Quang Dũng

1921–1988

 

 

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai? (Đôi bờ)

 

Ông là một người tài hoa hiếm có của nền văn học cận đại của nước Việt. Thơ của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng, pha lẫn lãng mạn và tràn đầy tính nhân bản. Ông và Hữu Loan, một tài hoa khác xuất thân từ Thanh Hóa và sống cùng thời với ông, đã bị vây bởi một số phận nghiệt ngã mà loài người khó thể hình dung được. Một điều không thể phủ nhận là các tác phẩm của họ đã góp phần dựng nên thanh danh "nghìn năm văn vật" cho vùng đất Thăng Long. Vì thế Hà Nội nên có các con đường hoặc nơi chốn mang tên Quang Dũng và Hữu Loan - hai thi sĩ thiên tài hiếm hoi trong một trăm năm qua - mà tuyệt tác của họ mới xứng đáng sánh vai với các áng thơ bất hủ cận đại của thế giới, và cũng chỉ có hồn thơ của họ mới đại diện thi văn nước nhà góp mặt vào nền văn hóa nghệ thuật của nhân loại. - bbc/NTHF - 13.04.2010


Tiểu sử

 

Đôi Mắt Người Sơn Tây

 

Ngôi Nhà Quang Dũng Ở Sơn Tây

Phan Lạc Tiếp

 

Quang Dũng Với Âm Nhạc

Trịnh Hưng


 

Đôi Mắt Người Sơn Tây

Quang Dũng

1949

 

Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

 

Vầng trán em mang trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn Tây phương

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

Em đã bao ngày em nhớ thương?

 

Mẹ tôi, em có gặp đâu không

Bao xác già nua ngập cánh đồng

Tôi cũng có thằng con bé nhỏ

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!

 

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!

Đất đá ong khô nhiều suối lệ

Em đã bao ngày lệ chứa chan?

 

Đôi mắt người Sơn Tây

U ẩn chiều lưu lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây

Tôi gửi niềm nhớ thương

Em mang giùm tôi nhé

Ngày trở lại quê hương

Khúc hoàn ca rớm lệ

 

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng

Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

 

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca

Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ

Còn có bao giờ em nhớ ta?


 

Đôi Bờ

 

Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?

Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia
Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến
Hiu hắt chiều sông lạnh bến Tề

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ

Xa quá rồi em người mỗi ngã
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?


 

Tiểu sử

 

Quang Dũng (tên thật là Bùi Đình Diệm; 1921–1988) là một nhà thơ Việt Nam. Ông là tác giả của một số bài thơ tuyệt tác như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ... Ngoài ra ông còn là một họa sĩ, nhạc sĩ.Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng tỉnh Sơn Tây (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

 

Sau khi học Trường sư phạm tại Hà Nội, Quang Dũng làm nhạc công gánh hát rong và làm gia sư tại Hà Nội.

 

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa là người cầm bút nhưng cũng vừa là người cầm súng chiến đấu. Năm 1947 ông từng là đại đội trưởng của Trung đoàn Thủ Đô. Ông cũng hoạt động văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến, từng là trưởng phòng văn nghệ Liên khu. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các họa sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.

 

Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng "tiểu tư sản", thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi[1]. Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông mai một và mất đi trong âm thầm. Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

 

Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ Ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương).

 

@Wiki


 

Ngôi Nhà Quang Dũng ở Sơn Tây

Phan Lạc Tiếp

Saigon, tháng 11, 1971

 

I.
Quang Dũng, từ trước tới nay vẫn được biết đến là một nhà thơ Sơn Tây. Anh đã mang hình ảnh của Sơn Tây vào đầy ắp những thi phẩm của mình. “Em từ thành Sơn chạy giặc về - Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm - Cách biệt bao lần quê Bất Bạt, Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì - Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn. Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng ...” Nhưng thực ra quê hương Quang Dũng không phải là Sơn Tây, mà là Hà Đông. Quang Dũng đã lớn lên trong căn nhà nằm ở ven con đê Hiệp, thuộc huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông. Đúng như thế. Nhưng tại sao trong thơ của Quang Dũng lại chỉ nói đến Sơn Tây mà ngược lại không tìm thấy hình ảnh nào của Hà Đông cả. Để hiểu nguyên nhân trên, có lẽ phải lấy Hà Nội làm khởi điểm.

 


Hà nội có năm cửa ô, hướng về năm ngả. Nếu Bến Nứa qua cầu Long Biên để sang Bắc Ninh, Ngã Tư sở để đi Hà Đông thì Cầu Giấy để đi Sơn Tây. Và đúng giữa con đường Sơn Tây - Hà Nội là Đan Phượng, quê hương của Quang Dũng.

 

Do đó, mặc dầu về hành chánh, Đan Phượng thuộc Hà Đông, nhưng nó nằm trên con đường về Sơn Tây, nên ấn tượng về Sơn Tây đã có sẵn trong lòng mọi người khởi hành từ Hà Nội. Hơn thế nữa, Đan Phượng, mặc dầu thuộc Hà Đông, nhưng lại là nơi giáp ranh với Sơn Tâỵ Vì Hà Đông và Sơn Tây được phân cách bằng con sông Đáỵ Mà sông Đáy thì cạn, mùa nắng, sông Đáy người đi chợ có thể lội qua, các dải cát có lẽ chỉ làm đôi bàn chân các cô thiếu nữ hơi nóng lên một chút, để đi cho maụ Vậy thôi, sông Đáy không là ngăn cách nào đáng kể. Và ngay cả mùa nước lớn, sông Đáy cũng không saọ Vì nước từ Hồng Hà cuồn cuộn đổ về đã có đập cầu Phùng chặn lạị Chỉ trừ khi đáy vỡ, đê vỡ sông Đáy mới gây nên sự cách biệt giữa Sơn Tây và Hà Đông ở đoạn khởi nguồn (vì ở hạ lưu thì khác, sông Đáy khá sâu và khá lớn).


Đó là xét về yếu tố hành chánh và địa dư. Nhưng trên thực tế, người dân Đan Phượng đã kể mình như người Sơn Tâỵ Vì ở đó mọi người như đã hít thở cái không khí từ Sơn Tây thổi về, đêm nằm nghe tiếng sông Hồng cuồn cuộn chảy vào những mùa nước lũ, hoặc trong những đêm thanh vắng, nghe nước êm đềm chảy giữa những bãi nứa bên ven sông Đáy, Quang Dũng sinh ra và đã lớn lên ở đó, nên anh đã cảm xúc và mang hình ảnh của Sơn Tây vào trong tác phẩm của mình.

 

II.
Để hiểu rõ hơn, có lẽ phải vào thăm căn nhà của Quang Dũng một lần cho biết. Tôi xin bắt đầu thế này.

 

Cách đây hơn hai mươi năm, tôi từ Nứa mới tề (*), ra Phùng để đón anh tôi từ Hà Nội xuống. Qua cánh đồng làng, lên con đê Hiệp, qua một bãi dâu và nhiều ruộng mía, lội qua con sông Đáy cạn leo lắt một dải nước trong, tôi đã nhìn Phùng với một niềm xúc động lớn. Vì Phùng (hay Đan Phượng cũng thế), từ nhiều tháng qua đã là mối khiếp hãi của vùng tôị Phùng có khẩu trọng pháo lớn rót vào các vùng phụ cận, Phùng phát xuất những cuộc hành quân càn quét bao quanh.

 

Vậy mà bây giờ tôi đang bước đến Phùng. Nhưng ở đó sẽ có anh tôi từ Hà Nội xuống, có tin tức của thầy tôi và cả nhà bác tôi nữạ Vui mừng lẫn lo sợ tràn ngập trong lòng. Khi trèo lên con dốc cao đầy những đá tai bèo của con đê Phùng, tôi đã được hướng dẫn tới một căn nhà ngay cạnh chợ. Ở đó có cửa hàng đại lý gạo, muối. Đó là nhà cụ Tổng. Vừa bước vào nhà, tôi đã nghe thấy tiếng anh tôi hát vòng vọng từ trong ra.

 

Bước xuống ba bực thềm, vào cái sân lát gạch Bát Tràng đỏ tía, mát lạnh cả chân, tôi đã thấy anh tôi mặc đồ tây, đứng trên bực cửa căn nhà khách. Anh em tôi đã đoàn tụ sau bao nhiêu tháng tản cư lưu lạc tại đó. Tôi đã bắt đàu cỡi bỏ bộ quần áo nâu vùng giải phóng để ra Hà Nội học lại, tại đó. Và cả sau này nữa, cái bến nghỉ chân của tôi mỗi lần từ Hà Nội về quê chơi, cũng tại đó: Nhà cụ Tổng - Phùng. Và chính là căn nhà của Quang Dũng.

 

Tranh của Quang Dũng


Phải rồi, ở trên tôi đã nói về căn nhà ấy từ khi bước vào tới cái sân nhỏ giữa hai căn nhà. Tôi xin kể tiếp. Căn nhà khách phía bên trái gồm có hai phòng lớn. Một phòng nhỏ ở đầu nhà. Khi ấy căn nhà đó đã được lịnh tiêu thổ kháng chiến, phải phá đi từng gác, nhưng những đà lim tím đen còn để nguyên.

 

Căn nhà ngoài cùng có cửa lớn ăn ra ngoài lộ đã đóng kín. Tôi đã nằm những ngày chủ nhật trong căn buồng nàỵ Ngửa mặt nhìn lên, chỉ thấy ngói phơi màu hồng mốc trắng và những màng mạng nhện giăng mắc khắp nơị Tường vôi màu xanh đã nhạt. Ở một góc tường cao, nếu đứng từ trên sàn gác, thì vừa tầm tay, có một bức tranh vẽ lên tường. Cao quá, và bụi quá, tôi không nhìn rõ, vả lại bây giờ tôi cũng đã quên lấp đi nhiều, tôi không biết bức tranh ấy vẽ hình ảnh gì. Hình như cảnh một buổi chiều nào đó trong vườn cây.

 

Cụ Tổng (mẹ của Quang Dũng) bảo, của anh Diệm (**) anh ấy vẽ đấỵ Và còn một bức nữa ở trong căn buồng ở đầu nhà, cũng đại khái như vậỵ Căn buồng này chị H. ở nên tôi không dám vào thăm. Căn buồng đó có một khuôn cửa sổ mở ra sân saụ Sát đó là một bể nước mưa lớn. Từ căn buồng này có thể nhìn ra bãi mía bên kia con ngòi sát nhà, và thấy núi Ba Vì ở mãi tận phía xạ Căn buồng ấy ngày xưa anh Diệm (tức Quang Dũng) đã ở.

 

Có lẽ căn buồng này, khuôn cửa sổ này đã là con tim, và đôi mắt người thơ hướng về Sơn Tây, hít thở cái không khí của Sơn Tây, và sau này mang các hình ảnh của Sơn Tây vào thơ.

 

Hình dưới: đồng Bương Cấn nhìn từ chùa Thầy


Ở cái sân sau đó, rộng thênh thang. Có cây lựu ở sát bể nước. Một cây đu đủ rất nhiều tráị Và ở góc vườn kia có một cái chuồng gà. Và cũng ở khoảng sân đó, buổi chiều, tôi đã ngồi với L. (em trai của Quang Dũng), nhìn nước chảy dưới chân, gió mát lâng lâng từ đâu xa lướt trên ruộng mía thổi về. Và cũng từ đó tôi cũng đã thấy Ba Vì in lên nền trời xanh thẳm có mây vươn lên đỉnh cao.

 

Và cũng từ đó, những khi đêm xuống, tôi đã cùng cụ Tổng, chị H., chị Đ., và L. đếm từng tiếng đại bác từ đồn Phùng bắn đi, rồi cùng lắng nghe tiếng nổ âm vọng lại từ nơi nào xa thẳm trong kia. Ở đó, biết có anh Diệm không.

 

Những đêm như thế, cụ Tổng thường thắp nhang trên bàn thờ ở ngoài sân cầu Trời Phật phù hộ độ trì cho anh Diệm. Nhất là sau này, anh rồi cũng lại phải động viên, mỗi lần tôi về quê, ở nán lại Phùng chơi với L., cụ Tổng lại thêm xót xa. Cụ thường nói ''Anh em đứa bên này, đứa bên kia, giữa trận mạc nếu gặp nhau sao mà nhận mặt''. Những lúc như thế, chị H. thường dẫn cụ Tổng vào nhà, thế nào cụ cũng mệt, thở dốc và họ

 

III.
Cũng thời gian này, thời gian cuộc chiến đang mãnh liệt và đang hồi kết thúc, lâu lâu tôi lại được tin người từ ngoài về nói với cụ Tổng mua cho anh Diệm cái đồng hồ, cái bút máy, hay các vật dụng cần thiết khác. Và cũng chính thời gian đó, tập thơ chép tay của Quang Dũng từ ngoài đó cũng được gửi về.


Tôi đã lật từng trang, đọc từng bài và xem một vài bức vẽ phụ họa. Thơ Quang Dũng đã được anh em tôi thích thú từ đó.


Trong những bài thơ của Quang Dũng, có lẽ làm cả nhà xúc động nhất là bài đôi mắt người Sơn tây. Vì trong đó có nói đến:


"Mẹ tôi em có gặp đâu không.
Những xác già nua ngập cánh đồng.
Tôi cũng có thằng con bé nhỏ.
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông".


Niềm lo âu của Quang Dũng qua những câu thơ trên, đã làm cả nhà thương cảm. Ở trong vùng tề, cụ Tổng và đứa con của Quang Dũng sống tương đối an toàn và sung túc. Riêng cháu Quang Dũng (nhà thơ đã lấy tên con làm bút hiệu), thì ít khi tôi gặp mặt. Thỉnh thoảng trong những ngày giỗ chạp, một năm đôi lần, tôi mới thấy chị Diệm đưa cháu Quang Dũng về thăm nhà. Lúc ấy cháu Quang Dũng độ bảy tám tuổi, mặt mũi rất khôi ngô.

 

Còn chị Diệm, bây giờ tôi không còn nhớ được mặt mũi ra sao nữa. Chỉ biết là một ngườI đàn bà mỏng manh và khá cao. Chị thường mặc áo màu nâu, buồn. Tôi chưa lần nào tiếp chuyện với chị. Tôi có cảm tưởng thật khó nói, buồn buồn khi nhớ lại hình ảnh của chị. Chị như một cái cây, tự lắp mình đi trong giữa đám rừng. Sự lặng lẽ, cô đơn như đã bủa vây thật chặt, thật kín, làm chị không còn gần gũi được với ai. Tôi cũng không được nghe, không được biết anh Diệm đã lấy chị trong trường hợp nào. Cả trong những bài thơ của anh, tôi cũng chưa thấy có dòng nào nói đến người vợ đáng thương này.

 

IV.
Sau này khi cụ Tổng và cả gia đình vào Nam, tôi có lại thăm mấy lần ở miệt nhà thương Cộng Hòa. Lời mà cụ Tổng nói với chúng tôi là: “Hôm anh Diệm về, có hai người đi kèm. Anh chỉ nói với mẹ một câu ngắn rằng mẹ đi đi. Thế thôi”. Thế là hết , bao nhiêu năm chờ đợi, bao nhiêu năm thương nhớ giữa mẹ con tưởng sắp đoàn tụ, bỗng lại phải chia lìa . Từ đó cụ Tổng cứ buồn bã, yếu đi rồi mất. Cho đến hôm nay, cụ mất có lẻ đã hơn mười năm.


Tôi ngồi viết lại những giòng này trong sự bùi ngùi và nhớ tiếc. Xin cho tôi được coi những hàng chữ này như những nén hương dâng lên cụ Tổng.

 

Xin cho tôi được gửi chị H, L và các cháu những lời thăm hỏi . Phải không chị H. Bên căn nhà ngang, tụi em quên thế nào được những bữa cơm giản dị, mà thật ngon, nhất là món thịt xốt cà chua. Rồi những ngày ở Hà Nội nữa. Thấp thoáng mà đã mấy chục năm qua. Mau quá hả chị H ? Cháu Dũng chắc đã lớn lắm rồi. Biết nó có phải vào Nam đánh nhau không.

 

Cuộc đời cứ lẩn quẩn mãi trong vòng oan nghiệt của chém giết nàỵ Biết bao giờ cho dứt . Biết bao giờ tụi mình được trở về Sơn Tây, ngồi ở khoảng sân sau, nhìn qua bãi mía, thấy núi Ba Vì ở mãi tận nơi xa ...


 

Quang Dũng Với Âm Nhạc

Trịnh Hưng

Viết tại Paris, kỷ niệm sau ngày về thăm quê hương (1999)

 

Nói đến Quang Dũng, phần đông người ta chỉ biết anh là một nhà thơ nổi tiếng qua các bài thơ: Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Quán bên đường... Nhưng anh không những chỉ là một nhà thơ nổi tiếng, mà ở con người nghệ sĩ tài hoa của anh còn mang nhiều thứ "sĩ" khác nữa: thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ, kịch sĩ và là một chiến sĩ rất gan dạ.

 

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, anh đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu của anh cùng với các họa sĩ nổi danh như Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái v.v...

 

Anh cũng sáng tác nhạc, bài nhạc "Ba Vì" của anh đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến chống Pháp 1945-1954, mà tôi giới thiệu với độc giả sau đây. Tôi nhớ năm đó là năm 1949, lúc anh thôi cầm quân đánh giặc ở Trung đoàn Tây Tiến, anh trở về làm trưởng phòng văn nghệ của Liên khu 3. Liên khu 3 lúc đó có 4 Trung đoàn, mỗi Trung đoàn có một ban Tuyên truyền (sau này gọi là Văn Công), trong 4 đội Tuyên truyền của Liên khu 3 thì có lẽ đội Tuyên truyền của Trung đoàn Thăng Long, tức TD 48 (tiền thân của Sư đoàn 320 bây giờ) là đội Tuyên truyền trẻ nhất Liên khu.

 

Anh Phạm Nghệ làm đội trưởng, tôi là đội phó, mới có 18 tuổi, còn tất cả anh em đều ít tuổi hơn hai chúng tôi một vài tuổi. Tong đội Tuyên truyền của chúng tôi có 5 cô em gái, 14 đến 16 tuổi. Trong số 5 em gái vừa đóng kịch, vừa múa và ca hát này, có em Kim Ngọc, 16 tuổi là lớn hơn cả. Kim Ngọc hát rất là hay, giọng ngọt ngào và ấm nên được các anh em bộ đội và dân chúng mến mộ.

 

Hình dưới: Kim Ngọc

 

Anh Quang Dũng là trưởng phòng văn nghệ Liên khu, trực tiếp chỉ đạo các đội Tuyên truyền của Trung đoàn, anh thường lui tới các Trung đoàn để quan sát và hướng dẫn công tác cho hiệu quả. Một hôm, anh đến Trung đoàn của tôi, anh nói với tụi tôi là anh mới làm một bài nhạc lấy tên là "Ba Vì", vì đó là tên của ngọn núi Ba Vì, nơi quê hương anh, rồi anh bảo tụi tôi mang guitare đệm để anh ca cho nghe. Tôi lấy đàn ra đệm cho anh ca, anh có giọng ca rất nồng ấm và truyền cảm, sau khi ca xong, anh hỏi chúng tôi thấy thế nào, các chú nghe có được không ? Tất cả anh em chúng tôi đồng thanh khen ngợi bài nhạc anh làm hay quá và rồi Kim Ngọc chạy lại nài nỉ anh dạy cho Kim Ngọc hát ngay. Kim Ngọc nói là em đi trình diễn thì luôn luôn cần có bài hát mới và hay, nên xin anh dạy cho.

 

Quang Dũng nói là bài nhạc này anh mới làm xong thì xuống đây, chưa hát cho ai nghe cả. Xong rồi, anh dạy cho Kim Ngọc và chỉ 15 phút sau là Kim Ngọc thuộc làu và hát nhuần nhuyễn ngay, anh khen Kim Ngọc ca hay hơn hết các cô gái ở Trung đoàn khác mà anh đã gặp.

 

Thế là Kim Ngọc có thêm một cái vốn. Mỗi lần chúng tôi đi trình diễn ủy lạo cho các anh em bộ đội đi trận về là Kim Ngọc hát bài "Ba Vì" của Quang Dũng được các anh em hoan hô nhiệt liệt và kể cả những đêm ca kịch cho dân chúng xem thì Kim Ngọc cũng được tán thưởng nồng nhiệt.

 

Từ đó trở đi, cứ mỗi lần đi nơi đâu, Kim Ngọc đều hát bài "Ba Vì". Rồi đến ngày Liên khu tổ chức cho các đội Tuyên truyền Trung đoàn trình diễn thi đua thì Kim Ngọc cũng ca bài hát "Ba Vì", vì vậy mà đội chúng tôi được giải nhất về đơn ca và các anh em ở đội Tuyên truyền Trung đoàn khác đều đến xin chép lại bài nhạc "Ba Vì" để về hát mỗi khi đi trình diễn. Nhờ đó, mà không lâu, bài nhạc "Ba Vì" được nổi tiếng, tất cả anh em bộ đội ai ai cũng thuộc nằm lòng và hát được.

 

Bài nhạc "Ba Vì" được nổi tiếng là do tiếng hát của Kim Ngọc, vì vậy anh Quang Dũng rất quý anh em chúng tôi và coi như em ruột của anh.

 

Cuối năm 1999, tôi về thăm quê hương, thăm lại gia đình và thành phố Hà Nội thân yêu, nơi tôi sinh ra và lớn lên tại đó, vì tôi ra đi từ lúc mới 18 đến nay đã hơn phân nửa thế kỷ xa cách, nay mới có dịp trở về.

 

Cái vui của tôi là được gặp lại tất cả anh em, bạn bè cũ trong đội Tuyên truyền và các bạn văn nghệ sau hơn 50 năm mới gặp lại nhau nên ai cũng vui mừng đón tiếp tôi rất là thân tình như xưa. Các bạn của tôi và tôi, ai nấy cũng vào tuổi thất thập "cổ lai hy", đầu bạc, con cháu đầy đàn, nhưng tôi rất cảm động vì anh em gặp nhau vẫn kêu bằng mày tao như ngày xưa, dù rằng các bạn tôi, người nào cũng mang cấp bậc Đại tá, Thiếu tướng hồi hưu cả.

 

Tôi gặp lại Kim Ngọc, cô ca sĩ 16 tuổi thuở nào, giờ đã 70 rồi, nhưng tôi thật ngỡ ngàng, không ngờ Kim Ngọc còn quá trẻ, tôi ước chừng chỉ 50 hoặc hơn một chút thôi, ai ngờ đâu Kim Ngọc đã 70 tuổi, thế mà Kim Ngọc hát vẫn còn hay, vẫn còn đi trình diễn ca hát cho các đoàn thể, các buổi hội họp... và mới đây, đã đi hát liền 62 đêm nhạc Văn Cao, được nhạc sĩ Văn Cao khen ngợi là chỉ có Kim Ngọc khi hát mới lột tả được hết tình cảm trong các bài nhạc của ông. Khán thính giả đi xem Kim Ngọc trình diễn thì từ trẻ đến già, ai ai cũng gọi là "Cô Kim Ngọc" chứ không ai gọi là "Bà" cho dù đối với số tuổi bây giờ của Kim Ngọc phải gọi là "Cụ" mới đúng phép. Tuy hát vẫn hay, nhưng tuổi đời cao nên Kim Ngọc không đi hát ở phòng trà và trình diễn như lớp trẻ được.

 

Hai ngày sau khi tôi về thăm quê hương, Kim Ngọc tổ chức một bữa cơm gia đình thân mật để tiếp đón tôi và nhân dịp mời tất cả anh em đã sống với nhau trong đơn vị họp mặt lại tất cả để cùng nhau nhớ lại kỷ niệm của thời son trẻ, mà Kim Ngọc cho thời gian đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời.

 

Hôm ấy, có gần 20 anh em còn sống đã tụ tập tại nhà Kim Ngọc. Tôi thật lấy làm sung sướng vì các bạn và tôi xa nhau cả nửa thế kỷ rồi mà gặp lại nhau, mọi người đều ân cần, thăm hỏi nhau, trong số các bạn tôi, ai ai cũng đều hồi hưu cả, nhưng họ vẫn hoạt động văn nghệ thường xuyên.

 

Trước khi vào bàn ăn, Kim Ngọc có nhắc đến một số bạn đã nằm xuống và người anh anh em chúng mình thân và thương nhất là anh Quang Dũng, một người anh cũng đã ra đi trong bệnh hoạn và nghèo túng. Kim Ngọc nói xin các anh em dành 1 phút mặc niệm cho các bạn và anh Quang Dũng. Sau khi cơm nước xong, Kim Ngọc kể lại những ngày mà anh Quang Dũng còn sống và chết ra sao ?

 

Kim Ngọc nói là sau 1954, anh em trở về Hà Nội, ai cũng vẫn đi công tác cho bộ đội, riêng anh Quang Dũng thì bị ông Tố Hữu ghen ghét về tài làm thơ, và sau đó là sa thải, không cho làm bất cứ một công tác nào cả. Bị cô lập nên anh lâm vào cảnh nghèo túng và còn bệnh hoạn nữa. Tất cả mọi sự sống trong gia đình đều trông vào chị Quang Dũng, là một người đàn bà có tất cả tâm hồn cao đẹp, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

 

Một mình chị chạy đôn chạy đáo, may thuê, vá mướn và đom áo để nuôi gia đình bữa đói, bữa no. Tuy gia đình lâm vào hoàn cảnh khổ sở, nhưng chị luôn luôn vui vẻ, không để lộ một cử chỉ nào cho anh Quang Dũng buồn. Có những chiều gió lộng, hai anh chị đã phải đi quét lá cây rụng về làm củi nấu cơm, thật là khổ vô cùng.

 

Kim Ngọc quá thương anh chị Quang Dũng, nhưng hoàn cảnh của gia đình Kim Ngọc cũng chẳng khá hơn tuy cả hai đều là sĩ quan cao cấp, nhưng cùng chung với số phận của toàn dân, ai cũng khổ và lại là thời kỳ bao cấp, không có được mua bán tự do như bây giờ, muốn mua gì thì phải có tiêu chuẩn, có tem phiếu và vào hợp tác xã mà mua.

 

May mà vợ chồng Kim Ngọc đều là sĩ quan cấp Tá, nên dễ thở hơn, hôm nào mua được cái gì thì cả hai vợ chồng bảo nhau, bớt ra đem biếu anh chị Quang Dũng và các cháu.

 

Sự giúp đỡ của vợ chồng Kim Ngọc thì chỉ có hạn thôi, mà anh lại bệnh nặng không tiền mua thuốc và xin nằm bệnh viện cũng không được, nhìn anh mà tội nghiệp, thương cho anh một con người tài hoa, mà không may chút nào.

 

Một hôm, vào năm 1988, vợ chồng Kim Ngọc đi chợ về thì đã thấy cô con gái anh Quang Dũng ngồi chờ ở nhà từ lâu. Thấy vợ chồng Kim Ngọc về, thế là nó chạy tới ôm Kim Ngọc và khóc nức nở, nó nói:


- Cô Kim Ngọc ơi, bố con bệnh quá nặng, bây giờ nằm liệt một chỗ rồi, chắc không qua khỏi được đâu. Bố con cũng không nói được tuy là còn tĩnh, bố con bảo đến nói với cô chú lại chơi và hát cho bố con nghe lại bài "Ba Vì" mà cô vẫn hát để bố con nhớ lại kỷ niệm cho vui.

 

Nghe nó nói thế, Kim Ngọc hết hồn và giục chồng cùng các bạn chiến đấu ở Tây Tiến với anh Quang Dũng ngày xưa đem cây đàn theo và lên xe Honda chạy thẳng một mạch đến nhà anh Quang Dũng. Vợ chồng Kim Ngọc đến nơi thì thấy nét mặt anh Quang Dũng có vẻ vui. Kim Ngọc và chồng vội chạy lại bên giường, anh chỉ tay, bảo ngồi đi, Kim Ngọc mới bảo:


- Anh Quang Dũng ơi, em là Kim Ngọc và chồng em tới thăm anh đây.

 

Anh gật gật cái đầu. Kim Ngọc nói tiếp:


- Hôm nay vợ chồng em đến đàn và hát lại bài "Ba Vì" của anh để anh nghe nhớ lại những ngày đầu tiên anh dạy cho em năm em 16 tuổi.

 

Quang Dũng nhếch mép cười. Sau khi chồng Kim Ngọc lấy "ton" cho Kim Ngọc ca, và Kim Ngọc đã hát bằng tất cả tình cảm tâm hồn, vừa nghe, Quang Dũng vừa nắm tay Kim Ngọc và rồi thấy nắm chặt hơn, môi mím lại, hai hàng nước mắt anh chảy ra đầm đìa. Kim Ngọc biết là anh nhớ quê hương và nhớ lại thời kỳ xưa nên anh xúc động. Kim Ngọc ca xong, cả hai vợ chồng đều ôm anh và khóc theo anh, Kim Ngọc biết là anh rất cảm động mà không nói được vì cơn bệnh. Trước khi vợ chồng Kim Ngọc từ giã anh, thì Kim Ngọc hát lại lần nữa cho anh nghe và anh cũng vẫn khóc. Vợ chồng Kim Ngọc ra về mà lòng thương anh quá đổi.

 

Sau lần hát cho anh Quang Dũng nghe, vợ chồng Kim Ngọc về họp lại một số bạn văn nghệ thân với anh Quang Dũng và tất cả làm đơn rồi đưa chị Quang Dũng lên gặp ông Nguyễn Đình Thi là Chủ tịch Hội Văn Nghệ VN để xin ông ấy giới thiệu cho anh Quang Dũng được vào bệnh viện Việt-Xô để chữa trị, thì hai ngày sau, ông Thi cho biết là cấp trên không chấp thuận, anh em đều biết là ông Tố Hữu không chấp thuận.

 

Đúng hai tháng sau anh mất. Vợ chồng Kim Ngọc đưa anh ra tận nơi an nghỉ xong mới trở về.

 

Cho đến hôm nay, vợ chồng Kim Ngọc luôn luôn nhớ đến anh và thương anh ấy vô cùng. Cũng chỉ vì sự ganh ghét về tài năng của anh mà họ làm cho anh và cả gia đình khổ cực biết bao năm trời và cho đến lúc anh sắp lìa đời rồi mà họ vẫn chưa buông tha cho anh, không động lòng trắc ẩn của con người một chút nào cả.

 

Ngay sau khi về Hà Nội, ông Tố Hữu có nhiều quyền hành và ra lệnh cho ông Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Văn Nghệ VN, cho các đàn em viết báo, mở một chiến dịch phê phán thơ Quang Dũng. Họ liên tiếp viết nhiều bài phê bình thơ Quang Dũng, đem bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng ra mổ xẻ, vì bài thơ này được mọi người hâm mộ. Họ lôi câu chót của bài thơ này ra để bình phẩm:

 

"Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".

 

Chúng nó bảo là thơ lãng mạn, đồi trụy, tiểu tư sản, đang trong lúc toàn dân sôi sục giết giặc Pháp thì lại làm thơ mơ Hà Nội với dáng kiều thơm làm chao đảo và nhụt nhuệ khí chiến đấu của toàn dân, toàn quân. Buộc tội như vậy là làm hại cả đời anh khổ sở.

 

Người ta không những muốn anh phải sống đói khổ về thể xác mà họ còn muốn giết chết luôn tên tuổi anh và các bài thơ của anh. Nhưng họ chỉ có quyền giết được thể xác anh thôi, còn tác phẩm của anh, tên tuổi anh, làm sao họ có thể giết được! Vì các tác phẩm của anh được mọi người mến mộ càng được mến mộ hơn.

 

Bài "Tây Tiến" của anh mà họ đã mất công mất sức viết báo để cho mọi người ghét và làm anh khổ sở đến chết, thì chính những bài thơ của anh mà họ đã phê phán bây giờ lại lấy đem ra in thành sách để bán lấy tiền vì họ biết là thơ của anh được nhiều người mua!

 

Kim Ngọc bực tức nói tiếp:


- Có một cái nực cười hơn nữa là bài thơ "Tây Tiến" của anh, họ đã ra công hạ bệ, thế mà bây giờ bài thơ đó được ngạo nghễ khắc vào bia đá rất lớn để ở các nghĩa trang liệt sĩ, không một nghĩa trang liệt sĩ nào mà không có một tấm bia lớn khắc nguyên văn bài thơ "Tây Tiến". Ít hôm nữa, anh em tổ chức đi thăm mộ các anh em ở các nghĩa trang liệt sĩ tận Hòa Bình, Lai Châu, sát biên giới Lào, hôm đó, Trịnh Hưng phải đi thăm anh em với tụi mình và Trịnh Hưng sẽ được nhìn lại bài thơ "Tây Tiến" ngạo nghễ trên tấm bia đá lớn để biết rõ.

 

Anh Quang Dũng bị người ta ganh ghét và chết đi, nhưng anh chỉ mất phần thể xác mà thôi, chứ tên tuổi anh và thơ, văn, họa, nhạc của anh, tác phẩm của anh vẫn sống mãi trong lòng mọi người.

 

Anh đã được đền bù một cách xứng đáng là anh được chính phủ Thụy Điển tặng 25 triệu đô-la để đúc một chân dung anh bằng đồng và nay đã hoàn thành, tượng được đặt ngay trên quê hương anh. Đó là một phần thưởng cao quý cho cuộc đời làm văn nghệ của anh, vì ở Việt Nam chưa có được một người nào có vinh dự được chính phủ nước ngoài biết đến và ngưỡng mộ, bỏ tiền ra làm tượng đồng như anh cả.

 

Chỉ tiếc rằng anh không còn sống để được trông thấy bài thơ "Tây Tiến" của anh khắc trên bia đá khắp nơi và nhìn thấy tác phẩm của anh in thành tập và nhìn bức tượng đồng, chân dung của anh.


 

Nhà thơ Quang Dũng: "Mây đầu ô lang thang góc phố phường"

Đồng vẫn là đồng , Vàng vẫn là vàng

Trần Hoài Dương

 

Mây ở đầu ô mây lang thang

Ôi! Thật làm sao

Góc phố phường…

QD

 

Gần như trọn vẹn mươi năm của Thập kỷ 70 Thế kỷ trước, tôi được vinh hạnh gần gũi nhà thơ Quang Dũng. Anh là biên tập viên của Nhà xuất bản Văn học, còn tôi bên báo Văn nghệ, cách nhau vài trăm bước chân. Tuy không cùng cơ quan nhưng hầu như ngày nào cũng gặp nhau vì hai anh em cùng ăn cơm ở nhà ăn tập thể của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, số nhà 49 đường Trần Hưng Đạo, ngay trong Nhà xuất bản Văn học. Cứ đến bữa cơm trưa, nhà ăn tấp nập văn nghệ sĩ, phần lớn là những người độc thân, gia đình ở xa, người nhà đi sơ tán khỏi Hà Nội. Thực khách thường xuyên nhất thường là các nhà văn nhà thơ: Võ Huy Tâm, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Phan Hách, Quang Dũng, Xuân Quỳnh, nhạc sĩ Phan Thanh Nam và tôi. Mỗi lần anh Mạc Phi ở Tây Bắc về, anh Sao Mai ở Vĩnh Phúc xuống, anh Trần Hữu Thung, anh Minh Huệ ở Nghệ Tĩnh ra cũng đều đến ăn cơm ở đây. Thỉnh thoảng các anh Nguyễn Thế Phương, Như Phong, Hà Minh Tuân, Vĩnh Mai, Nguyễn Văn Sỹ gia đình đi sơ tán, cũng nghé ăn tạm ít bữa. Rồi anh Phạm Văn Khoa bên điện ảnh, anh Mai Văn Hiến bên hội họa, anh Văn Ký, La Thăng, Phan Chí Thanh bên âm nhạc…

 

Ăn cơm xong, anh và tôi thường đi bộ dạo chơi, hết phố này sang phố khác, lan man hết chuyện này sang chuyện khác. nhiều khi tôi đưa anh về đến cửa nhà anh cuối phố Bà Triệu, hai anh em cứ bịn rịn chưa muốn chia tay, anh lại bảo: “Để tôi tiễn thêm HD một đoạn”, thế là lại cùng quay trở lại, theo đúng lộ trình ban nãy. Dùng dằng như thế, có hôm hai ba lần mới chịu chia tay hẳn.

 

Những cuộc đi dạo sau bữa cơm ở nhà ăn tập thể như thế đã thành một thông lệ. Có khi chỉ có hai anh em tôi, có khi kéo nhau đi cả một đám vui vẻ –

 

Rất nhớ, có một lần đi dạo như thế, phía trước là Xuân Quỳnh, anh Quang Dũng, anh Ngô Ngọc Bội - hàng phía sau là anh Võ Huy Tâm, bố con Nguyễn Phan Hách và tôi. Cởu con trai Nguyễn Phan Hách mới ở quê Bắc Ninh ra chơi với bố, năm đó chừng 6,7 tuổi. Đang đi đến đoạn dốc phố Bà Triệu, chợt con trai Nguyễn Phan Hách giật giật tay bố, thắc mắc: “Bố ơi, sao cái ông Liên xô kia ông ấy nghèo thế hở bố?”. Mấy anh em phá lên cười. Anh Quang Dũng cao lớn, có hàng ria mép xén tỉa rất kỹ lưỡng, làm cậu bé tưởng là “ông Liên Xô”. Còn chiếc quần ka ki màu xi măng bạc phếch, “pích kê” chằng chịt cả hai đầu gối và hai bên mông làm cho cậu bé nghĩ là “ông Liên Xô” ấy sao mà nghèo đến thế!

 

Anh Quang Dũng thường ít nói. Giữa cuộc gặp mặt bạn bè, anh chỉ ngồi lặng yên, thảng hoặc mới góp thêm một hai lời nhận xét hóm hỉnh với giọng nhỏ nhẹ và nụ cười mỉm rất duyên dáng. Đôi khi vui chuyện, anh cũng kể một vài sự việc trong làng văn, nhưng rất hiếm hoi. Ngay cả chuyện về bản thân anh, anh nói cũng rất dè dặt. Tôi cảm thấy trong anh luôn có một bầu tâm sự không dễ nói ra.

 

Có lần, tôi nài nỉ anh chép tặng tôi bài “Tây Tiến”, anh lảng sang nói chuyện khác. Tôi vẫn cố nài nỉ, anh chép miệng: “Thơ ba lăng nhăng, lãng mạn tiêu cực, tạch – tạch – sè ấy mà, HD nhớ làm gì!” Tôi vẫn không chịu buông, vật nài tiếp. Anh bảo thơ làm lâu quá rồi, anh quên nhiều câu, không nhớ hết toàn bài. Tôi nói tôi thuộc, sẽ đọc để anh chép, chủ yếu là tôi muốn có bút tích của anh làm kỷ niệm. Anh cười trừ, dứt khoát từ chối. Mãi cho đến cả năm sau, nhân một hôm tôi mời anh đến lại bán bà cụ phúc hậu ở đường Nguyễn Du, đoạn gần phố Huế uống trà, anh mới giúp tôi được toại nguyện. Đang uống bát chè tươi vàng óng như mật ong, chit nhớ hôm ấy đúng là ngày sinh của mình, tôi nói nhỏ với anh điều ấy.

 

Anh khẽ reo lên: “Thế à? Vậy mà HD không cho mình biết sớm, mình chuẩn bị chút quà mừng HD. Vậy hôm nay phải để cho mình đãi HD nhé!” Vừa uống chè tươi, ăn kẹo bột, anh vừa thủ thỉ hỏi tôi về quê quán, về già đình. Tôi phải ding từ “thủ thỉ” mới nói lên được đúng phần nào tính cách của anh.

 

Anh cao lớn lực lưỡng nhưng ăn nói lại rất nhỏ nhẹ, lịch sự. Hầu như tôi chưa thấy anh nói to bao giờ - Thường chỉ they anh rủ rỉ trò chuyện, đôi khi chêm một hai câu khôi hài tế nhị, cười cũng không lớn tiếng. Hỏi chuyện tôi mấy câu, anh xin phép bà cụ chủ quán cho ngồi nhờ ở chiếc bàn cao góc nhà một lát. Anh nói nhỏ với tôi: “Xin lỗi HD nhé. Mình có chút việc riêng…”

 

Anh lấy giấy bút ra viết gì đó. Một lát sau, quay lại bàn nước, anh có vẻ hơi ngượng ngập, đưa cho tôi tờ giấy, nói nhỏ nhẹ: “Mình mừng sinh nhật của HD…” Tôi rất cảm động. Không ngờ anh đã chép tặng tôi bài “Tây Tiến” mà đã mấy lần anh từ chối. ở góc trên cùng, anh viết mấy dòng hóm hỉnh: “Thơ lãng mạn tiêu cực. Tài liệu tham khảo. Tuyệt đối không phổ biến rộng”. Dưới tên bài “Tây Tiến”, anh đề: “Thân và yêu tặng Trần Hoài Dương”. Anh tách mấy từ trên thành mấy dòng riêng biệt theo kiểu bậc thang:

 

“Thân

yêu

tặng Trần Hoài Dương”

 

Tôi cảm động nắm chặt bàn tay rất ấm của anh, lặng đi giây lát, rồi nói đùa với anh: “Đến hôm nay em mới nhận ra hết ý nghĩa của việc tách dòng, kiểu thơ bậc thang của Maia đấy anh ạ”.

 

Nhân chuyện ký tặng tác phẩm, tôi lại nhớ có lần hai anh em lang thang trên đường, tiện thể ghé vào hiệu sách cũ của ông Thuật hói, một người Hà Nội điển hỉnh, rất mê sách.

 

Tôi đang mải mê tìm chọn sách thì anh Quang Dũng ghé tai tôi, nói ngập ngừng: “HD có tiền, cho mình lấy tạp mấy đồng, được không?” Tôi vội vàng đưa anh. Thì ra anh cần mua quyển “Nhà đồi” của chính anh, xuất bản từ mấy năm trước. Cuốn sách đã qua nhiều người đọc, hơi cũ, giấy ố vàng nhưng mau lại được, anh có vẻ mừng lắm. Lại đến quán bà lão quý phái xưa. Trong lúc chờ bà lão rót chè tươi ra bát, anh Quang Dũng rút cuốn “Nhà đồi” ra xem lại. Tôi ngồi sát bên anh, cùng ghé xem.

 

Quyển sách do chính anh vẽ bìa, màu hang nhạt pha màu nâu đất – Phía dưới, gợn lên hai đường lượn sóng gợi nhớ vùng đồi trung du. Góc trái đột khởi lên một cây cọ cao vút, đơn độc xoè ra vòm lá hình rẻ quạt màu lục đậm.

 

Tôi giở mục lục, đếm số truyện và ký in trong đó rồi hỏi anh: “Trong số 9 truyện và ký này, anh thích những truyện và ký nào nhất?”. Anh không trả lời ngay câu hỏi mà nói sang chuyện khác, có ý thanh minh: “Cuốn này ra lâu rồi, từ cuối năm 1970. Hồi đó, có mấy quyển bản quyền tác giả, chưa ra khỏi nhà xuất bản đã bị bạn bè lấy hết nên không tặng HD được. Mãi hơn 4 năm sau mới tặng, HD đừng buồn nhé!” Rồi anh vuốt vuốt lại mấy trang sách, thận trọng viết lời đề tặng: “Đặc biệt có ba truyện: Quê Trung du, Nhà đối và

 

Một con tàu lá để riêng tặng Hoài Dương” chữ ký anh vừa ngang tàng vừa phóng khoáng, vừa rắn rỏi vừa bay bướm. Bên dưới đề ngày 22-12-1974, lại kèm theo cả tên anh viết dạng chữ Nho nữa. Ngay chỉ một việc nhỏ, lời anh đề tặng sách thôi cũng mang sắc thái riêng không lẫn với ai.

 

Hiếm có một nhà văn nào yêu thiên nhiên và hiểu thiên nhiên một cách sâu sắc, tường tận như anh. Biết tôi cũng yêu thiên nhiên, anh thường kể nhiều chuyện về chim chóc, muông thú, về các loài cây cho tôi nghe. Tôi giục anh viết những hiểu biết phong phú ấy cho trẻ em đọc, tôi sẵn sàng lo in sớm cho anh. Chính vì thế, bài bút ký “Mùa quả cọ” tuyệt vời đã ra đời. Bài viết đầy chất thơ, đem lại cho người đọc biết bao kiến thức quý giá về thiên nhiên và về tình yêu đắm đuối đối với thiên nhiên. Không chỉ trên trang viết, trong đời thường, lòng yêu thiên nhiên cũng luôn thường trực trong anh. Thỉnh thoảng trên đường đi, bất chợt thấy một chiếc lá bàng hay một chiếc lá dã hương đỏ thắm rơi phía trước, anh cũng cẩn thận nhặt lên, ngắm nghía, mủm mỉm cười thú vị rồi khẽ khàng đặt vào giữa trang sách.

 

Trong túi xách của anh, lúc nào cũng có một cuốn sổ ghi chép, một hai quyển sách đang đọc dở. Mỗi khi nhặt được một chiếc lá đẹp, anh trịnh trọng ép vào giữa trang sách rồi vừa nhìn tôi vừa gật đầu một cái, vẻ đắc ý, coi như vừa có thêm một kỷ niệm quý giá do thiên nhiên ban tặng. Có hôm vừa đi đến đường Bà Triệu, đoạn có bức tường dài của Đại sứ quán Pháp, anh chợt đứng lại chăm chú lắng nghe. Trong khu vườn bên kia bức tường đang vẳng ra tiếng chim cu gáy. Anh ra hiệu bảo tôi yên lặng, cùng lắng nghe. Anh bảo có ba loại chim cu khác hẳn nhau, thuộc ba đẳng cấp riêng biệt. Con thuộc loại nào thì từ bé đến lớn chỉ gáy được một giọng như thế. Cu chiếc thì từ trẻ đến già chỉ biết gáy “cúc cu cu… cu” chứ không có chuyện cu chiếc cứ gáy mãi, gáy mãi sẽ được nâng bậc lên, biến thành cu đôi, cu ba.

 

Cũng như đồng thì mãi mãi vẫn là đồng, bạc là bạc, vàng là vàng chứ không phải đồng, bạc lâu năm lên nước biến thành vàng được. Rồi anh hóm hỉnh, nháy mắt bảo tôi: “Chứ không như con người bọn mình, nhiều nhà thơ có phẩm chất đồng, chẳng hiểu sao cứ lẽo đẽo mãi rồi cũng thành loại vàng đẳng cấp cao” Nhưng rồi vẫn giọng hóm hỉnh ấy, mấy phút sau, anh lại thủ thỉ: “Nhưng nói vậy thôi, HD ạ. Cuối cùng đồng vẫn là đồng – Vàng vẫn là vàng”.

 

Chúng tôi thường đùa vui, đó nhau trong lúc đi dạo trên đường. Chẳng hạn ở Hà Nội, đường nào nhiều cây cơm nguội nhất, đường nào nhiều cây bàng, cây sấu nhất; cây bồ đề, cây dã hương, cây đa nhiều nhất ở đường nào… Anh cười rất tươi, rất mãn nguyện khi hai anh em cùng đưa ra những câu trả lời trùng khớp với nhau. Khi thấy tôi nói chắc chắn đường Lý Thường Kiệt nhiều cây cơm nguội cổ thụ nhất, đường Điện Biên Phủ nhiều cây đa nhất, trên đường Trần Nhân Tôn có 13 cây bồ đề trồng liền kề nhau, anh thích lắm.

 

Tôi cũng hay “bày trò” lôi anh đi nơi nọ nơi kia trong thành phố. Anh cũng tỏ ra thích thú với những cuộc vui nho nhỏ ấy. Đang ngồi uống trà “năm xu” ở một quán nhỏ, nghe tôi “tán” về cây bồ đề trước cổng chùa Quán Sứ đang ra lá non, những chiếc lá non có màu môi trẻ con đẹp lắm, thế là anh uống vội cho xong chén nước, giục tôi đến đó luôn. Có hai lần tôi được đi xa với anh. Một lần về vùng mỏ, theo lời rủ rê của anh Võ Huy Tâm và một lần đi Cao Bằng, Lạng Sơn cùng anh Nguyễn Thành Long và anh Đào Xuân Quý, do bên Bộ lâm nghiệp mời.

 

Chuyến đi Cao Bằng, Lạng Sơn giữa năm 1973 thật thú vị. Chúng tôi liên hệ được với bên Bộ lâm nghiệp, nhờ họ tạo điều kiện cho đi thực tế rồi chúng tôi sẽ viết bài “trả nợ” – Gần một tháng trời, anh em tôi được đi khá nhiều nơi, đến tận chân dãy núi phía Bióoc hùng vĩ, qua mỏ thiếc Tĩnh Túc, về Phai Khắt, Nà Ngần… Hôm ở Nà Ngần, chúng tôi được huyện uỷ coi là khách quý, được ăn ở trong nhà khách của huyện, lại được cấp giấy giới thiệu ưu tiên ra cửa hàng mua bán huyện mua một số nhu yếu phẩm quý hiếm. Mỗi anh em tôi được mua: hai bao thuốc lá Tam Đảo, một gói trà Hồng Đào, một gói mì chính to bằng bao diêm, một gói hạt tiêu gói giấy báo chừng 2 ngón tay, rồi nấm hương, mộc nhĩ mỗi thứ một bọc nhỏ lớn hơn trái cam một chút.

 

Tôi mắt sáng lên khi trông thấy trên lệ hàng có hai chiếc ruột phích Trung Quốc, loại thấp lùn, hình như có thể chứa được chừng hai lít nước. Ai cũng ao ước mua được chiếc ruột phích ấy, vì ở Hà Nội không thể có. Nhưng cứ nghĩ đến việc phải ôm nó suốt cả ngàn cây số phía trước nhiều đèo dốc ai cũng ngại.

 

Ngay trong buổi sáng hôm sau, tôi đã thấm đòn vì sự bốc đồng, hăng hái mua cái ruột phích trần như nhộng của mình! Không có bao bì, không có hộp các tông đệm rơm vụn như thông lệ, tôi phải bọc cái ruột phích với cái vòi thuỷ tinh quý hoá kia trong mấy lớp giấy báo vò nhàu, lại cẩn thận bọc thêm một chiếc áo, một chiếc quần cùng chiếc áo mưa bao kín bên ngoài nữa. Cứ phải ôm khư trước ngực trong suốt cả hàng trăm cây số đường trường. Đèo dốc, các khúc cua uốn lượn, rồi đường ổ gà ổ trâu, xe cứ liên tục lạng qua lắc lại, nhảy chồm như một gã rồ. Lắm lúc muốn phát điên lên vì cái ruột phích. Đến khi bực bội quá không chịu nổi, tôi buột nói to: “Chắc phải cho ai đó gặp ngang đường vậy! Bực mình quá rồi!”

 

Chợt anh Quang Dũng bảo tôi: “Hoài Dương đưa cho mình!” rồi anh ôm lấy cái bọc “của nợ”. Tôi thở phào nhẹ nhõm, coi như đã trút được gánh nặng, hất được tảng đá nặng khỏi ngực mình. Tôi hỉ hả nói với anh: “Được anh lấy giúp cho thì còn gì bằng! Nhưng vất vả, anh ráng chịu nhé!”.

 

Khi xe đưa chúng tôi về đến cổng Toà soạn báo Văn nghệ. Anh trao lại cái bọc “của nợ” to đùng cho tôi. Tôi kêu lên: “Anh giữ mà ding! Em đã “biếu” anh rồi mà! Anh ấn cái bọc vào tay tôi, giọng dứt khoát như ra lệnh: “Mang về mà ding! Mình mang giùm cho HD đỡ vất vả thôi. Ai lại lấy của HD!” Tôi dứt khoát không nhận, cứ dúi vào hai tay anh, đun đẩy đôi co mãi. Anh Nguyễn Thành Long phải nhoài nửa người ra khỏi xe, bảo tôi: “HD mang về đi! Cứ coi như anh Quang Dũng cho lại HD. Giữ lại mà ding. Cần lắm đấy HD ạ. Cậu chưa có gia đình nên chưa biết đấy thôi…” Chắc hiểu tâm trạng tôi lúc ấy, anh Quang Dũng cười rất tươi, vẫy vẫy tay chào và hóm hỉnh nói: “Hôm nào “khai trương” chiếc phích, nhớ ới một tiếng, bọn mình sẽ mang trà ngon đến góp vui!”

 

Năm 1981, tháng 11, tôi rời Hà Nội vào sống ở Sài Gòn. Từ đó, hai anh em tôi không có dịp được gặp nhau nữa. Năm 1986, tôi có việc ra Hà Nội ít ngày.

 

Một buổi chiều, tôi ngồi uống café với nhà phê bình văn học Trần Bảo Hưng ở đầu dốc phố Bà Triệu. Đúng vào giờ tan tầm làm việc nên xe cộ cuồn cuộn như nước chảy siết, hết đợt này đến đợt khác, xe lao đi vùn vụt không ngừng nghỉ. Chợt tôi trông they, phía dưới chân dốc, một ông già đang tìm cách qua đường. Khó khăn lắm, ông mới nhích cách lề đường chừng 2 mét rồi không nhích thêm được nữa vì những chiếc Honda cứ loang loáng lao qua. Ông già cứ đứng chôn chân tại chỗ, một tay chống gậy, một tay giơ lên quá đầu ra hiệu xin đường, xin dòng xe đừng lao sầm vào người mình.

 

Đầu tóc ông bạc phơ, tuy ở xa nhưng tôi vẫn cảm nhận được vẻ run rẩy lo sợ nơi ông. Ông cứ đứng như thế một lúc lâu, không nhích thêm được bước nào.

 

Nhìn dòng xe hối hả lao vùn vụt mỗi lúc một rối mắt, tôi thấy thật nguy hiểm, định chạy lại tìm cách giúp ông già qua đường, thì vừa dịp có hai người cũng đang tìm cách qua đường. Họ đến cạnh ông già, cùng ông nhích dần từng chút từng chút.

 

Ông già vẫn run rẩy, tay chống gậy, tay giờ cao ra hiệu xin đường… Lâu lắm, ba người vẫn đứng ở giữa đường, không qua nổi. Mà dòng xe càng lúc càng đông, tiếng gầm rú ầm ào càng lúc càng chói gắt. Tôi vẫn không rời mắt khỏi đám ba người đang mắc kẹt giữa đường. Và rồi tôi chợt nhận ra ông già ấy là nhà thơ Quang Dũng! Sở dĩ mãi tôi mới nhận ra anh vì trông anh khác xưa nhiều quá. Không còn bóng dáng cao lớn, vừa ngang tàng vừa hào hoa như trước nữa. Thời gian khắc nghiệt đã biến anh thành một ông già tóc bạc phơ, người như teo tóp nhỏ lại, bước đi chậm chạp run rẩy và hiện đang giơ mãi cánh tay ra xin đường mà những dòng xe, dòng người cứ như vô tình, vô cảm phớt lờ không hề để ý gì đến ông già tội nghiệp…Tôi tự nhủ thế nào cũng phải đến thăm anh ngay trong một hai ngày sắp tới. Nhưng rồi, công việc cứ cuốn tôi đi, cuối cùng tôi cũng không đến thăm anh được.

 

Tôi về lại Sài Gòn và đến giữa tháng 10-1988 thì được tin anh mất. Tôi đã không kìm nén nổi, oà khóc vì nhớ anh, thương anh và vì ân hận. Tôi đã vô tình quá. Tôi đã hứa sẽ đến thăm anh nhưng rồi không đến. Nói là bị công việc cuốn đi, nhưng nào có công việc gì quan trọng đâu, toàn những chuyện công danh hão huyền, phù du cả, vậy mà đôi đã bị cuốn vào những thứ vớ vẩn, “ba lăng nhăng” ấy (như cách anh thường hay nói) để quên mất anh, không đến thăm anh, để hai anh em được gần nhau thêm ít phút quý giá… Tôi vẫn luôn bị ám ảnh vì hình ảnh cuối cùng về anh: Một ông già tóc bạc phơ, cứ run rẩy đứng chôn chân giữa đường, tay chống gậy, tay giơ cao quá đầu để xin đường, mãi mà không qua được…

Sài Gòn, tháng 4-2008

 

@Văn Nghệ


 

Nhà thơ Quang Dũng và 21 hạt tiêu

Anh Vân

15.07.2008

 

Vốn là cựu biên tập viên tổ văn xuôi của báo Văn Nghệ VN từ cuối 1969 đến 1981, nhà văn Trần Hoài Dương quen biết và được làm việc chung với rất nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi. Trong đó, tác giả bài "Tây tiến" để lại trong ông nhiều kỷ niệm đáng nhớ.

 

Trần Hoài Dương chia sẻ với eVăn vài mẩu chuyện nhỏ.

 

"Ông Liên Xô đó sao nghèo quá vậy!"

 

Quang Dũng vốn nổi tiếng là nhà thơ rất nghèo. Tướng tá ông cao lớn, để râu nhìn giống như người Liên Xô. Một trưa, sau khi cùng ăn cơm với nhau ở nhà ăn tập thể của NXB Văn học ra, cả bọn gồm Võ Huy Tâm, tôi, Xuân Quỳnh, Ngô Ngọc Bội... đi bộ lững thững sang bên đường.

 

Tôi còn nhớ như in cái cảnh: Quang Dũng lừng lững đi trước, Xuân Quỳnh, Ngô Ngọc Bội đi sau. Còn tôi và Võ Huy Tâm, cha con nhà văn Nguyễn Phan Hách thì đi sau nữa. Lúc ấy ông Quang Dũng mặc áo bộ đội ngắn cũn, mặc quần có hai đầu gối, hai mông may kiểu đắp miếng vá. Đang đi thì chợt nghe tiếng thẽ thọt của cậu con trai (mới từ quê ra) nhà văn Nguyễn Phan Hách bảo bố: "Bố ơi sao cái ông Liên Xô kia ổng nghèo quá vậy". Cả đám được một trận cười vỡ bụng.

 

21 hạt tiêu

 

Có một lần, các nhà văn xin được một chuyến xe đi thực tế viết lách về khu Phay Khắt, Nà Ngần. Chuyến đi có Quang Dũng, tôi, nhà văn Nguyễn Thành Long, Đào Xuân Quý, nhà thơ Yến Lan. Cả bọn được nghỉ ở nhà khách của huyện ủy Phay Khắt Nà Ngần. Vì là khách của huyện ủy nên mỗi người được một phiếu mua hàng. Ai cũng hớn hở xúng xính đi mua hàng ưu tiên. Một phiếu ra cửa hàng hợp tác xã thì mua được 1 gói thuốc Tam Đảo, 1 gói mì chính (bột ngọt) bằng hai đầu ngón tay gói bằng giấy báo, 1 túm hạt tiêu cũng gói trong giấy báo, 1 gói trà. Mua được ngần ấy hàng thôi mà ai cũng vui vẻ, sung sướng cả.

 

Ăn cơm xong, đến lúc nghỉ, cả bọn vào nhà khách lúc ấy được kê giường san sát nhau chứ không phải phòng tách riêng. Người thì đang đọc báo, người thì nghe đài. Chỉ có Quang Dũng lọ mọ làm gì đó. Bỗng nhiên, nghe tiếng ông Quang Dũng reo to: "Ồ! 21 hạt các ông ạ!". Mọi người đang ngơ ngác không hiểu thì nhà thơ chìa ra cho mọi người xem gói hạt tiêu bé xíu, rồi thừ mặt ra ngắm nghía. Lúc đó, tò mò các bạn văn khác cũng lôi gói của mình ra đếm. Rốt cuộc, Nguyễn Thành Long 21 hạt. Đào Xuân Quý 21 hạt. Yến Lan cũng 21 hạt. Tôi cũng 21 hạt. Cả bọn cười phá lên vì cái tính thật thà và đếm quá kỹ của các cô bán hàng người Tày.

 

Nhà thơ thích ăn cơm cháy

 

Quang Dũng cao to nên ăn rất khỏe. Trong giờ ăn tại nhà ăn tập thể của NXB Văn học, nơi ông làm ngày ấy, bao giờ ông cũng phải đứng lên đi xin thêm cơm. Xin một lần thì nhà bếp còn vui vẻ, nhưng cứ nhiều lần như thế, bà Gái cấp dưỡng tỏ vẻ khó chịu, khi thấy nhà thơ sắp đến là lườm, nguýt.

 

Bạn bè văn chương ai cũng hiểu, nhà thơ cao lớn mà tiêu chuẩn như mọi người thì chóng đói là phải. Vì thế mà anh em không ai bảo ai, cứ đến giờ cơm là đứng lên xin thêm cơm cháy, mỗi người một phần xong góp lại cho Quang Dũng.

 

@eVan


 

Quang Dũng,
thơ một thời của một đời bất đắc chí

Nguyễn Mạnh Trinh

 

Thi nhân yêu quê hương và hình như lúc nào trong tâm thức cũng lẩn quẩn những bước chân hay những hình bóng của quê nhà. Với Quang Dũng, quê hương là con sông Đáy hiền hòa một dòng lửng lơ chậm rãi giữa hai bờ xanh tươi những bãi mía nương dâu. Quê hương là Bương, Cấn, là núi Sài Sơn, là những làng đồi, có những giếng nước trong soi đôi mắt cô thôn nữ đa tình:

 

“Bao giờ trở lạo đồng Bương, Cấn
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng..”

 

Sơn Tây, nơi có “đôi mắt người Sơn Tây / u uẩn chiều lưu lạc / buồn viễn xứ khôn khuây.” Sơn Tây, nơi “vừng trán em mang trời quê hương / mắt em dìu dịu bùôn Tây Phương / Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm / em có bao giờ em nhớ thương/”

 

Bài thơ “Đôi mắt người Sơn tây” mang cái u uẩn của người xa xứ, luôn hoài ụ niệm nhớ về quê làng xưa, thôn ấp cũ. Chiến tranh làm mọi người trôi dạt, nhưng vẫn mong có ngày trở về, để nghe tiếng sáo thanh bình, thấy lại đỉnh Ba Vì, để thấy lại quê Bất bạt…

 

Và, không phải Quang Dũng chỉ là một thi sĩ, mà ông còn là nhạc sĩ. Bài hát “Ba Vì” thông dụng trong thời kháng chiến có những câu như:

 

“Ba Vì mờ cao
làn sương chiều xa buông
gió về hương ngát thơm
đưa hồn về đâu?..

Một bản nhạc của tấm lòng yêu quê hương thiết tha!

 

Quang Dũng (1921-1988) từ trần vào ngày 14 tháng 10 năm 1988 thì vào ngày này mười lăm năm sau, năm 2003, tình cờ tôi giở đúng một trang sách cũ viết nhân ngày kỷ niêm năm năm ngày mất của thi sĩ. Bài viết “Khúc Độc Hành Quang Dũng” của một tác giả tên Văn Chinh đăng trong nguyệt san Văn Nghệ Quân Đội xuất bản ở Hà Nội tháng 10 năm 1993. Trong đó tôi tìm được một vài đoạn làm tôi suy nghĩ. Như:

 

“… Dọc con đường đến hiệu cà phê Hói, tôi cứ trân trân ngó tấm lưng gấu hơi gù của Quang Dũng, lòng cứ thắc mắc mãi. Một thân hình cao to quá khổ, mỗi bữa ăn hết một cân gạo cơm mậu dịch với năm mét phiếu vải và mười ba cân rưỡi gạo, ông sống thế nào nhỉ ? Vậy mà ông đã đổ vạ cho tôi những tội danh “anh hùng cá nhân tiểu tư sản”! Trong sổ tay chép thơ hồi tôi còn đi học có bài Tây Tiến. Bị phát hiện, tôi phải làm kiểm điểm. Tôi còn nhớ rất rõ những day dứt tự xỉ vả và cả quá trình phấn đấu đầy nhọc nhằn xóa bài thơ khỏi trí nhớ và thản nhiên đốt cuốn sổ tay thơ. Cũng còn nhớ cảm giác chân thành thích thú rồi chân thành ghét bỏ Tây Tiến…”

 

Ơ kìa, tại sao một bài thơ có thể gọi là tuyệt tác của thi ca Việt Nam mà lại bị coi như tài liệu quốc cấm như thế? Tại sao mà phải nhọc nhằn xóa bỏ bài thơ, phải đốt bỏ, phải tự kiểm điểm để ghét bỏ nó? Có phải vì chính sách chủ trương của lãnh đạo văn nghệ Đảng như vậy?

 

Nhà thơ Quang Dũng đã tự nói về bài thơ tuy tâm huyết nhưng lại gây tai họa cho cuộc đời mình như sau trong bài viết “Nhớ về Tây Tiến “ in trong Sách Nhà Văn nói về Tác Phẩm, Nhà xuất bản Văn Học:

 

“... Chúng tôi lúc đầu đi bằng ô tô, sau chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mở rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm ”heo hút cồn mây súng ngửi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu ngươi” .. tôi mô tả trong thơ rất là thực… Hồi ấy trong đoàn chúng tôi có rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn nên bộ đội không những bị ốm mà còn chết vì sốt rét cũng nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung ra đến nhà trưởng thôn để tiễn một con người vĩnh biệt núi rừng. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn. Buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng… “

 

Tại sao một bài thơ mà mang lại nhiều hứng cảm cho tác giả đến cả mấy chục năm sau lại bị để ý và coi như là có “vấn đề” ? có phải vì thành phần “tạch tạch sè (tiểu tư sản)” của lý lịch tác giả? Hay vì lòng ghen tài của thợ thơ Tố Hữu người cầm cân nẩy mực lãnh đạo văn nghệ của Đảng? Hoặc vì ý tưởng lãng mạn của bài thơ nói thực cái tâm cảm của một người yêu nước? Chỉ biết, về sau, một tài năng thơ như Quang Dũng mà phải long đong mưu sinh và những tác phẩm sau cũng là những gượng gạo, những bươc chân đi trong vòng kiềm tỏa, mang mang tâm thức của một người bất đắc chí lầm lũi trong cuộc nhân sinh. Cơm áo bó buộc, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, những nhu cầu tối thiểu của một con người cũng chưa đầy đủ, chưa nói đến cái nổi hãi sợ cứ luôn ám ảnh. Hoàn cảnh ấy làm sao mà có được môi trường sáng tác tốt cho văn chương hiển lộng?

 

Nhà văn Phan Lạc Tiếp khi từ hải ngoại trở về thăm quê nhà có ghé đến thắp hương trên bàn thờ nhà thơ Quang Dũng và cảm khái:

 

“.. Và những ngày cuối đời của Quang Dũng thật buồn. Ốm đau nằm không còn nói được. Và đến lúc ấy, lúc nằm chờ chết, Hà Nội mới cho in tác phẩm của anh, “Mây Đầu Ô“ vào tháng 5 năm 1986. Bạn bè đến thăm và mừng tác phẩm anh phải nhờ con viết và ký hộ. Cứ vất vưởng như thế “làm khổ vợ con”:

 

“Răng long, đầu bạc lo cơm áo
Tay em : chìa khóa của đời anh
Cái nghèo đeo đuổi mãi không thôi
Chăn không có đắp, tiết đông rồi
Các con oán mẹ không tháo vát
các con trách cha không thức thời..”

 

Từ xưa đến nay, chiến tranh đã là một hứng khởi cho thi nhân. Chỉ có nỗi niềm của người chinh phu chinh phụ cũng đủ làm cho tâm tư người đọc rung động thiết tha với biết bao nhiêu liên tưởng trùng điệp. Có mấy ai không cảm thấy chất ngất qua những câu Lương Châu từ của Vương Hàn đời Thịnh Đường “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi. Dục ẩm tì bà mã thượng thôi. Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ Lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà cụ Vân Bình Tôn Thất Lương đã dịch:

 

“Rượu bồ đào, chén dạ quang
Ngập ngừng muốn uống tiếng đàn giục đi
Say nằm bãi cát li bì
Xưa nay chinh chiến người đi ai về”

 

Hay, đọc những câu Chinh Phụ Ngâm, những xúc cảm lại rưng rưng trong tâm thức. Những hùng tráng trộn lẫn với những thiết tha, nỗi nhớ mong cộng với niềm cô quạnh, tất cả làm thành một thế giới lãng mạn cho ký ức mỗi người. Những hình ảnh tạo dựng bằng thi ca đã thành những vệt ghi chép hằn trong bộ óc nhớ maĩ tận ngàn sau.

 

Tôi lại nhớ đến những câu thơ Nguyễn Bắc Sơn. Những vần hào sảng ngang tàng. Những hình ảnh đẹp mà buồn bã, những câu thơ hùng tráng mà vẫn đầy chất lôi cuốn Thơ như những giong tay đi vào một thế giới lửa đạn, những câu như : ”… Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu. Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo. Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo. …’’ hay “Lỡ mai đụng trận may còn sống .Về ghé sông Mao phá phách chơi. Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm. Đốt tiền mua vội một đêm vui…“ Những nỗi buồn rất thật.

 

Chiến tranh của những người yêu hòa bình, cầm súng để tự vệ. Bao nhiêu năm, những thanh niên cùng huyết thống giết nhau vì trò chơi chủ nghĩa.

 

Máu xương chồng chất, sinh lực dân tộc bị phung phí vào đấu trường bày ra bởi những cường quốc chia hai phe quốc cộng tương tàn lẫn nhau. Vì chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai, miền Bắc gây ra cuộc chiến để bao nhiêu bi kịch xảy ra suốt mấy chục năm cho dân tộc. Thơ Nguyễn Bắc Sơn buồn như tâm sự mênh mang thiên cổ, của tấm lòng thi sĩ sinh bất phùng thời. Thơ là kết tinh từ nỗi đau gửi gấm lại cho đời những hằn dấu chung mang của cả một thế hệ. Thơ có chia sẻ chung của những con tim đập những nhịp đập của thời quốc biến vang dội từ tiếng trống thúc quân xa xưa đến âm vọng chinh phu chinh phụ bây giờ. Tôi thích thơ Nguyễn Bắc Sơn bởi lắng nghe một mẫu số chung của thời đại chúng tôi từ ngôn ngữ chân thành và nhịp điệu giục giã. Những người lính, không chỉ đơn thuần là những chiến sĩ mà là những con người tràn đầy tình cảm. Thơ nẩy sinh từ traí tim…

 

Trở lại bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng vẽ laị những hào hùng của những chàng trai Hà Nội. Theo lời nhà văn Mai Thảo khi còn sinh tiền hay kể về đơn vị đặc biệt này thì Trung đoàn Tây Tiến thành lập từ đầu năm 1947 gồm những chàng trai tiểu tư sản xuất thân từ thành thị. Họ xuất quân đi về phía biên giới Lào với những địa danh như châu Mai, châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng qua phía tây Thanh Hóa. Lính Tây Tiến có những học sinh cũ các trường Bưởi, Thăng Long, Bảo Hộ … như Quang Dũng, Vạn Thắng, Tuấn Sơn, Như Trang. .. Lại có những nhân vật đặc biệt như bác sĩ Phạm Ngọc Khuê, hay cô y tá nổi tiếng hoa khôi một thời của Hà Thành mỹ danh Phương Lan một thời đã làm rung động những trái tim trai trẻ….


Quang Dũng viết bài thơ trong cái hào khí một thời, chất ngất xúc cảm, đầy ắp không khí của Kinh Kha bên bờ Dịch Thủy:

 

“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”

 

Những câu thơ mang lại tai họa cho Quang Dũng. Những câu thơ mà ngày sau có người đọc lại bị lôi cuốn vào những xúc động trùng trùng. Thơ như những làn kiếm sắc, vút lên rồi loang loáng ánh trăng. Những ngôn ngữ có âm vang của đồng vọng thiên cổ, của những hy sinh vô bờ mà con dân nước Việt ra đi không tiếc nuối xác thân:

 

“.. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”

 

Tây tiến là một cuộc hành quân qua Lào từ ngõ Tây bắc để mở một mặt trận mới nhằm chia sẻ chủ lực của quân Pháp. Địa hình cực kỳ hiểm trở, và cuộc di hành đầy gian khổ đói rét. Trung đoàn Tây Tiến sau cuộc hành quân trở về bị hao hụt quân số trầm trọng. Nhưng, theo Đỗ lai Thúy thì nhan đề của bài thơ còn một ý nghĩa nữa :

 

“...Đó là một chuyến đi về phía Tây, phía núi, phía mặt trời lặn, phía, theo quan niệm dân gian, của những người chết. Không phải ngẫu nhiên mà xưa nay nghĩa địa làng, những làng ma đều ở phía tây. Và người chết đều được chôn chân về hướng núi, Tây Tiến như vậy, là từ (chìa khóa của bài thơ, bó lá dứa gai treo trước cổng những ngôi nhà tang tóc, điềm báo về cái chết. Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục bên súng mũ bỏ quên đời..”

 

Nhưng cũng có lúc, sự lãng mạn đã đưa suy tưởng đến vùng liên tưởng xa hơn không gian và thời gian hiện tại. Mơ mộng giống như một sự thúc đẩy như hình ành vườn lê thơm ngọt của Tào Tháo gợi ra khi cả đoàn quân đang khát nước đến cực độ. Con người chiến sĩ cùng với tâm thức thi sĩ đã vượt qua những khắc nghiệt của chiến tranh, những gian nan của thiên nhiện cheo leo hiểm ác. Một phản xạ lạc quan của những người vì lòng yêu đất nước mà quên mình:

 

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
kìa em xiêm áo tự bao giờ
khèn lên man điệu nàng e ấp
nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
người đi châu Mộc chiều sương ấy
có thấy hồn lau nẻo bến bờ
có nhớ dáng người trên độc mộc
trôi dòng nước lũ hoa đong đưa..

 

Những câu thơ diễn tả lại một tâm trạng của một thế hệ. Có câu thơ nào gợi lại cho chúng ta một cảm giác mạnh mẽ hơn câu thơ “áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành…” Chữ “gầm lên khúc độc hành” thật nhiều gợi cảm, thật nhiều liên tưởng đến những hình ảnh một thời hào hứng của đất nước chiến tranh.

 

Rồi câu “mắt trừng gởi mộng qua biên giới. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…“ lại bị phê bình là đầy chất tiểu tư sản mà mục tiêu nhắm đến của những cuộc đấu tranh giai cấp. Kháng chiến gian khổ mà còn nghĩ đến tình cảm lãng mạn ngại khó ngại khổ không chịu hy sinh!!!

 

Đảng chuyên chế muốn con người thành những bộ máy vô tri không yếu mềm tình cảm. Thành ra, chế độ ấy đã mang cơm áo làm vòng kim cô để trói buộc con người. Cũng như, những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường một đời trí thức thông minh tài hoa hết mực mà bị chế độ trù dập đến khi chết mà vẫn còn thấy “sợ “. Họ đánh vật với sinh kế chưa xong nói gì đến chuyện thực hiện những tâm đắc của đời mình. Một người như Nguyễn Tuân mà giới văn nghệ gọi là Nguyễn Bất Tuân với nhiều giai thoại cũng phải chịu khuất phục và thú nhận mình sống còn đến lúc đó là biết sợ.

 

Quang Dũng thời kháng chiến tài hoa là như vậy, anh dũng là như vậy mà sau này bị loại khỏi quân đội, làm một nhân viên có cấp bậc lương thấp kém nhất và lúc nào cũng lẩn quẩn với sinh kế, vật lộn đến hụt hơi với cái ăn cái mặc. Người ông to cao nên sức ăn cũng nhiều hơn người thường nên bị đói kinh niên. Thảm thương cho người thi sĩ khi qua một câu chuyện kể về một bữa ăn giữa Quang Dũng và Nguyễn Tuân. Khách là Quang Dũng ăn hết tám bát xôi thịt trong khi người mời là Nguyễn Tuân chỉ ăn có một bát. Và câu mời lễ phép “Thưa ông, ông dùng nữa ạ?” của tác giả Vang Bóng Một Thời Với câu trả lời bình thản của Quang Dũng “Vâng“ tới tám lần như một điệp khúc nhói đau, của những người sinh ra lầm thế kỷ. Một người văn võ toàn tài, biết võ nghệ, đánh kiếm, lại thơ văn trác tuyệt, thế mà cứ lủi thủi trong góc hẹp thành phố để có lúc phải thét lên trong Mây Đầu Ô:

 

Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi ! chật làm sao
Góc phố phường
Mây ở đầu ô
Hẹn những chân trời xa lạ…”

 

Cho nên, khi Quang Dũng được nghe những bài thơ như Đôi Bờ hay Đôi Mắt Người Sơn Tây được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc qua giọng hát Thái Thanh thì nước mắt lại ròng ròng vừa cảm khái vừa sợ sệt. Cũng như khi nghe ai đó tán thưởng câu thơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm “ thì thi sĩ lại chắp tay lại than thở “Tôi suốt một đời khổ vì những câu thơ này!”. Ôi một chế độ bạo tàn đã làm sĩ khí Bắc Hà chỉ còn như trong chuyện cổ tích. Đã xa xôi lắm rồi có phải những ngẩng cao đầu đứng dậy nhìn ánh mặt trời?… Thế mà vẫn còn những câu thơ sống mãi. Như bài thơ Tây Tiến, như Đôi Mắt Người Sơn Tây…

29.06.2009

@Internet

 


 

Hoa chanh
Bài thơ ít người biết của nhà thơ Quang Dũng

 

Hầu như giới thơ ai cũng biết tính đểnh đoảng trong việc lưu giữ bản thảo của Quang Dũng. Chả thế, khi nhà thơ ngã bệnh, NXB Tác phẩm mới muốn in tập thơ Mây đầu ô cho ông đã phải nhờ nhà thơ Trần Lê Văn “sưu tầm” các bài thơ của Quang Dũng tản mát ở các nơi như sưu tầm di cảo của một người đã mất. Hồi ấy Trần Lê Văn rất vất vả vì bạn. Nhưng độ tản mát của bản thảo quá lớn nên Mây đầu ô (1986, tập thơ in riêng duy nhất của Quang Dũng) chỉ in được 22 bài.

 

Nhà thơ Trần Lê Văn trong lời tựa tập thơ ấy đã phải viết: “Quang Dũng có một cái “tật”. Ấy là sự vô tâm, đãng trí, để thất lạc nhiều tác phẩm đã in và chưa in của chính anh. Khoảng những năm 1952-1953, anh viết một truyện ký về Tây Tiến, đọc nghe rất thích. Anh lại tự tay vẽ bìa và minh họa cho tác phẩm của anh. Bản thảo dày mấy xếp giấy học sinh, chẳng biết anh để vào đâu, tìm mãi vẫn không thấy.

 

Hiện nay, để có bản thảo cho tập Mây đầu ô này – nói không phải để kể công – tôi đã dành thì giờ “sưu tầm” thơ anh như người ta sưu tầm tác phẩm đã thất tán của những tác giả đời xưa. Những bài đã in chung với tôi trong tập Rừng biển quê hương đầu năm 1958 thì còn giữ được đã đành. Những bài đã in rải trên các sách bá cũng còn tìm được.

 

Đến những bài anh chỉ mới chép tay, chưa in ở đâu thì gay thật! May sao, tìm trong rương tủ nhà anh cũng còn được một ít. Nhất là nhờ sự giúp đỡ của anh Chiêu Dương (xin đừng lẫn với Triêu Dương, nhà lý luận phê bình văn học đã qua đời) tôi thu thập được tương đối đầy đủ. Chiêu Dương (Nguyễn Ngọc Chương) là một bạn làm thơ nghiệp dư và là bạn học cũ rất thân của Quang Dũng, rất trân trọng lưu giữ tác phẩm của bạn, bất cứ tác phẩm nào...”.

Thế mà, đến ngày 1/10/ 2002 lại chính ông Chiêu Dương (nay cũng đã mất) gửi đến tôi một lá thư nhắc đến ngày giỗ lần thứ 14 sắp tới của Quang Dũng, kèm theo bài thơ Hoa chanh với lời ghi chú:

 

“... Nhân dịp này tôi gửi đến anh bài thơ tình của Quang Dũng chưa in ở sách báo nào. Tác giả viết cách đây vừa 56 năm mà đọc thấy hãy còn tươi thắm trong tâm hồn...”. Tôi đã định sưu tầm thêm để có được một chùm “rơi vãi” của nhà nghệ sĩ vô tâm. Nhưng thời gian cứ trôi đi, e rồi chính tôi cũng làm rơi vãi thì thật có lỗi với độc giả và hương hồn nhà thơ, hôm nay tôi xin đưa ra công chúng kèm theo lời xin lỗi hương hồn hai ông Quang Dũng, Chiêu Dương và độc giả, đã để làm của riêng cho mình đến 5 năm trời!

 

Hoa chanh

 

Ngàn năm bèo đọng ở trên ao

Cô gái vườn chanh thắm má đào

Quê Việt Nam nằm trong bóng trúc

Dòng đời thoang thoảng suối hương cau

Sao buồn tiếng nhạc trong khung cửi

Dệt lụa quay tơ đã mấy chiều

Mười tám đôi mươi sầu dạ khách

Ngẩn ngơ tình lạc biết bao nhiêu

Cô gái vườn chanh thắm má đào

Chồng cô xa vắng đã từ bao?

Sớm chiều ao nước ru bèo ngủ

Tre trúc hoàng hôn ngả nhạc sầu

Mà đêm nay khuya hoa chanh thơm

Ta bên vườn vắng cũng âm thầm

Lắng hồn nghe nhạt từng hương cỏ

Dạ buồn như kẻ nhớ tri âm

Bên kia nhà cô, đây vườn chanh

Sớm chiều bóng dáng ngất ngây tình

Than ôi cách biệt vườn thơm ngát

Đời thấy u sầu trong đêm xanh

Đêm đóng quân ở La Cả

 

Năm đầu tiên kháng chiến - 1946

Quang Dũng

 

Các bạn thơ và các nhà nghiên cứu chả khó khăn gì để nhận ra hơi thơ còn vang bóng chưa xa một thời thơ mới (1932-1945), không tránh khỏi những sáo ngữ nhưng vẫn hé lộ nét tài hoa sẽ phát triển sau này của nhà thơ Quang Dũng: Sớm chiều ao nước ru bèo ngủ... Mà đêm nay khuya hoa chanh thơm...

 

21/3/2007

@suckhoedoisong.vn