đối lại :
Tù, nhân xuất : vương lai thành quốc
Chữ Tù bỏ chữ nhân, cho chữ Vương vào thì thành chữ
quốc.
Người Tầu dựa vào Mai Hoa Bốc chiết tự mà đoán rằng con cháu sau
này tất có người làm vua, nhưng vì chữ vương viết chữ đơn (王) nên
giữ nước không được bền.
Khi Mạc Đăng Dung lên ngôi, phong ông tổ Mạc Đĩnh
Chi làm Linh Khánh Đại Vương, xây điện Sùng đức lên nền nhà cũ,
lại đắp đàn cao để vua quan tế lễ. Khi còn là một anh chàng đánh
cá, dung mạo Mạc Đăng Dung rất phi phàm nên bà mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm
vốn giỏi tướng số phải đoán là người thanh niên đó sau này công
danh tột bực.
Chữ Mạc theo chữ Nho có chứa chữ Đông nên bài Sấm
của sư Vạn Hạnh có câu: Chấn cung kiến nhật tức: Phương Đông mặt
trời mọc chỉ nhà Mạc lên ngôi thiên tử (xem phần Vạn Hạnh). Nếu
đúng ý như vậy thì nhà Mạc là một triều đại có vận số sau nhà Lê,
mà ngay nhà Nguyễn về sau cũng không được sấm Vạn Hạnh nhắc tới.
Nhà Mạc làm vua tại Thăng Long được 65 năm, chạy
lên Cao Bằng được 75 năm nữa, tổng cộng 140 năm, không phải là ngắn
ngủi.
Nhà Lê bị dứt tới 65 năm, quanh quẩn ở một vùng Thanh
Hóa từ 1543 - 1592, vậy mà các sử sách sau này lại coi là chính
thống liên tục, thì quả là bất công cho nhà Mạc.
Nếu lại nói Mạc Đăng Dung tự trói mình để cầu hòa
với nhà Minh là nhục quốc thể (như Trần Trọng Kim kết án trong VN
Sử Lược), thì lúc đó ông không phải là vua, chỉ là Thái Thượng Hoàng
dùng khổ nhục kế dâng mấy động núi tượng trưng để tránh họa xâm
lăng do chính nhà Lê sang Tầu cầu cứu ! Hành vi đó không nhục nhã
tai hại bằng việc vua quan Lê Chiêu Thống sang van lậy nhà Thanh
viện binh sau này ! Hơn nữa nhờ tránh voi mà nhà Mạc mang lại yên
ổn cho đất nước, chỉ vì nhóm thủ cựu phò Lê và phe địa phương xứ
Thanh cát cứ gây loạn tranh dành liên miên nên nhà Mạc mất hẳn cơ
hội phục hồi một Đại Việt theo truyền thống Lý, Trần.
Nhà Mạc biết trọng người hiền như Nguyễn Bỉnh Khiêm,
biết giữ gốc dân bản thực dụng bình dân qua việc xây cất các đình
làng trên toàn quốc, đào tạo nhân tài với tỷ lệ nhiều nhất trong
lịch sử Nho học Việt nam: 22 khóa thi Đình với 485 vị Tiến sĩ trong
65 năm, khôi phục chùa chiền trong tinh thần Tam giáo đồng tôn (mà
nhà Lê đã đánh mất), đã có thời thịnh trị "của rơi không ai
nhặt" như đời anh quân Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540) v..v..
Những đời sau, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, rồi Triều
Nguyễn, không thấy nhiều tư liệu về mồ mả phong thủy.
Họ Trịnh được ngôi đất "phi vương phi bá, quyền
khuynh thiên hạ" nhưng chỉ được 8 đời rồi sẽ bị tai họa. Nguyên
ngôi đất này là cái hố, mẹ Trịnh Kiểm bị dân làng trừng phạt ném
xuống vì Trịnh Kiểm mỗi ngày đều đi ăn trộm gà để nuôi mẹ.
Bà mẹ bị chết tình cờ lại nằm đúng huyệt phát ! Lọt
vào giữa Trịnh, Nguyễn, có ngôi sao Nguyễn Huệ rực lên ít năm, có
người như Lê Quí Đôn cho là được đất phát ở Tây Sơn, Bình Định,
nhưng 4 đời trước họ Nguyễn Tây Sơn gốc họ Hồ ở Nghệ An, vậy có
thể vẫn thừa hưởng long mạch đất Hồng Lam, long mạch vùng này vốn
không lâu bền. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sinh ngày 5 – 5 - Nhâm
Thân, giờ Tuất, số Tử Vi Kim mệnh. Thất sát và Thái Tuế đường đường
đóng tại Mệnh, thêm Tử Phủ, Tham Phá, Tứ Linh, Quyền, Mã.. hợp chiếu,
là số thành công vũ bão, Phúc bị Tuần, Đà La, Hóa kỵ, Mệnh Song
Hao, nên không thọ.
Họ Trịnh phát xuất từ Bồng Thượng, miền trung du
Thanh Hóa, Trịnh Kiểm từng đánh thuốc độc giết bố vợ là Nguyễn Kim,
lại tàn nhẫn giết luôn anh vợ là Nguyễn Uông, sau này con cháu dường
như tản mát về làng Cự Đà gần Hà Nội, đình làng này có hai pho tượng
quay lưng vào nhau nên tương truyền người trong làng không thân
thiết tương trợ.
Họ Nguyễn được đất ở Gia Miêu Thanh Hóa, tổ họ này là Nguyễn Kim,
người đứng ra tìm con cháu nhà Lê để phục hưng triều đại, vợ Nguyễn
Kim người Hải Dương cùng quê với Trạng Trình, nên Trạng Trình đã
nể tình chỉ đường sống cho con Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng vào đất
"Hoành sơn" dung thân để tránh lưỡi gươm của Trịnh Kiểm.
Biết rằng phong thủy vùng này có thể hưng vượng một cõi nên họ Nguyễn
đã nghe Trạng Trình kéo nhau vào Thuận Quảng lập nghiệp.
Một chi họ Mạc chạy trốn Lê Trịnh cũng theo vào,
con gái Khiêm Vương Mạc Kính Điển trở thành bà Chúa Sãi (1613 -
35). Mãi tới ông vua cuối cùng là Bảo Đại long mạch họ Nguyễn mới
tận. Năm 1945 Bảo Đại kể lại "cây xà ngang nóc điện tự nhiên
gẫy đổ rơi xuống" là điềm rất độc, báo hiệu một triều đại chấm
dứt và chấm dứt luôn nghìn năm quân chủ Việt Nam.
Từ sau 1945, sử Việt đi vào giai đoạn chuyển tiếp,
giai đoạn nhiễu nhương chiến tranh, mạt pháp.
Đứng về phương diện phong thủy lý số, vẫn tiếp tục
khí mạch độc loạn đi về phương Nam từ đời Lê - ông CT Hồ Chí Minh
(1954 - 69) gốc Nghệ An cùng các phò tá đều đa số phát tích từ đất
Trường Sơn, miền Nam các ông TT Ngô Đình Diệm (9 năm), TT Nguyễn
Văn Thiệu (9 năm) người Quảng Bình, người Phan Thiết, đều khởi từ
khí mạch vùng núi, đất hẹp sông ngắn, nên không được lâu bền.
Ông Nguyễn Văn Thiệu ở đuôi chót Trường Sơn, là huyệt
phát cuối cùng của giải đất này, chấm dứt một chu kỳ long mạch Nam
tiến trên đất Chiêm Thành cũ.
Từ sau, long mạch đất Việt lại khởi sang một chu
kỳ khác, phương hướng khác, báo hiệu đại hồng vận "thiên tử
xuất tại Bảo Sơn Bảo Giang", phục hoạt vương đạo Hùng Vương
Viêm Việt.
6
1
2 3
4 5
6 7
8 9
10 11
12 13
14 15
16
|