|
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Việt Sử Siêu Linh
Hạ Long Lưu Văn Vịnh
Gạn lọc sấm bản
Qua 14 đoạn Sấm gồm 105 câu kể trên, chúng tôi hy
vọng đã chắt lọc được những ý chính của tập Sấm quốc ngữ khoảng
400 câu tương truyền là Sấm Trạng Trình.
Những câu khác, khoảng 300 câu, chúng tôi không bàn
luận vì rơi vào những trường hợp sau :
1- Những câu không phải là sấm trạng: Những câu Sấm
(16 câu) do cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng sáng tác vào thời 1930 sau
khi Pháp thả bom Cổ Am để tiêu diệt các nhà ái quốc:
Tan tác Kiến kiều An đất nước
Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây
Cha con nhà Vĩnh, Bảo cho hay
Các địa danh Kiến An, Vĩnh Bảo, Cổ Am thuộc vùng
khởi nghĩa của Quốc Dân Đảng Việt Nam.
Hoặc câu :
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây
Tám gà chữ Nho là Bát Kê, ám chỉ Toàn quyền Thực
dân Pasquier (đọc âm giống chữ Bát kê !) bị nạn máy bay chết cháy
thời đó.
Một nhà Nho cùng thế hệ với các cụ Sở Cuồng, Nguyễn
Can Mộng... là cụ Ba La (1870 ? - 1973) cho biết thời 1930, để thức
tỉnh lòng yêu nước và vận động tinh thần chống Pháp, một số nhà
Nho đã đặt ra nhiều bài thơ loại bí hiểm như sấm ký để truyền trong
quần chúng.
Cụ Phó Bảng Nguyễn Can Mộng cũng là người viết ra
bài Văn tế Cá Sấu với tên Hàn Thuyên để đề cao văn chương chữ Nôm
đã có dấu tích từ thế kỷ XII ! Nhưng cũng chính nhờ các nhà Nho
yêu nước đó mà mọi người mới tìm về cội nguồn dân tộc và hãnh diện
với kho tàng tinh thần của tổ tiên lưu truyền lại.
2 - Lẫn lộn: Ngoài vài bản đáng tin cậy nhất như
bản của Sở Cuồng (1930), bản Nam Ký (1945), nhiều bản sau này in
lẫn cả bài Sấm của Sư Vạn Hạnh vào Sấm Trạng Trình
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành..
Hoặc những câu đồng dao, ca dao như :
Bao giờ ngựa đá qua sông
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng
Có khi người sau dựa vào một biến cố lịch sử rồi
viết ra cũng gọi là sấm :
Đầu cha lộn xuống chân con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi
Chữ Quang (Quang Trung) có chữ Tiểu ở trên, chữ Cảnh (Cảnh Thịnh
con vua Quang Trung ) cũng có chữ Tiểu ở dưới, được 14 năm thì dứt.
3 - Rất nhiều câu thơ đặt ra với dụng ý TUYÊN TRUYỀN
hoặc chống đối, rồi gán cho Sấm Trạng Trình từ thời nhà Nguyễn tới
hiện đại :
Dục lòng chinh chích u mê
Thập trên tư dưới nhất đề chữ tâm
Để loài bạch quỷ Nam xâm...
Thập trên tứ dưới là chữ Đức, với chữ Dục ở câu trên
là vua Dục Đức hay Tự Đức, để Pháp xâm chiếm Việt Nam.
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ làm dân chẳng lành
Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung.
Năm Gà (Dậu 1945), năm Khỉ (Thân 1944), nhà Nguyễn
(phụ nguyên) hết số. Sau khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản
lại thấy truyền khẩu hai câu :
Nguyên tử giản cầu kinh Nhật Bản
Phong lôi hỏa thạch chấn Hoa Kỳ
Hai câu khác :
Chừng nào sen mọc biển Đông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi...
Có người giải là hoa Sen (Liên hoa) chỉ Liên Sô bành
trướng về phương Đông, có người giải là thời Nhật mang Sen thả ở
sông ao, là lúc nhà Nguyễn phải ra đi. Sau này câu trên được đổi
thành :
Chừng nào trúc mọc quanh thành...
Để chỉ huy hiệu cây trúc của họ Ngô ở miền Nam !
Khi Phan Bá Vành khởi loạn (1827 thời Minh Mệnh)
cũng đặt ra câu sấm:
Trên trời có sao tua rua
Duới đất có vua Ba Vành
Thời 1949 - 50 lại xuất hiện câu sấm :
Bao giờ đá nổi lông chìm
Hồ kia cạn nước ngựa tìm về quê
Đá chỉ Tưởng Giới Thạch, lông chỉ Mao Trạch Đông,
Hồ chỉ ***... Hoặc câu :
Bao giờ đường sắt đen xì
Voi đi trên giấy Tây thì về Tây
Cũng là loại sấm bình dân sáng tác văn chương truyền
khẩu mà thôi. Tất nhiên cho tới hiện tại vẫn còn những câu sấm bịa
đặt do các phe phái truyền ra như "lại nói sự Nam Đàn sinh
thánh" của phe này, hoặc câu "bao giờ diều đỏ đứt dây,
ma vương điện toán cộng thây đầy đường" của phe khác, càng
chứng tỏ tầm ảnh hưởng của Sấm Trạng Trình mỗi ngày một lan rộng
và vì thế việc phân định chính giả lại càng cần thiết hơn.
4 - Những câu không có giá trị tiên tri, chỉ là lời
thơ mang chất đạo đức KHUYÊN RĂN như :
Một câu là một nhiệm mầu
Anh hùng ngẫm được mới hầu giá cao
Chốn Đông Nam là lò khổ ải
Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
Lại giận đấng nam nhi chí cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết lý cát hung...
5 - Những câu chứa đựng NĂM THÁNG MƠ HỒ không thể
định mốc thời gian như :
Hùm già lạc dấu khôn về
Mèo non chi chí tìm về cố hương
Tý, Sửu, Dần, hội Thánh hội Thần...
Hội Tiên hội Phật hội ông lão già...
Gà đâu sớm gáy bên đường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Có thể là những câu làm ra từ thời xưa, ứng với một
hoàn cảnh lịch sử nào đó vào năm Tý năm Sửu, năm Gà năm Mèo... từ
những thế kỷ trước mà nay không còn giá trị tiên đoán tương lai
nữa. Hàng trăm câu sấm trong nhiều bản in rơi vào trường hợp 4 và
5, không liên hệ tới chủ đề Thánh nhân xuất của Sấm Trạng Trình.
CƠ BÚT THÁNH MẪU LIỄU HẠNH VÀO THỜI VUA TỰ
ĐỨC
Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ Cha tháng Ba giỗ Mẹ
Tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần, hóa thân của Phù Đổng Thiên Vương,
tháng Ba giỗ Mẹ là giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, là hai vị trong Tứ Bất
Tử dân tộc: Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Liễu Hạnh.
Tuy phát sinh sau ba vị kia cả ngàn năm, Thánh Mẫu
Liễu Hạnh lại được sùng kính tôn thờ như một tín ngưỡng dân gian
lan rộng khắp nơi, từ Phủ Giầy Nam Định, tới Chùa Thiên Minh Lạng
Sơn, vào đền Sòng Thanh Hóa, ra Tây Hồ Thăng Long, vào Sóc Hương
Nghệ An...đâu đâu cũng hiển linh thiêng liêng. Ca dao có câu :
Nước sông Thương bên đục bên trong
Núi Tản cổ bồng lại có Thánh sinh
Ở trên tỉnh Lạng có thành Tiên xây...
Nguyên ngài là con gái thứ của Ngọc Hoàng Thượng
đế, giáng trần vào Rằm tháng Tám năm 1557 đời Mạc Phúc Nguyên tại
Vụ Bản, tên Giáng Tiên. Năm 18 tuổi kết duyên với Trần Đào Lang
và năm 21 tuổi, mùng 3 tháng Ba, thì hóa về cõi Tiên. Sau đó Ngài
lại hiện lên an ủi mẹ, chồng, rồi biến mất. Những lần tái giáng
sau này Ngài biến hiện, lúc làm thiếu nữ ngâm thơ dưới trăng, lúc
trụ trì nơi danh lam thắng cảnh, lúc làm bà lão chống gậy, lúc ngồi
gốc tùng gẩy đàn.
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613 ), một học
trò của Trạng Trình, đã có lần gập ngài thị hiện khi đi sứ Tầu về
qua Lạng Sơn và đã dựng đền thờ Mẫu tại vùng biên giới; lần sau
ở Tây Hồ một đêm trăng Trạng Bùng cùng hai người bạn khác họ Lý,
họ Ngô xướng họa với một thiếu nữ khuê các mặc áo đỏ.
Lúc kết bài: "Trăng tròn soi một bóng Tiên thôi"
mới biết là Ngài thị hiện.
Về sau, Phủ Tây Hồ được coi là một linh địa nay vẫn
còn hương khói ngay giữa Hồ Tây, Hà Nội.
Sự thờ cúng Thánh Mẫu "Xuất thế vi Tiên, giáng
thế vi Phật" phản ảnh tâm thức Mẹ hiền từ bao bọc, một nguyên
lý Mẹ bên cạnh nguyên lý Cha hùng dũng che chở. Sau này cùng dân
tộc Nam tiến, nguyên lý ấy lại hoá vào một Thiên Mụ (tương truyền
Bà mặc áo đỏ quần xanh giống Chúa Liễu Hạnh !), một Thiên Y A Na,
một Bà Đen, phù hộ độ trì cho dân lành.
Vua Tự Đức là một người có văn học thường chú tâm
tới văn hóa tín ngưỡng truyền thống. Nhà Vua đã từng ngự giá tới
thăm đền thượng Tản Viên Sơn và đã từng đọc và sửa Sấm Trạng Trình,
Truyện Kiều...
Trong lúc chính sự rối ren, Thực dân xâm lăng chiếm
đất, ngài đã cử sứ thần tới cầu Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại đền Sòng
xin phụ tiên giáng cơ bút về quốc sự nguy biến. Phép phụ tiên thời
xưa có quy luật chỉnh tề: người cầu phải tắm rửa sạch sẽ, ăn chay
ba ngày, bày hương án hoa rượu, lại có một mâm gạo để Tiên giáng
bút. Bút của Tiên là một cành đào bẻ từ nhánh phía Đông vào buổi
sương sáng. Hai ba người hầu ngâm cổ thi để tạo bầu khí, một người
phù hương vào mặt và tay người ngồi đồng, khi thấy đồng đảo đảo
là lúc Tiên sắp giáng.
Người cầu tấu lạy và Tiên gõ bút đào vào mâm gạo mà viết thật nhanh,
một người hầu bút trông nét trên gạo mà thảo ra giấy.
Bài Cơ Bút đền Sòng nổi tiếng này đã được phổ biến
từ thời tiền chiến và được in trên nhiều sách báo, đặc biệt có những
câu rất giống với chủ đề Sấm Trạng Trình :
1- Hoành sơn một giải ra vào
Cuốc kêu vọng đế, Cáo gào giả vương
Cung trăng đã sẵn trời dương
Giang sơn lại mở một trường Xuân Thu
Bốn câu mở đầu nói ngay về thời suy vi của Triều
Nguyễn tại Huế dùng chữ Hoành Sơn của Trạng Trình chỉ cho Nguyễn
Hoàng :
Hoành sơn nhất đái,
Vạn đại dung thân,
Nay thì Cuốc kêu vọng Đế (chữ Cuốc vừa nghĩa con
chim Cuốc vừa hàm âm Quốc gia), chẳng còn vương đế, mà chỉ có bọn
ma cáo giả làm vua ! Âm dương đảo lộn (cung trăng là âm đối với
trời dương), giang sơn loạn lạc tranh chấp như thời Xuân Thu Chiến
Quốc.
2- Tên đâu ba mũi phục thù
Khen cho Khắc Dụng bầy trò cho con
Ngọn cờ phất phới đầu non
Thạch Thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn
Đoạn này nói khá rõ về lá cờ vàng ba sọc, tiếp nối
của nhà Nguyễn với Quốc trưởng Bảo Đại, một giai đoạn xoay vần tới
tàn cuộc, với máu đổ lai láng của người Tây dương (dê). Tất cả chỉ
là trò bầy đặt. Chữ Khắc Dụng, Thạch Thành mèo lại... chúng tôi
không thấy tài liệu nào giải rõ những điển tích này. Riêng chữ Thạch
nếu là bộ Thử thì có nghĩa là con chuột lớn, phải chăng là chơi
chữ mèo, chuột đuổi nhau ? Thạch Thành còn là địa danh gần đền Sòng
(Thanh Hóa) , Khắc Dụng có thể là tên một nhân vật địa phương thời
đó chăng ?
3- Trời Nam mở vận Viêm Bang
Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng
Đồng dao lại có câu rằng :
Non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Ai ơi nhớ lấy thiên ky kẻo lầm
Nhưng rồi nước Việt Nam sẽ tới vận Viêm Bang, trở
lại thời vương đạo Lạc Long Hùng Vương. Chân nhân của hồng vận này
không đến từ bọn Tây phương (thầy tăng nói lái là thằng Tây) mà
là một bậc tên Bạch Xỉ (trắng răng), như Sấm Trạng Trình đã nhắc
đi nhắc lại nhiều lần.
Đây là đại vận cường quốc Viêm Việt với bậc chân
nhân dẫn dắt nổi lên từ non xanh. Bấy giờ quét sạch bọn chuột (thử),
bọn hồ ly (ly) đấy là thiên cơ (ky) mà toàn dân cần ghi tạc. Đoạn
này Thánh nói một cách khinh miệt bọn Tây xâm lăng và trấn an bằng
cách hé lộ thiên cơ về thời rực rỡ của đất nước sẽ tới.
Cũng cần ghi nhận là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan,
một môn sinh của Trạng Trình, đã hai lần được Thánh Mẫu thị hiện,
vậy có liên quan gì giữa Sấm Trạng và bài Cơ bút này không ? Hay
tất cả đều cùng phát khởi từ một tàng thức cộng thể dân tộc ?
4 - Đương khi sấm sét ầm ầm
Ấy là khí số để găm trị bình
Vũ phu mà bức thư sinh
Long ô chấp cả mấy anh Thủy Hoàng
Sau thời binh lửa sẽ tới thời bình trị, bọn vũ phu
độc ác bức bách thư sinh hiền lương, tới thời "long ô"
thì vũ phu bằng mấy bạo chúa Tần Thủy Hoàng cũng không làm gì nổi.
Long ô có thể hiểu là rồng đen, nhưng hiểu theo chữ nôm thì ô là
ô dù che mưa nắng, tức lọng tản, hợp với ý Bạch Sỉ và Thánh Tản
Viên xuất trong Sấm Trạng. Tản (ô), long (rồng) càng rõ ý bậc đế
vương Bảo sơn thiên tử xuất hiện.
5 - Nực cười cho lũ bàng quan
Cờ tàn mà lại tính đường đẩy xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây.
Bốn câu kết thúc cơ bút thấy rõ lời lẽ của một giáng
tiên, nhìn trần thế như trò hề, cuộc cờ đã tàn mà tục nhân vẫn chưa
nhìn ra, còn loay hoay tính chuyện đẩy xe lên dốc ! Giống như hai
câu của Nguyễn Khuyến :
Vua chèo còn chẳng ra gì
quan chèo thì có khác chi thằng hề !
Tất nhiên giá trị của phụ tiên cơ bút khó bằng Sấm
ký Chiêm tinh vì không dựa trên một khoa học lý số nào. Đã có nhiều
cơ bút chỉ phơi bầy tâm thức ước ao của người cầu cơ và nét bút
lúc giáng có khi chỉ là tiếng vọng từ tiềm thức hay vô thức trào
ra.
Nhưng đây là một bài giáng cơ bút cách đây hơn trăm
năm, tại một ngôi đền "thiêng nhất xứ Thanh", do Vua cầu
và do Thánh Mẫu linh thiêng nhất đất Việt chủ giáng.
Giá trị của bài này có tầm ngang với những huyền
khải như huyền khải Fatima, huyền khải Malachy (nhà tiên tri Ái
Nhĩ Lan nhìn thấy tên của tất cả chư vị Giáo hoàng La Mã từ thế
kỷ XI).
Hơn nữa phối kiểm với Sấm Trạng Trình lại thấy cùng
một tiên đoán chủ đề: vận Viêm bang, Thánh xuất và Bạch Xỉ. Cho
nên Thánh Mẫu, Trạng Trình... cho dù không nói những lời tiên tri
chính xác thì cũng cho ta những lời vàng ngọc vang lên từ Tàng Thức
Lạc Việt, phổ độ chúng sinh bằng pháp môn huyền vi của các ngài.
12
1
2 3
4 5
6 7
8 9
10 11
12 13
14 15
16
|