|
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Việt Sử Siêu Linh
Hạ Long Lưu Văn Vịnh
CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN
VỀ PHONG THỦY ĐỊA LÝ ĐẤT VIỆT
Khi Lý Thường Kiệt xác quyết "Nam quốc sơn hà...tiệt nhiên
định phận tại thiên thư" (1076) thì có thể hiểu Thiên thư là
bản đồ chiêm tinh ghi rõ biên giới nước Đại Việt" Theo sách
Thiên quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức
Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi Sửu ..." (trích
theo Việt Sử Tiêu Án ).
Khi tiền nhân chọn đất để lập quốc thì không những
phải lựa chọn những vùng đất tốt có thể trồng trọt sinh sống, lại
cần thế hiểm trở để phòng giữ sinh tồn , phải có sông nước làm mạch,
có núi non phên dậu...nhưng song song với những yếu tố vật lý nhân
văn trên, cổ nhân còn tin tưởng vào thiên lý với Thiên, Địa và Nhân
như một tổng thể, một Gestalt nói theo ngôn ngữ thời đại.
Tổng thể này bất khả phân, vận hành trong vũ trụ
cùng với chu kỳ trăng sao, khi thăng khi trầm, khi thịnh khi suy.
Thế nên "thiên lý tại nhân tâm" và khi tâm động thì quỷ
thần tri , tất cả là một đơn vị nhất nguyên xoay chuyển trong tam
thiên đại thiên thế giới, kinh qua ngàn vạn năm, tiểu chu kỳ trong
đại chu kỳ, lồng vào nhau , cùng xuyên qua diễn trình thành, hoại,
tiêu, trưởng của muôn loài.
Lịch sử nhân loại là lịch sử dằng co giữa Thiện và
Ác, giữa Âm và Dương, ấy là NHÂN SỬ phản ánh THIÊN SỬ ghi bằng những
vệt tinh đẩu nhật nguyệt. Cá nhân có tàn lụi, thì sơn hà vẫn tồn
tại, sơn hà có nghiêng đổ thì thiên hà vẫn chói sáng ... thời gian
trần thế và thời gian vũ trụ chồng lên nhau như những búp hoa, nở
rồi tàn, tàn rồi nở.
Chiêm nghiệm tượng Trời để suy diễn thế cuộc, nhìn
sao hôm, sao mai, sao chổi, nghe động đất núi lửa...cũng là cách
tìm cái tâm vũ trụ vang trên cái tâm của cây sậy nhỏ bé uốn mình
trong giông bão. Đấy là nguồn của khoa học và triết lý nhân bản
nhân loại Đông Tây Nam Bắc cổ xưa. Nguồn này tách ra làm hai, một
dòng đổ vào khoa học vật lý với những khám phá rực rỡ về vật chất,
từ tế bào đến điện tử, một dòng đổ vào tín ngưỡng. Dòng trên thành
vật quyền, dòng dưới thành thần quyền, cả hai đều rời xa tâm thức
uyên nguyên "thiên lý tại nhân tâm", tâm người cũng là
tâm vũ trụ, soi chiếu lẫn nhau mà không đè ép.
Khi nhân hóa vũ trụ, con người có thể suy diễn rằng
núi non giống như xương cốt, sông ngòi giống như mạch máu, đất đai
giống như thịt da, cây cỏ giống như lông tóc. Người có khí lực,
đất có long mạch, địa linh thì nhân kiệt, đất tốt thì cây cỏ xanh
tươi...luật quân bình Âm Dương áp dụng cho vạn vật, song song với
ngũ hành tương khắc được phát triển sau này. Tiểu vũ trụ và đại
vũ trụ, nhìn từ gốc, rất giống nhau, óc nhị biên làm con người tách
khỏi thiên nhiên đưa tới tình trạng vong thân (aliénation) trầm
trọng.
Bác học Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ trích bàn
theo Khổng Tử Gia Ngữ : "Người sinh ở đất dắn thì tính tình
cứng cỏi, sinh ở đất mềm thì nhút nhát, sinh ở đất dắn đen thì tính
nết tỉ mỉ, sinh ở đất nở thì đẹp đẽ, sinh ở đất thưa mỏng thì xấu
xí " và theo Hoài Nam Tử " Sinh ở đất nhẹ thì nhanh nhẹn,
sinh ở đất nặng thì chậm chạp, ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ nhẹ,
ở nơi nước đục thì tiếng thô cộc...đất trung châu sinh nhiều thánh
hiền".
Người dân Việt khi nói "Ăn phải nước phải cái"
hoặc "đất lành chim đậu” hoặc "địa linh nhân kiệt"
cũng diễn tả cái nghĩa "thiên nhân tương ứng" nói trên.
Khi tổ tiên Lạc Việt định cư ở vùng châu thổ sông Hồng cách đây
hơn bốn ngàn năm, tất đã nhìn đại thế chiến lược phong thủy để tính
cuộc phát triển Bắc cự Nam tiến, hàm ẩn trong huyền thoại quốc đạo
năm mươi con xuống biển, năm mươi con lên núi.
Muốn dân tộc đủ lực Bắc cự thì phải nằm vào long
mạch tương đương với long mạch Bắc phương Trung Hoa, muốn Nam tiến
thì phải có phong thủy khuynh loát nổi Chiêm Thành Phù Nam... Ngọc
phả Hùng Vương ghi chép chuyện Lạc Long đi khắp nước (lúc đó mới
vào đến Hà Tĩnh) tìm đất đóng đô, thấy 99 ngọn Hồng lĩnh tuy đẹp
nhưng đất hẹp sỏi đá, sông ngòi nông cạn ngắn ngủi, nên bỏ ra vùng
trung du cao rộng.
Tới ngã ba sông Thao nước đỏ, sông Lô nước xanh quấn
quanh ba ngọn núi đột ngột nhô cao như đầu rồng là núi Hùng, núi
Trọc, núi Vặn, xếp hàng chầu về linh địa có 99 ngọn đồi như 99 thớt
voi từ Phú Lộc đến Thậm Thình, lại thêm vài chục quả đồi thấp hơn
như đàn rùa từ Việt Trì bò lên, địa thế vừa đẹp như tranh vẽ, vừa
phát nở dài rộng, vua Hùng vừa ý chọn làm quốc đô.

Nhìn địa thế của nước Việt cổ tuy nhỏ bé hơn Trung
Hoa, nhưng thế sông núi xắp đặt không kém khí lực : các dẫy núi
hình nan quạt tụ về đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng, đỉnh này là
khoảng Việt Trì Tam Đảo, xuống dưới nữa là Thăng Long sau này, cánh
tay trái vươn lên Yên Tử Hạ Long, cánh tay phải đặt xuống vùng đá
vôi Hoa Lư , Ninh Bình, Thanh Hóa. Hai con sông lớn làm mạch máu
của đất nước là:
- Sông Hồng dài 1200 cây số, phát tích từ 18 con sông ở Đại Lý tức
Vân Nam rót vào, vòng quanh 200 dặm quấn tròn như tai người nên
gọi là Nhĩ Hà. Nhưng vì lòng nước dữ dội, phù sa đỏ, gây lụt lội
nên cũng không phải là đất lành như Phật địa Cửu Long giang.
- Sông Đà còn gọi là Hắc giang hay sông Bờ, dài 850 cây số, cũng
phát tự Vân Nam là chi hữu ngạn của sông Hồng. Chạy dài theo sông
Đà là dẫy Hoàng Liên Sơn với đỉnh cao nhất hơn 3142 mét, dòng sông
có nhiều thác nước khí lực rất mạnh, cùng với núi Ba Vì kết thành
đại địa hữu hổ.
Các mạch Sông Hồng, Sông Mã, đều chảy theo hướng Đông Nam thuộc
cung Thìn là Long cung, nên các dòng sông ở vị thế "long cư
long vị", rồng ở tổ rồng, khí lực rất mạnh mẽ lâu dài.
Đặc biệt sông và núi, âm và dương, đi song song với
nhau, khiến thế quân bình của khí mạch được sinh động. Cả vùng đất
cổ Việt có rất nhiều địa hình kết tụ long mạch nếu theo lý phong
thủy nơi linh khí kết tụ là các ngả sông hội lại như vùng Việt Trì
, vùng sông Lục Đầu, vùng Tuyên Quang, Lai Châu... có từ 3 tới 6
mạch nước hội tụ tăng cường khí mạch hưng phát. (hình 1)Tam Giác
Đại Địa: Tam Đảo - Ba Vì - Thăng Long.
Cổ thư nước Hàn khi bàn về phong thủy trong việc
chọn đất định cư cũng chú trọng tới 4 điểm : mạch nước, thế đất,
hình núi và mầu sắc đất. Đất và núi phải toát ra sinh khí, đất phải
rộng nhưng kín và có mạch nước , mạch nước mở rộng quá bị thoát
khí nên cửa sông cần vừa phải.
Đất rộng sinh đại nhân, có đồi bao quanh hình bán
nguyệt lại càng quí. Đất có sông lạch đâm thẳng vào như mũi tên
phải tránh, đất nằm ép giữa núi như đất thung lũng có âm khí, ban
ngày có sương mù, mặt trời lên muộn, lặn sớm, nhất định không phải
đất làm nhà, dựng đô. Đồi núi lớp lớp bao quanh, nên cúi chầu về
hơn là dựng đứng như đe dọa... (Y Chung Hwan' s T'aengniji- University
of Sydney).
Xem như thế, đại địa Phong Châu, Luy Lâu (vùng Hà
Bắc), Đại La Thăng Long hội hợp đủ các ưu điểm để làm đất dựng đô,
riêng đất Phong Châu bên tả sông Hồng (tả long) làm đất tổ Hùng
Vương quả là quí địa trường thế, khí sắc sinh động, thảo mộc tươi
nhuận, đất cao rộng mà có núi, đồi, sông, mấy lớp quấn quít chầu
bái, đất này khi dấy phát có thể qui phục thiên hạ, ngang ngửa với
đất Hoàng Hà, Dương Tử, Tần Lĩnh, Sơn đông, Côn Lôn của Hán tộc.

Sau đời Vua Hùng, thủ đô rời xuống Cổ Loa (220 trước
Tây lịch) mãi tới đời Ngô Quyền (939) Cổ Loa vẫn là trung tâm đất
nước. Trong những thế kỷ thuộc Hán, vùng Luy Lâu (phủ Thuận Thành,
Hà Bắc) trở thành khu vực văn hóa quan trọng nhất (Sĩ Nhiếp và các
trị sở từ thế kỷ thứ II). Bạch Hạc Việt Trì - Cổ Loa - Luy Lâu (có
thể thành Long Biên cũng thuộc Luy Lâu) đều nằm ở tay trái sông
Hồng (nếu nhìn từ Bắc xuống), Việt Trì trên cao, Cổ Loa, Luy Lâu
xuống thấp hơn nhưng vẫn ở đỉnh delta châu thổ sông Hồng và chỉ
cách Hà Nội 15- 25 cây số, nghĩa là vẫn một địa hình phong thủy.
Có lẽ khi quân Nam Chiếu chiếm Giao châu thành Đại
La mới được xây cất hoặc tu bổ (đầu thế kỷ IX) bên tay phải sông
Hồng, như vậy phòng ngự vững hơn vì giặc muốn vây thành phải qua
sông. Khi Cao Biền dẹp được quân Nam Chiếu (865), cho đắp thành
Đại La cao rộng hơn nhiều, sau này thành Thăng Long do sư Vạn Hạnh
thiết kế cũng nằm ở khu vực Đại La.
Cao Biền vừa làm tướng vừa là nhà phong thủy nên
việc lựa chọn Đại La làm trị sở phải vừa mang lợi điểm chiến lược,
vừa mang ưu thế phong thủy. Đất Đại La- Thăng Long bên bờ sông Hồng
lại có sông Tô Lịch bao quanh (Cao Biền cho khơi lại sông Tô Lịch),
lấy Tây Hồ làm não bộ, mạn xa một bên ba ngọn Tản Viên, một bên
ba ngọn Tam Đảo, đều làm án bảo vệ kinh thành, sau này núi Nùng
được đắp lên trong khu hoàng thành với mục đích tụ khí mạch, nhưng
cũng có người cho tên núi Nùng là núi Tản Viên.
Linh khí phong thủy não bộ Thăng Long tại Hồ Tây
theo sách Địa lý Cao Biền, có đủ Thanh long Bạch hổ kết phát Nơi
đây Thánh Mẫu Liễu Hạnh từng hiển linh, Lạc Long Quân diệt Hồ tinh
chín đuôi. Phía xa là ba ngọn Tản Viên, tổ sơn làm án che kinh đô.
(trích theo Huard)
Khi Hoàng Phúc theo quân Minh sang cũng phải nhận
đấy là thế đất "La thành bất loạn". Quốc đô Thăng Long
thế đất " Phượng chủy, long bàn " tức mỏ phượng mình rồng,
có thành hoàng Bạch Mã tức thần núi Nùng (núi Long Đỗ) phù trợ,
tương truyền núi có khe thông xuống đất sâu tiếp nhận khí thiêng
trời đất hội tụ, cung điện nhà Lý được xây trên núi này.
Đời Đinh, Tiền Lê, lấy quê hương Hoa Lư làm kinh
đô chỉ kéo dài được hơn 40 năm ngắn ngủi (968 - 1010) vì Hoa Lư
tuy có núi non vây bọc xếp đặt như thành quách, nhưng Hoa Lư không
ở giữa khu vực sinh hoạt trọng tâm dân tộc, đất hẹp, gọi là đất
sơn cùng thủy tận, không thể lâu dài.
Từ vùng phong thủy Mã-Hồng-Đà, có hướng sông, núi và châu thổ xếp
đặt giống nhau, có quân bình âm dương đều đặn, phát huy được văn
hóa Trung đạo nhân bản, vào tới miền Nghệ An, Hà Tĩnh lại bắt đầu
một khối phong thủy khác.
2
1
2 3
4 5
6 7
8 9
10 11
12 13
14 15
16
|