PHONG TỤC TẬP QUÁN

 

 

Việt Sử Siêu Linh

Hạ Long Lưu Văn Vịnh

 

Trước Trạng Trình 100 năm, trong 20 năm thuộc nhà Minh, một phong thủy sư nổi danh của Tầu là Hoàng Phúc đã đến quan sát địa lý nước ta vào khoảng 1407-1427. Hoàng Phúc xuất thân Tiến sĩ, mang chức Thượng Thư, giữ việc Bố chính và Án Sát trong chiến dịch cai trị đồng hóa Việt Nam.

 

Hoàng Phúc bắt khắp nơi lập đền miếu thờ bách thần, thổ thần, sơn thần, thần sông, thần gió... bên cạnh văn miếu. Lập Tăng cương ty và Đạo kỳ ty để truyền bá đạo Phật và Lão cùng với đạo Nho...Ngay tại Đông Quan (Thăng Long), Hoàng Phúc cũng lập nhà học để chiêu dụ nhân tài, nơi đây Nguyễn Trãi đã gặp Hoàng Phúc sau khi đi tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt về Tầu cùng với cha con Hồ Quí Ly.

 

Sử liệu cho thấy Hoàng Phúc đã can thiệp để Nguyễn Trãi không bị quân Minh hạch tội, và trong thời gian từ 1407 - 1416 đã bị quân Minh giam lỏng ở Đông Quan.

 

Sau này khi cùng Lê Lợi kháng chiến thành công, Nguyễn Trãi bắt được Hoàng Phúc và đã đối xử tử tế với Hoàng Phúc, một kẻ thù trí thức đã biệt đãi mình khi trước.

 

Truyện kể lại rằng Nguyễn Trãi biết Hoàng Phúc có biệt tài về phong thủy nên đã mời Hoàng Phúc tới xem đất Nhị Khê là quê quán của dòng họ Nguyễn.

 

Hoàng Phúc nhìn ra vườn sau nhà ở Nhị Khê rồi từ tốn nói: "Số tôi có phúc dầy nên có hạn cũng chỉ bị hạn ít ngày, chứ gò đất sau nhà ông, đâm vào trong nhà thế kia, thì ông sẽ bị mang họa mấy đời !" Quả đúng như lời Hoàng Phúc, ít lâu sau các quan quân nhà Minh đều được thả về Tầu để giữ giao hảo hai nước, còn Nguyễn Trãi thì 15 năm sau (1442) bị chu di tam tộc vì vụ Thị Lộ.

 

Khi nghe Hoàng Phúc nói về gò đất đâm vào nhà, Nguyễn Trãi không dám tin hẳn và không cho phạt đi như lời Hoàng Phúc khuyên vì nghi bị họ Hoàng thâm gạt.

 

Nguyên Hoàng Phúc khi sang đất Việt đã mang theo cuốn Địa Lý của Cao Biền đời Đường để làm bản đồ nghiên cứu địa hình địa vật nước ta. Thời xưa, sách Địa Lý đúng là một tài liệu quân sự, ghi rõ hình thể sông, núi, đồi, gò, cao điểm, hạ lưu, mạch núi, thời tiết...nên Hoàng Phúc đã tới những tới những linh địa mà Cao Biền đã ghi nhận.

 

Một trong những linh địa ấy là Tam Đảo gần đền Hùng. Núi Tam Đảo gồm ba ngọn cao thẳng đột khởi gần như đối xứng với ba ngọn Ba Vì (Tản Viên) bên kia sông Hồng, hợp với Thăng Long, thành ba đỉnh tam giác đều.

 

Tam Đảo tay long, cao hơn Ba Vì 300 mét (1591m) với ngọn cao nhất là Phù Nghĩa, ngọn giữa cao vót gọi là Kim Thiên hay Thạch Bàn có bia Cao Biền dựng, ngọn bên tả là Thiên Thị. Trên đỉnh núi có ngôi chùa Đồng đúc toàn bằng đồng rất cổ, sườn núi có chùa đá khắc chữ Địa Ngục Tự, suối nước vàng chói từ khe cửa chảy ra nhập vào suối Giải Oan.

 

Trên tầng núi khá cao, khoảng 3 dặm, có một khoảng đất bằng phẳng, với ba nền đất dài, tám phiến đá vuông và một tấm bia lớn khắc vỏn vẹn bốn chữ lớn "La Thành Bất Loạn" bên cạnh có dòng chữ nhỏ "Minh Thượng Thư Hoàng Phúc cẩn đề".

 

Cả Cao Biền lẫn Hoàng Phúc, hai danh thủ Phong thủy Trung Hoa, cách nhau hơn 500 năm đều dựng bia ở Tam Đảo, vậy có thể suy diễn là về phương diện địa lý hẳn nơi đây kết long mạch đặc biệt. Điều này tác giả Vũ Trung Tùy Bút, Phạm Đình Hổ, từ thế kỷ XVIII đã luận giải như sau:


"...Mạch núi Côn Lôn chạy vào ( Trung Hoa ) chia làm ba cán Long : một đằng theo sông Hoàng Hà chạy về phía Bắc, ... một đằng theo núi Mân Sơn chạy về phía Đông,...một đằng theo sông Hắc Thủy chạy về phía Nam...phía Đông sông Hắc Thủy là những tỉnh Vân Nam, Quí Châu, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Lão Qua kéo dài tới tận núi Tiểu Côn Lôn lại biệt làm một chi thiếu tô. Chi này chạy sang nước ta lại chia làm ba :

 

- Chi bên hữu chạy qua sông Đà Giang là những tỉnh Hưng Hóa, Sơn tây, Sơn Nam, rồi chạy vào Nghệ An, Thanh Hóa, cho đến Thuận, Quảng thì tản ra các cù lao gần biển...
- Chi bên tả thì qua Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên rồi qua đến biển là Hồng Đàm, đảo Đại Nhân...
- Chi giữa thì tự núi Tam Đảo trở xuống, mênh mông liên tiếp thành ra những tỉnh Thái Nguyên, Kinh Bắc, Trung Đô, Hải Dương, Sơn Nam ...(tr. 46 - 47).

 

Tác giả kết luận "địa thế nước ta, toàn thể cũng giống Trung Hoa, chỉ có nhỏ hơn mà thôi".

 

Nhìn tổng quát như vậy ba ngọn Tam Đảo là chi giữa, làm tổ sơn cho toàn châu thổ Hồng Hà, là mạch xuất phát đổ khí lực vào Thăng Long, trong khi núi Ba Vì thuộc chi hữu mà Nguyễn Trãi, tác giả Dư Địa Chí và mọi nhà lý số, đều gọi là tổ sơn của cả nước. Tại sao lại có hai quan điểm không đồng nhất về tổ sơn ?

 

Theo suy luận, núi Ba Vì hình tròn như cái lọng, sườn núi thoai thoải, đó là hình núi thuộc Kim, núi Tam Đảo thẳng đứng cao ngất, đỉnh phẳng lẫn đất đá, cây cối um tùm.. xây được chùa Đồng, như vậy có thể là hình dạng Mộc. Cao Biền biết Sơn thần núi Tản rất thiêng nên không dám xâm phạm, còn ở Tam Đảo không thấy nói tới sơn thần (mặc dù có vườn Tiên rất linh thiêng cầu đảo rất ứng, tương truyền thờ Quốc Mẫu là một Âm Thần, Trần Nguyên Hãn có lần ngủ đêm nghe Thần hiển linh nói về Lê Lợi và Nguyễn Trãi kháng Minh), hoặc có thể Cao Biền đã dùng pháp thuật chế khắc được nên mới dám dựng bia xây thành ?

 

Vả lại, thế kỷ IX, khi chống quân Nam Chiếu ở Vân Nam đổ xuống, thì Tam Đảo là một cao điểm chiến lược ở tuyến đầu che cả miền châu thổ sông Hồng. khi Hoàng Phúc sang đất Việt, ông phải nhận là "La Thành Bất Loạn" để tán dương cái thế đất quân bình Âm Dương, Long Hổ của Đại La. Thời Minh các núi Tam Đảo, Tiên Du... tổng cộng 21 quả núi danh tiếng của An Nam, được nhà Minh tế tại giao đàn cùng với sông núi Trung Hoa (đời Hồng Vũ nhà Minh, Đại Nam Nhất Thống Chí).

 

Nhưng khi nhìn tới bối cảnh của Tản Viên thì thấy tổ sơn này tụ long mạch của cả một rặng núi dài và cao là rặng Hoàng Liên Sơn song hành với sông Đà khí lực mạnh mẽ, lại nằm ở vị thế kín đáo, nên có phần trường viễn hùng hậu hơn Tam Đảo.

 

Sau Hoàng Phúc và Trạng Trình, mấy trăm năm sau mới lại xuất hiện các nhà Địa Lý danh tiếng như Tam nguyên Lê Quí Đôn (1726 - 1784), Tiến sĩ Hòa Chính, Tả Ao Nguyễn Đức Huyên... cả ba đều ở vào đời Lê Trịnh.

 

Lê Quí Đôn là một nhà bác học nên không bỏ qua bất cứ môn nào mà không bàn luận ghi chép, kể cả môn chiêm tinh, lịch pháp, phong thủy... tập Vân Đài Loại Ngữ cho ta các tài liệu của Tầu bàn về phong thủy nước Nam (phần Khu Vũ Loại), sách Phủ Biên Tạp Lục soạn năm 1776 khi ông làm Hiệp Đồng Kinh Lý Quân Sự hai đạo Thuận Hóa, Quảng Nam, biên chép địa dư, phong tục miền đất đàng trong.

 

Chính trong thời kỳ này ông đã nhìn thấy cuộc đất phát Tây Sơn và đã dâng sớ mật tấu lên Chúa Trịnh phải đề phòng ngôi sao đang lên Nguyễn Huệ.

 

Ông cũng là tác giả một tập phú đoán Tử Vi được truyền tụng rộng rãi nhưng không thấy ghi trong Văn Học Sử.
Những câu nôm na như :

 

Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
Gái bạc tình Tham Sát nhàn cung

 

là của Lê Quí Đôn làm ra. Cứ xem luận bàn của ông thì thấy các khoa lý số chiêm tinh đòi hỏi một đầu óc thông minh toán học mới thông hiểu nổi, vì thế khi lối học từ chương khoa cử choán hết đầu óc kẻ sĩ, thì các khoa này bị bỏ rơi thành các môn bói toán độ nhật cho hàng thứ dân mù lòa hoặc các nhà Nho lỡ vận.

 

Xưa kia, các môn phong thủy, chiêm tinh, lý số... là môn cao học của hàng "quân sư" chiến lược gia khai quốc như Khương Tử Nha, Quản Trọng, Tôn Tẫn, Trương Nghi, Trương Lương, Gia Cát Lượng...

 

Tới đời Minh (1368 - 1644) Chu Nguyên Chương lập nên đế nghiệp nhờ đạo sĩ quân sư họ Lưu (Liu Po Hun), vị đạo sĩ quân sư này dựa trên chiêm tinh để bầy binh bố trận đánh Mông Cổ.

 

Sau khi thành công, Minh Thái Tổ cho giết ngay các công thần, tuy đạo sĩ họ Lưu trốn thoát, nhưng các đạo sĩ khác đều bị tiêu diệt và suốt 50 năm Đạo học phương thuật bị khai trừ khiến từ đây các khoa “huyền bí học” phải tản mát vào dân gian để tồn tại.

 

Môn phong thủy địa lý rơi từ "quân sư chi học" xuống nghề tầm long để đất nhỏ nhặt, cuối đời Minh các sách về khoa phong thủy thiên về hình thể đất đai, bàn nhiều về âm phần - để mộ, dương cơ - cất nhà, mà không bàn luận về đại thế sách lược non sông nữa.

 

Từ đời Thanh trở đi (1644 - 1911), thấy rõ ảnh hưởng của Phật giáo Lạt Ma trong khoa phong thủy như "tiên tích đức, hậu tầm long", lấy sao bản mệnh phối với nghiệp và phúc đức của đương sự để chọn đất và chú trọng tới giờ giấc sinh khắc mà khởi công đắp nền hoặc hạ huyệt. Cũng như Đông Y, lương sư thì ít mà lang băm thì nhiều, nên các khoa cổ học mỗi ngày một tàn lụi đi, đến nỗi quần chúng phải mỉa mai :

 

Hòn đất mà biết nói năng
Thì thầy địa lý hàm răng không còn !

 

Có lẽ vì sự đứt đoạn giữa Cổ học (thời Kim Tự Tháp, thời Maya, thời Vệ Đà, thời Phục Hi...) với Đạo học (hơn 2000 năm nay), nên căn bản tinh lý của cổ học bị phai mờ và thất truyền. Cho tới hiện tại người ta vẫn chưa giải thích được những bí mật kỳ diệu của khoa kiến trúc Kim Tự Tháp vậy mà những môn "huyền bí học" khác lại bị phỉ báng ngay là mê tín dị đoan lạc hậu, thì quả là thiếu thẩm định khách quan, cũng không khác chi gặp lang băm rồi kết luận tất cả Đông Y Dược là vô giá trị !

 

Nhưng hậu quả của sự thất truyền là từ sau Trạng Trình chỉ còn thấy hai người là Hòa Chính và Tả Ao, cả hai nhà phong thủy này tuy có danh tiếng nhưng chuyên về dương cơ âm phần, để mồ để mả, mà không còn tầm học cao rộng của môn "quân sư chi học" nữa. Tiến sĩ Hòa Chính và Tả Ao đều sang Tầu học được nghề địa lý. Hòa Chính dường như có viết sách lưu truyền nhưng không thấy để lại nhiều giai thoại như Tả Ao.

 

Nhà địa lý Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ. Tương truyền khi học xong nghề thầy, ân sư người Tầu thử tài môn đệ trước khi "tốt nghiệp" ông thầy chôn 100 đồng tiền xuống mô hình bãi cát rồi bắt Tả Ao cắm kim vào đúng lỗ mỗi đồng. Tả Ao châm đúng giữa 99 đồng, chỉ có hơi lệch một đồng. Thầy Tầu than: "Thôi nghề của ta từ nay truyền sang nước Nam rồi !"

 

Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của Tả Ao là chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định: thầy đi tới làng Hành Thiện thấy đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh. Dân làng nghe thầy nói bèn hậu đãi trà rượu và khẩn khoản xin thầy đặt lại hướng làng.

 

Thầy Tả Ao thấy dân làng tử tế liền chỉ cho làng đào một cái giếng lớn làm mắt cho con cá chép, từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng. Thầy Tả Ao đi xem đất suốt từ Nghệ Tĩnh ra các làng mạc ở khắp miền Bắc và trong gia phả của nhiều gia đình còn ghi lại những công trình địa lý phong thủy của thầy.

 

Nhiều chuyện khôi hài do quần chúng thêm thắt như chuyện thầy Tả Ao thấy dân làng kia rất xấu tính mà lại xin thầy để kiểu đất nào có thể "đè đầu thiên hạ", thầy liền tìm cho làng một kiểu đất khiến dân làng dần dần theo nghề "húi tóc" có thể "đè đầu vít cổ thiên hạ" đúng như ý nguyện !

 

Tương truyền thầy đang đi chơi ngoài bãi biển thấy sóng gió nổi lên ầm ầm biết là hàm rồng năm trăm năm mới há mồm một lần ở biển Đông, liền chạy về nhà mang cốt mẹ ra định ném xuống hàm rồng, nhưng vì thương tiếc chần chờ nên hàm rồng đóng lại, biển khép êm sóng lặng như trước !

 

Lúc sắp chết, thầy dặn con cháu khiêng mình ra miếng đất đã định trước là đất địa tiên "nhất khuyển trục quần dương" (một con chó đuổi đàn dê), nhưng không kịp đành dừng lại nửa đường phân kim lựa cho chính mình một miếng đất phúc thần đời đời ăn hương hoa mà thôi.

 

Xem cách tìm đất của thầy Tả Ao và tập sách Địa Lý Tả Ao để lại, thì thấy đó là khoa phong thủy thời Minh, Thanh, giới hạn vào việc tầm long phân kim tìm huyệt trường, thiên về Hình gia học (đất hình con voi, con cá, lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thủy...) và Pháp gia học (âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa) hơn là khoa Nhật gia học (dựa trên tương quan giữa tinh tú và địa phận để đoán thời gian đất kết phát).

 

Hình gia học giản dị dễ hiểu hợp với đầu óc Tầu, Việt.. thiên về trực giác, tưởng tượng. Pháp gia học uyên bác hơn đòi hỏi thông hiểu Dịch lý, không phải nhà Nho nào cũng nắm vững biện chứng bát quái. Nhật gia học dường như rất ít người thông suốt và đây là khoa chiêm tinh tiên đoán thịnh suy cả trăm, cả ngàn năm, mà một số đầu óc cực kỳ thông minh như Gia Cát, Vạn Hạnh, Trạng Trình... mới rút ra được những tương quan phức tạp toán học, giải được những hàm số giữa thiên thể biến dịch theo đa chu kỳ với địa thế sông núi khí mạch.

 

Ở thời đại chưa có máy tính, chưa có điện toán, tính vận hành của 120 vị sao như số Tử Vi, ứng hợp tùy biến số Nam, Nữ, Năm sinh, Tháng đẻ, Giờ sinh, phương hướng...có lẽ phải làm tới cả trăm con tính ! không phải ai cũng có thể hiểu được và làm được chính xác (xem phần Trạng Trình).

 

5

 

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16