|
Nguồn
gốc "Màu Tím Hoa Sim" trích trong
"Chuyện
kể về một cây gỗ vuông chành chạnh"
Hữu Loan
(02.04.1916 - 18.03.2010)
Tôi
sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được
cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy
cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà.
Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất
lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 - lúc đó tôi cũng
đã 22 tuổi - tôi chơi ngông vác lều chõng ra Hà Nội thi tú tài,
để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai.
Tuyệt nhiên tôi chẳng có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai
cũng biết thi tú tài Pháp thời đó rất khó khăn. Số người đỗ trong
kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5, 6 chục năm sau những người cùng
thời còn nhớ tên những cậu khóa ấy, trong số có Nguyễn Đình Thi,
Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện và tôi... (theo Lê Thọ Bình,
báo Pháp Luật số Xuân Giáp Thân)
Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay,
tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học
giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ý, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa
con nhỏ. Tên thật của bà Tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ
của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc
cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một
cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách,
nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ Bình, báo đã dẫn).
Bà Tham Kỳ là một người hiền lành
tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng tử tế, coi tôi chẳng khác
người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư, bà gọi mãi, đứa
con gái - lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay
miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ
mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe
như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả
cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết.
Tên
em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh
ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu
đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một "bà cụ
non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo:
em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớt đỏ au,
lúc thì quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè,
nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc
nhà đem ra giếng giặt...
Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non"
ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến
tai em, thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong,
không chịu học hành... Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi
em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ
nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện cho em nghe; rồi tôi đọc
thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra
khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng
thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy, còn yếu lắm, không
đi được đâu!" Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được.
Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên
núi chơi...
Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới
được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo
muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống
bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em
nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời. Không biết lúc đó
em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
- Thầy có thích ăn sim không?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt
một màu sim. Em đứng lên, đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá
nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi
với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.
- Thầy ăn đi!
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên
miệng và trầm trồ:
- Ngọt quá!
Như đã nói, tôi sinh ra trong một
gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú
thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến
quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi
cũng đỏ tím, hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá
lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những
lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường
theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng
lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... Lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,
em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như
chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu
nhìn lại... Em vẫn đứng yên đó...Tôi lại đi và nhìn lại cho tới
khi không còn nhìn thấy em nữa...
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh
thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe
và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 đã có
nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng,
không chịu ra tiếp ai bao giờ...
Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về
Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều,
nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây
không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi,
đã là một cô gái xinh đẹp...
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì
hai gia đình không "môn đăng hộ đối" một chút nào. Mãi
sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em
ngấm ngầm "soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn.
Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, "không đòi may áo mới
trong ngày hợp hôn", bảo rằng là: "Yêu nhau, thương nhau
cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học
giỏi, làm thơ hay lại... đẹp giai nên em thường gọi đùa là ông chồng
độc đáo.
Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,
huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ
có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai
chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi đi thật
nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm
chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng,
nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ đây em không còn là cô
bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi,
tôi lại quay đầu nhìn lại... Nếu như chín năm về trước, nhìn lại
chỉ cảm thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn.
Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba
tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm
thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần
áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì
muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông
chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi
người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù
đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái
tim tôi.
Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong
lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần
chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng
kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh
huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ
có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang
đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm
nước, tôi lấy bút ra ghi, chép.
Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những
câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh...
...Tôi về không gặp nàng...
Về
viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương,
viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở
Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những
năm chiến tranh. Đó là bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. [1]
Đến đây, chắc bạn đọc đã biết tôi
là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916, hiện tại đang
"ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là
chỗ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc Xã Mai Lĩnh, huyện Nga
Sơn tỉnh Thanh Hóa...
Màu
Tím Hoa Sim
Hữu
Loan
Nàng có ba người anh
đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bẻ bỏng chiều quê
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
Năm chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng mầu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa
Một chiều rừng mưa
Ba người anh bị chiến trường đông bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Mầu tìm hoa sim tím chiều hoang biền biệt.
Nhà
thơ Hữu Loan - "Tình đẹp, tâm thiêng, thơ sẽ sống mãi"
“Kể cũng lạ, tôi là anh học trò
nghèo từ đồng cói Nga Sơn tự học, thi đậu tú tài rồi đi làm gia
sư trong gia đình cô Ninh để kiếm gạo, khi cô ấy đã đẹp nổi tiếng
trường nữ sinh Thanh Hóa. Không ngờ cô con gái nhà giàu nhưng lại
đem lòng anh giáo nghèo là tôi.”
Hình:
Nhà của Hữu Loan ở Nga Sơn, Thanh Hóa
Lần theo sự kiện Màu tím hoa sim -
một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ vừa có tác quyền trị
giá 100 triệu đồng, chúng tôi tìm về làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh,
huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) để mong gặp được nhà thơ Hữu Loan. Trái
với mọi lời đồn thổi “ông già ấy lập dị lắm, không hề tiếp ai đâu”,
nhà thơ đã dành cho chúng tôi hơn nửa ngày không chỉ với Màu tím
hoa sim nổi tiếng, mà còn dốc bầu tâm sự về chữ “tâm”, chữ “tình”
trong thơ ông.
Trong căn nhà cấp bốn đơn sơ tại làng
Vân Hoàn, thi sĩ Hữu Loan ngồi im lìm như một pho tượng sống trên
chiếc ghế nhựa, sát chiếc tivi để nghe tiếng cho rõ nhưng mắt ông
lại nhìn đau đáu ra khoảng vườn li ti bóng nắng, bóng dừa, bóng
nhãn. Mái tóc trắng bạc xòa lên hai bờ vai làm cho khuôn mặt hào
hoa, đẹp lão của ông thêm vẻ trầm lắng. Chiếc áo bông khoác xuề
xoà trên vai không giấu nổi một vóc hình vốn to cao, vạm vỡ.
Tình và tâm trong thơ
-
Được hỏi chuyện, thi sĩ nhớ lại cảm xúc khi ông Lê Văn Chính, giám
đốc Công ty Vitek VTB, đến đặt 100 triệu đồng xin mua tác quyền
bài thơ Màu tím hoa sim:
- Trước khi trao bản quyền bài thơ
tôi suy nghĩ nhiều lắm. Phải mấy tuần sau tôi mới quyết. Lâu nay
có nhiều người trong Nam ngoài Bắc kể cả người nước ngoài tìm gặp
xin tôi chép lại bài thơ, nay nó được tung hẳn ra một cách đàng
hoàng cũng là một điều vui. Một điều vui khác, lần đầu tiên vợ chồng
tôi có tiền chia đều cho mười đứa con mỗi đứa một ít. Đặc biệt chu
cấp vốn cho những đứa con nghèo làm ăn, thứ đến sẽ trích một ít
để in tập thơ khoảng 40 bài sẽ mang tên Thơ Hữu Loan.
Nói đoạn, ông đọc lại cho tôi nghe
toàn bộ bài Màu tím hoa sim bằng giọng quê mạch lạc, giàu cảm xúc
và trầm ấm của người tỉnh Thanh. Đến những từ cuối cùng của bài
thơ, khóe mắt ông hoe đỏ. Không dám bàn luận gì nhiều về những câu
chữ tài hoa, tôi hỏi ông một chi tiết rất dễ thương của bài thơ:
- Nàng không đòi may áo mới trong
ngày hợp hôn có thật hay không lời của cô gái 16 tuổi?
- Thật chứ. Cô ấy tên là Lê Đỗ Thị
Ninh quê ở làng Đình Hương, nay là vùng Sặt thuộc huyện Đông Sơn.
Kể cũng lạ, tôi là anh học trò nghèo từ đồng cói Nga Sơn tự học,
thi đậu tú tài rồi đi làm gia sư trong gia đình cô Ninh để kiếm
gạo, khi cô ấy đã đẹp nổi tiếng trường nữ sinh Thanh Hóa. Không
ngờ cô con gái nhà giàu nhưng lại đem lòng anh giáo nghèo là tôi.
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không “môn đăng
hộ đối” một chút nào. Mãi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi
thành công là do bố mẹ cô ấy ngấm ngầm “soạn kịch bản”. Một lần
tôi bàn việc may áo cưới cô ấy gạt đi, rằng: Yêu nhau, thương nhau
cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả.
- Còn bốn từ anh chồng độc đáo là
sao ạ?
- Cũng là câu nói của cô ấy. Vì hồi
đó tôi học giỏi, làm thơ hay và lại đẹp mã nữa. Độc đáo quá đi chứ!
- ông cười vui, rung rung cái miệng móm mém.
Như sống lại với một thời trai trẻ,
thi sĩ Hữu Loan thổ lộ:
- Cô Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa
sim. Lạ thay nơi cô bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa năm 16 tuổi
cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết
nổi những câu chiều hành quân/ qua những đồi hoa sim /những đồi
hoa sim/ những đồi hoa sim dài trong chiều không hết /màu tím hoa
sim /tím chiều hoang biền biệt và chiều hoang tím có chiều hoang
biết/ chiều hoang tím tím thêm màu da diết.
Bài thơ được anh lính Vệ quốc quân
viết rất nhanh bởi “nỗi nhớ, niềm đau và tình thương người vợ trẻ
đã tự “viết” sẵn từng quãng thơ trong đầu anh rồi. Đặt bút là câu
thơ hiện hình lên. “Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh
thật thiêng liêng thì mới có thơ hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm
thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì”. Nghe ông nói, bất chợt
tôi ngước nhìn chữ “Tâm” do ông viết bằng Hán tự khá đẹp treo trên
bức tường chính giữa bàn thờ đang thoảng bay mùi hương thơm.
Thơ trong đời
- Dù sao thì chuyện cũ Hữu Loan đã
lùi về quá khứ. Tôi đã trải đủ nghề kiếm sống từ nghề đi xe thồ,
xe cút kít, vác đá, mò cua, bắt ốc. Không thể từ nan việc gì mới
đủ sức nuôi mười đứa con sáu trai, bốn gái sau khi tôi làm bạn với
bà Nhu đây này.
Hình:
Hữu Loan và vợ, bà Phạm Thị Nhu
Bà Phạm Thị Nhu (kém chồng 20 tuổi)
ngồi cạnh thi sĩ quay sang hỏi tôi:
- Thế chú đã nghe bài thơ Hoa lúa
ông ấy viết nịnh tôi chưa?
Tôi thưa mới chỉ nghe loáng thoáng
qua một bản nhạc đã lâu lắm rồi, còn nguyên gốc bài thơ thì bây
giờ mới xin nghe. Ông đọc:
Em là con
gái đồng xanh
tóc dài vương hoa lúa
đôi mắt em mang chân trời quê cũ
giếng ngọt, cây đa
anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
nhạc quê hương say đắm
trong lời em từng lời
tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
em ca giữa đồng xanh bát ngát
anh nghe quê ta sống lại hội mùa
có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
có dân ca quan họ
trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
cầm tay trao một miếng trầu
yêu nhau cởi áo cho nhau
về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
bát ngát làng tre, ruộng lúa
em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
xa em năm nhớ, gần em mười thương
còn bàn tay em còn quê hương mãi
em mang nguồn ân ái
căng ngực trẻ hai mươi và trong mắt biếc nhìn anh
em gái quê si tình
chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…
Anh yêu em muôn
vàn như quê ta bất diệt
quê hương ta ơi từ nay càng đẹp/ tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu/mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.
Hoa lúa được ông xem là bài thơ tặng
bà vợ sống, viết năm 1955, sáu năm sau bài thơ Màu tím hoa sim tặng
bà vợ đã qua đời.
Sau khi cắm thêm một nén hương trên
bàn thờ, thi sĩ tiếp tục câu chuyện:
- Tôi làm thơ không nhiều, toàn bộ
gia tài thơ có khoảng 40 bài nhưng bài nào cũng được khen hay. Thơ
tôi không giống ai, ngắt câu, lên xuống dòng tùy ý. Vậy mà lạ: đọc
nghe lúc nào cũng mới.
Nói rồi ông đọc bốn câu về lúa, về
trăng, về người du kích và đồn giặc Pháp trong bài Yên Mô dài 37
câu viết năm 1947:
-...Đêm nhúng sương trăng soi/ ngày
phơi bông vàng nắng/...Anh làm du kích Yên Mô/ nửa đêm trăng mọc
đỏ như cháy đồn. Hồi còn sống cụ Đặng Thai Mai yêu những câu này
lắm nhé…
Thường ngày thi thoảng căn nhà vắng
lặng giữa vườn cây trái của ông bà Hữu Loan lại vui lên bởi những
đoàn học sinh giỏi trường chuyên Lam Sơn về hỏi chuyện thơ văn kim
cổ. Hè năm 2003 dân làng Vân Hoàn tưởng nhà ông bà Hữu Loan có đám
cưới vì thấy hơn 30 xe máy, mỗi xe hai người về dựng chật cổng.
Hóa ra đó là 60 thầy cô giáo và sinh
viên Đại học Quốc gia từ Hà Nội rủ nhau về nghe tác giả Màu tím
hoa sim nói chuyện văn học và một số chi tiết trong bài thơ nổi
tiếng. Hôm ấy thầy trò ngồi chật nhà, chật sân nghe ông già ngồi
nói chuyện suốt hơn hai giờ. Mới đây có một cô giáo nghèo cuối huyện
“đi vòng thúng hết xã này sang xã khác hỏi nhà ông Hữu Loan không
chỉ để tặng quà mà còn vì nghe tiếng nhà thơ ở cùng huyện nhưng
chưa được biết mặt”.
Hôm nay tôi cũng như cô giáo nghèo
ấy rời quốc lộ 1A, rời đường 13, men theo khúc sông Bó Văn, rẽ dưới
chân núi Vân Hoàn, khẽ tay nhấc hai cánh cổng tre phía ngoài và
hai cánh cổng sắt phía trong để vào nhà thi sĩ Hữu Loan; để được
nghe bài Màu tím hoa sim do chính tác giả đọc cùng bầu tâm sự của
một nhà thơ gần bước sang tuổi 90 mà vẫn có những phút giây rung
động của chàng trai trẻ tuổi đôi mươi…
Nàng có
ba người anh đi bộ đội (*)
những em nàng
có em chưa biết nói
khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
yêu nàng như tình yêu em gái
ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
tôi mặc đồ quân nhân
đôi dày đinh
bết bùn đất hành quân
nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
cưới nhau xong là đi
từ chiến khu xa
nhớ về ái ngại
lấy chồng đời chiến chinh
mấy người đi trở lại
lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết người trai
khói lửa
mà chết người gái nhỏ hậu phương
tôi về
không gặp nàng
má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh.
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim.
Ngày xưa
đèn khuya
bóng nhỏ
nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
ba người anh từ chiến trường Đông Bắc
được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
gió sớm thu về rờn rợn nước sông.
đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
qua những đồi hoa sim
những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa:
“áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”.
Ai hát vô tình hay ác ý với nhau
chiều hoang tím có chiều hoang biết
chiều hoang tím tím thêm màu da diết
nhìn áo rách vai
tôi hát trong màu hoa:
“áo anh sứt chỉ đường tà
vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...”.
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
tím tình ơi lệ ứa
ráng vàng ma
và
sừng rúc điệu quân hành
vang vọng chập chờn
theo bóng những binh đoàn
biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím.
Tôi ví vọng về đâu?
Tôi với vọng về đâu?
áo anh nát chỉ dù lâu...
HỮU LOAN
(*) Bài thơ do chính nhà thơ Hữu Loan
đọc tại nhà ông, Vũ Toàn ghi lại ngày 12-12-2004. Nguồn: NXB
Kim Đồng
Xem tiểu sử Hữu Loan: Wikipedia
Một
bài viết cảm động về nhà thơ Hữu Loan
Một người bạn gửi cho tôi bài viết, nói rằng
chỉ viết, chứ chẳng biết đăng ở đâu. Quả thật, viết về người tốt
và sự thật, thật khó mà trông nhờ vào báo chí hiện nay. Chỉ xin
gửi lên blog, như một cách giải bày.
Nhà thơ Hữu Loan đã ra đi
Không hiểu sao khi anh Phạm Xuân Nguyên gọi điện thoại cho tôi vào
lúc 10h đêm qua, báo tin, tôi nghe mà không hề ngạc nhiên, chấn
động hay đau thương gì cả.
Tôi nghĩ ông từ giã cõi đời đẹp đẽ và ô trọc này (đẹp đẽ thì ít,
ô trọc thì nhiều) chính là ông đã bước sang cánh cửa để ông trở
về với ngôi đền thiêng của thi ca đang rực sáng đón chờ ông.
Ngay giây phút đó, khi đặt chiếc điện thoại xuống,
tôi cố nhớ lại những giây phút ngắn ngủi bên ông vào một ngày giữa
đông tháng 11 năm 2009. Ông nằm xuống khi chúng tôi chuẩn bị chào
ông. Tôi cúi xuống, nắm lấy bàn tay của ông, ánh mắt đã tắt nắng
từ lâu, chỉ còn bàn tay giữ chút nóng ấm, ông thì thào: "cám
ơn cô đã ghé thăm", tôi hỏi "ông có lời khuyên gì cho
cháu không?" - "Đừng thỏa hiệp với cái ác- xấu!".
tôi nghẹn lòng.
Hình ảnh ấy hiện ra và tôi vẫn không có cảm giác
mình bị đau thương, phiền muộn gì. Hình như có điều gì đó hân hoan
trong lòng. Tôi đến trước bàn thờ Phật, thắp hai nén hương cầu mong
cho Chư Phật Bồ Tát gia hộ cho linh hồn ông được siêu thoát. Cảm
giác tức thì của tôi từ lúc đó cho đến sáng nay, là sự trống rỗng
vô cùng tận.
Ông đã siêu thoát ngay khi hồn lìa khỏi xác, không
quyến luyến, không tiếc hận. Tôi nghĩ vậy và tin chắc là vậy.
6 giờ sáng nay, anh Đán, con trai của ông gọi cho
tôi: "Gia đình đã liệm ông cụ xong vào lúc 12h, đến 1h30 sáng
thì phát tang và chiều nay 3h30 đưa ông ra nghĩa trang xã luôn.
Lúc còn sống mấy người bạn văn nói chôn ông ở vườn nhà cho ấm cúng
nhưng bây giờ không đươc phép vì vệ sinh môi trường, chị ạ".
Tôi cám ơn Đán đã gọi cho tôi, nhưng tôi vẫn không
thấy đau buồn bởi tin tức này. Vì tôi tin là ông đã siêu thoát.
Như thường lệ, tôi cập nhật tin cho trang web sgtt.com.vn
và hôm nay, tôi đã nghĩ phải báo cho ai đó thêm nữa. Nhưng có cần
không?
Rồi tôi nghĩ nếu tòa soạn yêu cầu tôi đặt một nhân
vật nào đó nổi tiếng trong làng thơ văn thi phú kia viết về ông,
tôi sẽ từ chối, vì thật sự tôi không thấy ai có đủ nhân cách, đủ
tâm hồn rộng lớn làm bạn với ông.
Và ông không hề giống tất cả những nghệ sĩ đã ra
đi trước kia. Ông sống trung trinh với lương tâm và con người của
mình, trước sau chưa hề có chút đổi thay. Ông là một triết gia vĩ
đại hàng ngày đều tự vấn lương tâm mình trước khi đi ngủ: hôm nay
tôi đã làm điều gì sai trái?
TK ơi, tối qua, em báo cho TK, tiếng "trời ơi!'
của TK nghe thật đau lòng, mặc dù mãi đến giờ phút này, em mới thật
sự cảm thấy điều này.
Chúng ta hãy cùng chúc mừng cho người thi sĩ đáng
kính và nhớ, và sống cố gắng như lời ông nói: Đừng bao giờ thỏa
hiệp với cái ác- xấu.
TTNH
@TuanKhanh
Hữu Loan cây cỗ vuông
chành chạnh
Tiêu Dao Bảo Cự viết
Ðó là mấy từ trong trích đoạn bài thơ Hữu Loan chép
tặng tôi vào sổ tay 17 năm trước, với nét chữ cứng cỏi và cách xuống
giòng bậc thang đặc trưng trong thơ ông. Năm đó ông đã 73 tuổi.
"......Tôi là cây
gỗ
vuông
chành
chạnh
suốt đời
đã làm thất bại
mọi âm mưu
đẽo tròn
để muốn tùy tiện
lăn long lóc thế nào
thì long lóc
Chân
tính
đấy
hỡi Rìu, Bào
Phó -Mộc"
( chuyện Di Tề )
Ðó là năm ông "tái xuất giang hồ" rời bỏ
làng quê giong ruổi về phương nam sau 30 năm tự chôn và bị chôn
mình ở chốn quê nhà, một nơi đèo heo hút gió ở thôn Vân Hoàn, xã
Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Trong chuyến đi xuyên Việt
năm 1988 của đoàn Hộivăn nghệ Lâm Ðồng và tạp chí Langbian để đòi
tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự, chúng
tôi đã đưa Hữu Loan về lại quê nhà sau gần một năm lang bạt. Lần
ấy, chép xong mấy câu thơ, ông chỉ tay vào trang giấy nói với tôi:
"Anh thấy đó. Chữ Rìu, Bào và Phó - Mộc viết hoa. Anh biết
tôi muốn ám chỉ ai rồi."
Dọc đường đất nước trên chuyến đi, ông cũng đọc cho
công chúng nghe trong những lần gặp gỡ, bài thơ dài mới nhất của
ông, bài "Chuyện tôi về", một loại bút ký thơ kể về thời
gian "Ba mươi năm không phải chuyện / Một sớm một chiều/ Một
ngày tù đã dài như thếkỷ / Ấy là tù giữa chợ....". Nhưng 30
năm đó, kể từ ngày có vụ án văn nghệ gọi là "Nhân văn - Giai
phẩm", và 17 năm sau đó nữa, chẳng có ai dám viết, nói gì về
chuyện của ông dù không ít người biết. Ngay cả sau khi gần đây,
có hiện tượng xôn xao dư luận là một công ty đã bỏ ra 100 triệu
đồng để mua bản quyền bài thơ nổi tiếng "Mầu tím hoa sim"
của ông. Nhân sự việc này trên báo chí có một vài bài viết về ông
nhưng tuyệt nhiên không ai nhắc đến 30 năm đó, như thời gian này
không hề có trong cuộc đời ông.
Một sự im lặng khủng khiếp không chỉ đè nặng lên
riêng đời ông mà còn trói tay những người cầm bút và choàng phủ
lên cả đờisống dân tộc. Ðó là sức mạnh, sức nặng ghê gớm của bạo
lực và cường quyền, của nỗi sợ hãi và lòng hèn nhát, là bi kịch
của một đất nước tự cho và cũng được phong tặng là đất nước anh
hùng, Trong hoàn cảnh đó, Hữu Loan đã chọn riêng cho mình một lối
sống, dù nghiệt ngã nhưng đầy bi tráng. Như ông viết trong "
Chuyện tôi về": "Tôi không làm nhà vì mắc làm người",
"Ði ăn cắp và làm cánbộ là tôi không đi...". Ông thà đi
cuốc đất, đập đá và đẩy xe thồ suốt 30 năm để làm "Cây gỗ vuông
chành chạnh" không cho ai lăn long lóc, trong khi bao nhiêu
văn nghệ sĩ đồng thời với ông đã tha hồ để cho "tùy tiện bị
lăn long lóc thế nào thì long lóc" ngoài đời cũng như trong
văn học nghệ thuật.
Kể từ lần gặp gỡ đầu tiên, tôi thực lòng ngưỡng mộ
"cây gỗ vuông chành chạnh" Hữu Loan nên trong 17 năm qua,
dù trải bao nhiêu khó khăn vây khổn, trong tôi vẫn thôi thúc ý muốn
gặp ông lần nữa. Tôi vẫn sợ rằng nếu không còn dịp nào gặp lại ông,
đối với tôi đó sẽ là niềm ân hận lớn trong đời. Trong chuyến đi
xuyên Việt lần thứ hai bằng xe gắn máy năm 2003, tôi đã định đến
thăm ông, nhưng rủi thay, khi đến địa đầu tỉnh Thanh Hóa, chỉ còn
cách nơi ông ở vài mươi cây số, tôi bị tai nạn phải lên xe đò đi
thẳng ra Hà nội, tôi đành để lỡ dịp trong hối tiếc. Ðầu năm 2005
này, trong chuyến đi xuyên Việt từ Nam ra Bắc lần thứ 3 bằng nhiều
loại phương tiện, tôi nhất quyết đến thăm ông và tôi đã thực hiện
được.
Trên đường trở về bằng chuyến xe du lịch open tour
Hà Nội - Sàigòn, tôi xuống xe ở Ninh Bình, một điểm dừng của open
tour này, để tìm gặp lại Hữu Loan. Ninh Bình là tỉnh giáp giới phía
Bắc của Thanh Hóa. Tôi hỏi thăm biết huyện Kim Sơn của Ninh Bình,
nơi có nhà thờ đá Phát Diệm nổi tiếng, cách thị xã Ninh Bình 30
cây số nằm tiếp giáp với huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, nơi Hữu Loan
đang ở. Tôi thuê một xe gắn máy và tự mình tìm đường đi sau khi
nghiên cứu bản đồ. 17 năm trước tôi đến nhà ông theo đường quốc
lộ 1 từ thị xã Thanh Hóa ra, lần này đi ngược lại từ phía bắc vào,
theo một con đường khác.
Sau khi đến nhà thờ Phát Diệm, nhà thờ đá xưa nhất
và lớn nhất Việt Nam, nơi hết địa phận huyện Kim Sơn, người ta bảo
phải đi khoảng 20 cây số nữa mới đến trung tâm huyện Nga Sơn. Tôi
chạy theo con đường liên tỉnh lộ nhỏ hẹp, phía Nga Sơn xem ra không
trù phú bằng bên Kim Sơn, nơi có những cánh đồng lúa cò bay thẳng
cánh, với những đàn vịt trắng xóa bờ kênh và rất nhiều nhà thờ hai
bên đường. Tôi vừa đi vừa hỏi thăm đến thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh.
Giờ này đã gần trưa, con đường trải nhựa liên xã vắng vẻ. Ðến nơi,
tôi hỏi thăm mấy em nhỏ học sinh đang chơi la cà trên đường. Các
em chỉ cho tôi con đường chạy thẳng đến chân núi, gần đó có chỗ
rẽ vào một lối nhỏ đúc bê tông. Tôi thầm nghĩ không lẽ người ta
đã thay đổi tư duy, trọng thị nhà thơ nên đã cho làm con đường bê
tông ở xóm nhỏ heo hút này. Vào đó hỏi tiếp, mấy người lại nói cho
tôi biết nhà ông Hữu Loan ở chỗ nhà lầu hai tầng đang xây bên phải.
Hai người nói như thế, làm tôi càng ngạc nhiên vì cách họ nói mấy
từ "nhà lầu hai tầng" nghe có vẻ khác lạ, bao hàm sự thán
phục như nói về một cái gì phi thường ở thôn xóm không có mấy nhà
khang trang này. Tôi lại nghĩ không lẽ Hữu Loan đã được "đổi
đời" rồi vì lần trước đến, căn nhà do chính tay ông dựng nên
từ xưa vừa bị sập và mấy năm sau đó tôi nghe tin loáng thoáng ông
được xây "nhà tình nghĩa" và tài trợ xuất bản tập thơ.
Dù sao nếu đươc như thế tôi cũng mừng cho ông. Tôi đã mừng hụt.
Nhà Hữu Loan chỉ là căn nhà cũ kỹ phía sau "nhàlầu hai tầng
đang xây" mà thôi. Ðằng sau cánh cổng sắt hơi tối dưới bóng
cây âm u, một phụ nữ đang nằm trên chiếc võng treo ngang qua cổng
và hai con chó đen dưới chân nhâu nhâu lên sủa. Chị đứng dậy suỵt
chó im và khi tôi hỏi Hữu Loan, chị bảo "ông cháu có nhà".
Chị tự giới thiệu là con dâu của ông. Chị mở cổng đưa chúng tôi
vào nhà mời ngồi ở chiếc ghế gỗ vừa vội vàng dọn dẹp căn phòng ngổn
ngang bề bộn mọi thứ linh tinh. Chị loay hoay pha trà mời chúng
tôi với bộ ấm chén xỉn màu và cho biết Hữu Loan đang ốm. Chị nói
thêm bình thường chỉ có hai ông bà ở nhà, mấy hôm nay ông ốm nên
chị đến chăm sóc.
Trong khi nói chuyện với chị, chúng tôi quan sát
căn phòng và nghe tiếng ho sù sụ ở phòng kế bên, sau khung cửa không
có cánh tối om, được che bằng tấm màn vải cũ kỹ.
Căn phòng không có trần, đồ đạc không có gì giá trị.
Trên tường có treo mấy tấm hình. Một tấm chụp Hữu Loan đứng bên
cạnh bức tượng của mình, tác phẩm điêu khắc của Phạm Văn Hạng năm
1990 theo như ghi chú bên dưới. Một tấm chụp lại phác thảo chân
dung bà Phạm thị Nhu (tức bà Hữu Loan) do một họa sĩ nào đó ký tên
không rõvẽ tặng ông. Ðặc biệt chiếc bàn thờ đơn sơ, chỉ là một mảnh
ván đóng lên tường với mấy bình nhang cắm hoa giấy và vỏ một hộp
bánh bằng các tông, phía trên chỉ treo một bức thư pháp viết chữ
Tâm bằng Hán tự, nét chữ sắc sảo và cứng cỏi, bên ngoài có nhện
giăng và bụi bám. Nói chuyện một lúc, tôi ngỏ ý với chị con dâu
muốn vào tận giường thăm Hữu Loan nếu ông ốm nặng thì nghe tiếng
dép lệt sệt bước ra. Trước mắt tôi, Hữu Loan không còn phong độ
như năm nào. Ông đội chiếc mũ len, quấn khăn quàng, mặc áo khoác
bên ngoài áo len trong khi vào nhà nóng, tôi phải cởi áo khoác.
Khuôn mặt ông có sắc hồngnhưng không phải nét hồng hào khỏe mạnh.
Ðôi mắt nhỏ sáng quắc năm xưa đã phần nào mờ mịt. Tôi đứng lên chào
và hỏi ông còn nhớ tôi không, ông nhìn tôi ngẫm nghĩ rất lâu không
nói gì. Khi tôi nói tên và nhắc lại chuyến đi xuyên Việt năm xưa,
ông ôm lấy tôi và nói "Còn sống để gặp lại nhau là mừng lắm
rồi."
Ông mời tôi ngồi xuống ghế. Tôi nói tìm đường vào
nhà ôngcũng khá vất vả. Ông bảo ai muốn tìm đừng hỏi ngay đến nhà
ông vì hỏi như thế chúng nó không chỉ đâu. Chúng nó được lệnh rồi.
Tôi ôn lại chuyện xưa nhưng kinh ngạc thấy ông còn nhớ rất ít. Ngay
cả bài thơ "Chuyện tôi về" ông tâm đắc ngày ấy và đã đọc
hàng chục lầntrước công chúng ông cũng quên. Ông bảo tôi đọc cho
ông nghe nhưng tôi chỉ thuộc vài câu. Tôi hỏi bản thảo có còn không,
ông bảo đã mất hay để đâu ông không nhớ. Bây giờ mắt ông không đọc
được chữ nữa, khi cần phải nhờ con cháu đọc.
Tuy nhiên những chuyện và những bài thơ xưa hơn ông
lại nhớrất rõ. Ông kể đi kể lại việc một người được giao nhiệm vụ
giết ông nhưng mỗi lần sắp ra tay lại không nỡ vì nhớ đến bài thơ
ông viết về quê hương anh ta. Chính anh ta đã nói lại với ông chuyện
đó và ông đọc bài thơ cho tôi nghe.
Ngồi nói chuyện khá lâu, và vì lúc chạy xe trên đường
hơi bị lạnh, cảm thấy thèm thuốc lá, tôi rút bao thuốc xin phép
ông hút nhưng ông nghiêm mặt chỉ tay vào tôi nói: "Tôi cấm
anh!". Tôi gượng cười cất bao thuốc và nói hiện nay tôi còn
nghiện một thứchưa bỏ được là thuốc lá. Ông nói ngay: "Cái
gì có hại phải bỏ. Có gì mà không bỏ được. Ngay cộng sản là thứ
ghê gớm mà tôi còn bỏ được huống gì thuốc lá."
Lát sau, ông bắt đầu ho nhiều hơn và khạc nhổ đờm
xuống đất, tôi tỏ ra quan ngại về sức khỏe của ông nhưng ông bảo
ông chỉ bị cảm mấy ngày nay thôi. Ngày thường ông vẫn ra ngoài được
và thường xuyên tập khí công. Tôi hỏi ông tập theo phương pháp nào
và vào lúcnào. Ông bảo ông tập bất cứ lúc nào, kể cả khi ngồi, nằm,
đi lại.
Hỏi thăm về gia đình, ông cho biết ông có 10 người
con, 30 cháu và tỏ ra không vui vì hoàn cảnh con cháu. Người con
đầu thông minh, thuộc loại học giỏi nhất tỉnh nhưng thời đó vì chuyện
của ông, anhkhông được vào đại học. Ðến nay chỉ có người con trai
út tốt nghiệp kiến trúc sư đang làm việc ở Hà Nội, còn những người
khác đều lập gia đình, làm ruộng, làm nghề và ở quanh quẩn gần đó.
Về nguồn sống của ông bà, ông bảo thu nhập chính của ông là tiền
bán củi. Củi ở đây là cọng và lá dừa khô của hơn chục cây dừa rất
cao do chính ông trồng từ xưa. Vùng này người ta chuộng thứ củi
dừa vì có sẵn trong vườn và cháy tốt.
Bà Hữu Loan đi đâu về, nghe cô con dâu báo, vội lên
chào khách. Gặp tôi bà nhớ ra ngay. Có lẽ tôi gây ấn tượng cho bà
vì lần trước chúng tôi đã giúp đưa ông về sau khi ông "bỏ nhà
ra đi" cả năm trời. Lần đó tôi đã khen bà mặc áo tím đẹp khi
Hữu Loan giới thiệu bà với chúng tôi lúc gặp bà ngồi bán hàng trên
đầu cầu. Tôi cũng đã hỏi bà có phải vì Hữu Loan thích mầu tím nên
bà mặc áo tím không. (Dĩ nhiên bà là vợ sau của Hữu Loan vì người
vợ đầu của ông, mới "cưới nhau xong là đi", "nhưng
không chết người trai khói lửa / Mà chết người em gái nhỏ hậu phương"
đã gây xúc động cho Hữu Loan viết nên bài thơ "Mầu tím hoa
sim" bất hủ).
Bà Hữu Loan bây giờ đã hơn 70 tuổi nhưng bề ngoài
trông có vẻ còn khỏe mạnh dù bà bảo cũng đang bị nhiều bệnh mãn
tính. Bà mời tôi ở lại dùng cơm. Lúc đó đã quá trưa, gần xế chiều,
tôi hơi ái ngại và cũng sợ về muộn vì còn phải đi đường xa nên xin
cáo từ. Bà bảo không lẽ khách từ trong nam ra thăm mà không mời
được bữa cơm, hơn nữa nhà cũng chưa ăn trưa, thức ăn có sẵn, chỉ
nấu quàng nồi cơm là xong. Tôi đành nán lại.
Bữa ăn bà đãi chúng tôi quả có nhiều món có sẵn mà
bà dự trữ để ăn dần. Cá kho, canh rau nấu với thịt heo, tép kho
ăn ghém với khế chua hái trong vườn, lại thêm món trứng tráng. Hình
như tất cả các thứ dự trữ bà đều mang ra mời khách. Chúng tôi vừa
ăn vừa phải luôn tay xua đàn ruồi bay vù vù chung quanh. Hữu Loan
chỉ ăn được lưng hai bát cơm.
Trong khi ăn bà nói chuyện vui. Bà kể dạo ông đi
nam, ông viết thư về bảo có mấy cô còn trẻ mê ông muốn lấy ông,
làm vợ bé, ông còn dám bảo "có lẽ cũng phải lấy thôi."
Nghe nhắc đến chuyện đó mắt Hữu Loan ánh lên nét tinh quái và ông
mỉm cười nói: "Vì thế tôi mới gọi bà là Thiến Thư. Thiến Thư
chứ không phải Hoạn Thư.". Chúng tôi đều cười xòa.
Dạo đó hình như bà cũng có ghen thật. Tôi nghe nói
bà đã xé mấy bức ảnh ông chụp chung với mấy cô gái trẻ. Bây giờ
ông đã 90 tuổi, bà hơn 70, nhưng nhắc đến chuyện tình yêu, ghen
tuông, haiông bà vẫn còn xúc cảm, tuy trong một trạng thái khác.
Ðúng là chuyện không tuổi và của muôn đời.
Câu chuyện vui không làm tôi bớt cảm giác phiền muộn
trong lòng khi nghĩ về hoàn cảnh Hữu Loan hiện nay. Dĩ nhiên sinh
- lão bệnh - tử là chuyện tất yếu của đời người. Nhưng hình ảnh
một ông gìa ốm yếu ho hen, lẩn quẩn trong căn nhà cũ kỹ với người
vợ tuổi đã cao, cũng nhiều bệnh tật, có cái gì làm tôi cám cảnh.
Hơn nữa, người đó lại là Hữu Loan.
Lẽ ra ông đã có một cuộc sống khác. Một nhà thơ tài
hoa, một trí thức, một chiến sĩ cách mạng dày dạn, từ thời khởi
nghĩa chống Pháp giành chính quyền mới hơn 20 tuổi đã phụ trách
4 ty của tỉnh, một cán bộ tuyên huấn sư đoàn xuất sắc... đúng ra
phải có vị trí xứng đáng và cuộc sống tốt hơn so với bao nhiêu người
bất tài đang nắm giữ chức quyền và sống xa hoa phung phí hiện nay.
Tôi nghĩ thực ra chính ông đã chọn cuộc sống này
từ khi làm bài thơ "Mầu tím hoa sim" và tham gia "Nhân
văn- Giai phẩm", sau đó tự ý bỏ về quê nhà. Trong khi người
ta lên án tư tưởng tiểu tư sản ủy mị thì ông làm bài thơ khóc người
vợ trẻ lúc từ chiến trường trở về phải ngồi bên "ngôi mộ đầy
bóng tối với chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh
vây quanh" của người con gái vắn số không kịpchờ ông. Ông không
thể "giữ lập trường", nén đau thương, xúc cảm của mình
theo chỉ thị của lãnh đạo. Con người không phải là gỗ đá, không
phải là súc vật phản xạ có điều kiện. Nhà thơ chân chính càng không
thể chỉ nặn ra những tác phẩm theo đơn đặt hàng hay những bài tuyên
truyền sáo rỗng dối trá dù là theo "yêu cầu của cách mạng"
đi chăng nữa. Chính vì thế sau khi viết "Mầu tím hoa sim",
ông bị kiểm điểm, bài thơ bị cấm phổ biến công khai nhưng lại được
chính các chiến sĩ chép tay lén lút, đọc thầm cho nhau nghe, và
sau đó vượt không gian, thời gian đi vào lòng người để trở thành
một trong những bài thơ tình bất hủ của thi ca Việt Nam.
Cùng với các văn nghệ sĩ trong nhóm "Nhân văn
- Giai phẩm", Hữu Loan đã dùng ngòi bút để lột trần, lên án
cái ác núp dưới bất cứ thứ nhân danh, chiêu bài nào. "Nhân
văn- Giai phẩm" là sự lựa chọn quyết liệt của những người làm
văn học nghệ thuật chân chính với tinh thần "Lời mẹ dặn"
của Phùng Quán "Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghétai cứ bảo là ghét".
Ðó là đỉnh cao của văn học nghệ thuật, cũng là đỉnh cao của trí
tuệ và nhân cách. Ðỉnh cao đó tất yếu bị phá đổ, vùi dập khi quyền
bính được xây dựng bằng bạo lực và dối trá. Sự lựa chọn đó là một
lựa chọn sinh tử và đã phải trả gía đắt, đắt bằng sự khốn cùng của
đời người, bằng một vết nhơ lớn trong lịch sử dân tộc. Khi tôi hỏi
về chữ Tâm treo trên bàn thờ, Hữu Loan bảo chính tay ông viết và
suốt đời ông chỉ thờ một chữ Tâm.
Tôi chợt nhớ đến những điều ông nói trong chuyến
đi xuyên Việt năm xưa mà tôi đã ghi lại trong bút ký "Hành
trình cuối đông".(*) "Cái tâm mới là điều quan trọng trong
văn học. ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.' Sai lầm của chế độ là
đã đề cao giai cấp tính, đến chỉ còn đẳng cấp thống trị. Giai cấp
tính không bằng nhân đạo tính.". Với cái tâm trong sáng của
mình, Hữu Loan đã thấu suốt tình hình đất nước và có những nhận
định sắc bén:
"Ðất nước ta là nơi nói giỏi nhất nhưng làm
sai nhiều nhất, người sai lầm ít thì bị tội nặng, không được sửa
sai, như bác sĩ làm chết người, lái xe gây tai nạn bị lấy bằng,
đi tù, còn những người làm sai nhiều, giết nhiều người, làm hại
làm khổ hàng triệu người thì lại được sửa sai, nói dễ dàng "sai
thì sửa".
"Người nói thật cũng bị trừng trị. Tôi cũng
bị trừng trị vì tôi viết văn là nói thật. Có người hỏi động cơ viết
văn của tôi là gì, tôi trả lờiđộng cơ viết văn của tôi là thích
chửi vua. Ít ai dám chửi vua nhưng vua sai thì nhà văn có quyền
chửi."
Vào thời điểm đó, Hữu Loan nhấn mạnh về sứ mạng của
nhà văn: "Bây giờ nhà văn chỉ cần làm thư ký của thời đại là
đã lớn lắm rồi. Hiện thực nỗi đau của nhân dân rất vĩ đại. Vấn đề
không phải có lớn không mà là có dám lớn không."
Dám nói thật và động cơ viết văn "thích chửi
vua" chính là sứ mạng, nhân cách và bản lĩnh của người cầm
bút trong những thể chếhay giai đọan lịch sử mà sự sai lầm và độc
đóan lên ngôi thống trị.
Ðó cũng là "định mệnh" của nhà văn chân
chính.
Ðịnh mệnh của những người đã lựa chọn cuộc chiến
đấu không cân sức:
"Chuyện Hữu Loan là chuyện
Một vạn chín trăm năm mươi ngày gấp hơn
mười lần chuyện Ba Tư
vô cùng căng thẳng
Giữa hai bên
một bên là chính quyền có
đủ thứ nhân dân
quân đội nhân dân
tòa án nhân dân
nhà tù nhân dân
và nhất là
cuồng tín nhân dân
thứ bản năng ăn sống
nuốt tươi
ăn lông ở lỗ nguyên thủy
được huy động đến
tột cùng
sẳn sàng hủy
cũng như tự hủy
một bên nữa là
một người tay không
với nguyện vọng
vô cùng thiết tha
được làm người lương thiện
nói thẳng
nói thật
bọn ác
bọn bịp
thì chỉ tên vạch mặt
người nhân thì
xin thờ
như Thuấn Nghiêu"
(Chuyện tôi về)
Cuộc sống của Hữu Loan thời kỳ đêm dài 30 năm đúng
là "vô cùng căng thẳng", đặc biệt khi "cuồng tín
nhân dân" còn bị nhồi sọ và kích động bởi bộ máy tuyên truyền
hùng hậu.
Thời kỳ đó đã qua và hiện nay những nhà văn chân
chính như Hữu Loan không cô độc nữa, dù cũng còn phải chịu đựng
không ít khó khăn trù dập. Trung thực và dũng cảm vẫn là điều không
thể thiếu khi nhà văn muốn nói lên sự thật.
Riêng Hữu Loan, ông đã giữ vững sự lựa chọn đó đến
cuối đời. Theo tôi biết, nếu không lầm, sau thời kỳ đổi mới, Hữu
Loan là người duy nhất không làm đơn xin khôi phục hội tịch Hội
Nhà văn Việt Nam.(*) Cuộc sống của ông cho đến tận hôm nay, dù trải
qua bao nhiêu gian nan khốn cùng, đó vẫn là một cuộc sống làm người
tử tế đúng nghĩa. Hơn nữa đó còn là một cuộc đời bi tráng rực rỡ,
lấp lánh niềm đau và khí phách như những bài thơ của chính ông.
Hôm trước ở Hà Nội, tôi nghe nói con trai út của ông định sắp tới
sẽ tổ chức thượng thọ 90 tuổi cho ông với mục đích để bạn bè trong
nam ngoài bắc có dịp gặp ông một lần trước khi ông quá gìa yếu.
Tôi may mắn đã được gặp lại ông trước dịp này.
Cuộc đời Hữu Loan chính là một tượng đài của nhân
cách, lòng trung thực và khí phách anh hùng. Tượng đài đó có thể
biểu trưng bằng "cây gỗ vuông chành chạnh" và một chữ
Tâm. Người xưa nói "Dụng nhân như dụng mộc". Cây gỗ vuông
này thời đại của ông không dùng nhưng lịch sử sẽ dựng lên thành
một tượng đài, cũng là một loại bút "tả thanh thiên" lồng
lộng giữa đất trời.
Tháng 6 năm 2005
@TuanKhanh
Con
nhà thơ Hữu Loan kể về cha
Lưu
Hà
Sau 95 năm tồn tại nhọc nhằn nhưng rắn rỏi giữa cuộc
đời, “cây gỗ vuông chành chạnh của” đất Nga Sơn đã nằm xuống, nhẹ
nhàng và thanh thản, để lại cả một pho chuyện kể, thật nhưng lạ
kỳ như huyền thoại, về một lão thi nhân luôn “bận làm người”.
Dưới đây là câu chuyện về tác giả Màu tím hoa sim
từ những ký ức sống động của anh Nguyễn Hữu Đán – con trai nhà thơ.
Sinh năm 1969, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đán là con
trai thứ tám trong số 10 người con của thi nhân. Tuy sinh sau đẻ
muộn, nhưng trong trí nhớ của anh, tuổi thơ khốn khó và hình ảnh
người cha lầm lụi kiếm gạo nuôi con vẫn là những ám ảnh khôn nguôi.
Anh Đán kể: “Thời đó, nhà nào cũng khổ, nhưng bố
mẹ tôi rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo hơn, vì gia đình sống ngoài
hợp tác, hầu không có tem phiếu, gạo thịt”. 10 đứa con của vợ chồng
thi nhân lần hồi lớn lên bằng những chuyến xe kĩu kịt đá của bố
và những mớ bánh chui nhủi của mẹ – bà Phạm Thị Nhu. Chính sách
hồi đó cấm nghiêm ngặt việc chế biến, buôn bán, giết mổ. Để có mỡ
làm bánh, gia đình nhà thơ từng phải nuôi chui một con lợn trong
chuồng kín. Lúc giết thịt, để ngăn tiếng kêu của con vật, ông phải
trộn tro và ớt đổ cho lợn bị sặc, rồi cho vào bao tải, ngâm xuống
ao cho đến lúc chết hẳn rồi mới giết. Làm ra mớ bánh, gánh bún là
bao nhiêu nhọc nhằn, lam lũ của hai vợ chồng nhưng không phải lúc
nào gánh quà của bà Nhu cũng đông buổi chợ.
“Những hôm phòng thuế bắt chợ, cũng như người ta,
gánh bún của mẹ tôi bị hắt xuống hào. Thương con, xót của, mẹ tôi
lội xuống, bốc về. Bố tôi đãi nước cho hết cát để cả nhà ăn trừ
bữa. Nhà đông miệng ăn, gạo thường phải trộn thêm rau, nấu thành
cháo, ưu tiên chia phần theo thứ tự từ đứa bé đến đứa lớn. Nhà tôi
giờ vẫn còn giai thoại về những người anh húp cháo nóng rất nhanh”,
kể đến đây, anh Đán miệng cười, nhưng mũi ửng đỏ, đôi mắt, sau cặp
kính trắng, dường như không dám chớp mi. Người đối diện, chỉ còn
cách cũng vờ nhìn quanh quất, để giúp anh ngăn dòng nước mắt, bước
qua một trong muôn vàn đoạn ký ức khó nhọc chưa chịu phai mờ.
10 đứa con đã lần lượt lớn lên, tưởng như trời sinh
voi, hẳn phải sinh cỏ. Nhưng theo anh Đán, anh chị em anh đã thành
người bởi họ có một người cha kiên cường và một người mẹ biết chắt
chiu, tần tảo. Thi sĩ Nga Sơn, ban ngày mòn vai, chai chân thồ đá,
ban đêm còn vác te vó, xiếc tép nuôi con. Đất nhiều, vườn rộng,
ông chịu khó trồng rau, trồng sắn, để tháng ba ngày tám, phòng lúc
đói có sẵn cái để đào lên cho các con ăn.
Ngoài sự thiếu thốn, cực nhọc về vật chất, nhà thơ
Hữu Loan, theo con trai ông, còn phải chịu đựng nỗi khổ về tinh
thần, trước sự nhiếc móc của họ hàng vì cách sống thẳng thắn và
khẳng khái của ông. Tuy vậy, anh Đán khẳng định, 10 anh em anh chưa
từng trách móc, hờn giận bố về lựa chọn của ông. Ngược lại, họ tự
hào vì trong mỗi đứa con, dù ít dù nhiều đều thừa hưởng sự tài hoa
và tính cách trung thực, thẳng thắn để trưởng thành.
Nghèo khổ, vất vả nhưng con cái của nhà thơ Hữu Loan
đều có tư chất và năng lực. Sự đỗ đạt của những đứa con là niềm
hạnh phúc của mọi bậc cha mẹ, nhưng với riêng nhà thơ Hữu Loan,
mỗi lần con đỗ đạt là một lần ông nhọc lòng, day dứt. Khi con trai
cả của nhà thơ – anh Nguyễn Hữu Cương – đủ điểm đi học ở Liên Xô
nhưng không nhận được giấy báo, nhà thơ đành bất lực để con bỏ dở
đường học hành, đi làm thợ. Đứa con gái thứ hai đỗ Sư phạm, cũng
không nhận được giấy báo. Lần này, thương con, ông quyết tìm ra
ngọn ngành. Nhà thơ lên Ty giáo dục huyện, huyện bảo xuống xã. Về
xã, xã bảo lên huyện. Năm lần bảy lượt như thế. Cuối cùng ông xông
thẳng vào Ty giáo dục huyện tìm bằng được giấy báo cho con. Nay
con gái thứ hai của nhà thơ là giáo viên dạy học ở quê.
Trong số 10 người con của Hữu Loan, anh Nguyễn Hữu
Đán là người thành đạt nhất. Tốt nghiệp PTTH, anh ở nhà mở xưởng
cơ khí đỡ đần bố mẹ và các anh em. Sau 5 năm làm thợ, anh ôn thi
và đỗ vào trường kiến trúc. Bây giờ, anh đã có cả một cơ ngơi và
là chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần bảo tồn di sản văn
hóa kiến trúc Việt.
Khi đã có điều kiện, anh muốn làm mua sắm mọi thứ,
để bù đắp cho cả cuộc đời thiếu thốn của bố mẹ. Nhưng những con
người đã quen dành dụm, chắt chiu, đã quen khổ cực dường như vẫn
không muốn thay đổi nếp sống của mình. “Bố tôi vẫn vậy, ăn uống
rất thanh cảnh. Ông hầu như không ăn thịt, chỉ ăn ít cá và rất thích
rau, dưa, hay chuối xanh chấm mắm tôm. Mẹ tôi đến giờ vẫn cặm cụi
giữ từng chiếc đũa sờn, vá từng chiếc thúng rách”, anh Đán kể.
Theo đuổi công tác bảo tồn di sản, anh Đán ý thức
rất rõ, nhiệm vụ lớn nhất của anh là bảo tồn di sản của bố mình.
Hiện tại, anh đã sưu tầm được một số bản thảo, gồm câu đối, thơ,
trường ca và thơ dịch. Anh dự định xuất bản một tuyển tập, viết
hồi ký về bố và xây một nhà lưu niệm nhỏ về nhà thơ tại chính nơi
ông đã gắn bó gần như cả cuộc đời mình.
Trở lại với cái chết của nhà thơ, anh Nguyễn Hữu
Đán cho biết, thi nhân ra đi rất thanh thản. Trước đó vài hôm, ông
còn âu yếm đùa vui với người vợ hồn hậu. “Vài ngày trước khi mất,
bố gọi mẹ vào ngồi cạnh giường. Mẹ tôi lóng ngóng ngồi cả vào chân
bố bị khuất dưới lớp chăn. Ông trìu mến càu nhàu: ‘Sao đã sống với
tôi cả 50 – 60 năm mà bà còn đè cả vào chân tôi thế này”. Khi mẹ
tôi hỏi: ‘Ông có thương tôi không?’, bố tôi trả lời: ‘Tôi không
thương bà thì thương ai’”, anh Đán kể.
Nhà thơ Hữu Loan gọi mình là “cây gỗ vuông chành
chạnh”. Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi Hữu Loan là “Ông Từ Thức
Nga Sơn”. Còn với các con của nhà thơ, ông trước hết và trên tất
cả, là người chồng, người cha, đã để lại cho vợ cùng 10 người con,
37 đứa cháu không chỉ di sản thơ ca mà cả một nhân cách sống.
@VnExpress
|