|
Bi
Kịch TRỊNH CÔNG SƠN
Trịnh Cung
Tôi gặp Trịnh Công Sơn năm 1958 tại Huế. Lúc đó Sơn
khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng có
tâm hồn thi ca, và bởi lúc đó tôi chưa hề là một họa sĩ. Sơn thích
thơ của tôi và đã phổ bài Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu năm đó. Trước
đó, Trịnh Công Sơn đã viết Ướt Mi, Thương Một Người, và Nhìn Những
Mùa Thu Đi. Ngôn ngữ của Ướt Mi, Thương Một Người, và Nhìn Những
Mùa Thu Đi còn nhẹ nhàng và còn có điều gì đó ảnh hưởng của Đặng
Thế Phong trong Giọt Mưa Thu hoặc Buồn Tàn Thu của Văn Cao. Nhưng
đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương
khác do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới.
Tôi đã dùng những chữ "đói" và "mỏi"
trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó. Tuy nhiên theo tôi,
bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một Trịnh Công Sơn hoàn toàn
mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó. Cuộc đời
của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup
Laubat, một trường dạy chương trình Pháp, và đang chuẩn bị thi Bac
thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất
được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về nhu đạo và boxing. Trong
một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà, anh đã bị một cú choàng
vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng
bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn
sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, chứ
không phải là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tôi cho biến cố đó đã đặt
Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare,
tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc Ướt Mi",
Nhìn Những Mùa Thu Đi.

Hình chụp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (dấu "x") cùng một
số diễn viên trong phim Ðất Khổ năm 1971.
(HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm)
Khi tôi gặp Sơn thì anh đã bình phục. Sơn không có
điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia
đình anh bị phá sản. Sau đó để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch,
một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào
trường Sư Phạm Qui Nhơn. Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường Sư
Phạm Quy Nhơn trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển
Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày
mai nối bước Sơn Khê."
Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một
trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn
phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn ra Đà
Lạt để chơi cuối tuần, một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim
và bao thuốc lá Bastos. Ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của
anh với những bài như Đàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ
Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những
ca khúc về thân phận, và những tình khúc. Đó chính là thời điểm
tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Đà Lạt.
Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và
làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh
Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người
để tặng cho chị với câu "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt
đôi vai..."
Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc
của Trịnh Công Sơn trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly
kể từ khi ca khúc Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ
trông rất là nhút nhát ở Đà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm
một người ca sĩ trẻ, hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát
của Khánh Ly với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không
quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn
là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định
mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly, và từ đó cô đã tìm được nơi
nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.
Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học,
một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có
căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Đà Lạt về và
đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương
Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng, cũng trong một cái
xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của Trịnh Công Sơn khi
anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Đinh Cường một trong những người bạn
rất thân với Sơn, cũng thường ghé đến đó. Đôi khi ba chúng tôi ngủ
chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền
dạy học của tôi.
Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt
đầu xuất hiện tại sân trường Đại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn
nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS
nơi mà Đỗ Ngọc Yến, Trần Đại Lộc, Hà Tường Cát đã hoạt động chương
trình mùa hè ở đó.
Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu ca sĩ Khánh Ly
và chị đã đi chân trần và hát cho sinh viên nghe. Rất nhanh họ trở
thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ
trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng
âm nhạc ngay lúc đó.
Phong trào du ca của anh Nguyễn Đức Quang đã ra đời
cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử, thật sự
bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi, hội họa
sĩ trẻ Việt Nam. Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng
như vậy và Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi
bật trong giới trẻ bấy giờ. Trịnh Công Sơn, nối tiếp cao trào, đã
đơn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi
với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi
đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này.
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn, ở một số ca khúc,
là nhạc phản chiến. Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản
chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe
ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại
của Miền Nam. Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt
thì khái quát hơn.
Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn
đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng
cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn
kết, cho sự thương yêu, và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và
có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Đại Học. Nhưng tuổi trẻ
không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị, cho nên
sự hồn nhiên đó đã phải trả giá.
Trịnh Công Sơn viết những bài Nối Vòng Tay Lớn, Huế
Saigon Hà Nội 20 Năm Xa Vẫn Còn Xa để làm gì? Để ước mơ đất nước
hòa bình thống nhất, để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người
di cư đẵ viết về "Hà Nội ơi ta nhớ..." thì rõ ràng không
ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn
gặp lại người thân, thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác thánh
giá với bao nhiêu bi kịch sau đó.
Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh.
Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tôi chấp nhận
đi Thủ Đức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công
dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền
đó có thối nát, có gì đi nữa, tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp
cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì
khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của
mình. Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do
thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác. Vì vậy cho nên chúng tôi vẫn
chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó
đeo đuổi riêng của họ.
Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Sơn ở lại. Tôi nhớ
buổi chiều đó, Đỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị
Sơn đi, có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa
Kỳ nhưng mà Đỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng
đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.
Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời
khỏi đất nước ngày 30 tháng 4 năm 1975, có lẽ các bạn không biết
chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh
tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm
nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là
bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng
viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Đại Tá Lưu Kim Cương
và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến Từng Ngày trong ca khúc
Gia Tài Của Mẹ, thì điều đó người Cộng Sản không chấp nhận. Tôi
nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.
Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có
những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi
nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ
giúp đỡ mình. Nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng
hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên.
Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mìn, mà người ta gọi
là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính
Sơn kể cho tôi nghe, Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói
phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?
Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát.
Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong
nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người
nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng
còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần. Một
con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.
Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên
trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan
hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn
khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn
về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên
tâm sống ở Sài Gòn.
Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ
miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám
công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn
không được phổ biến âm nhạc lúc đó, hiển nhiên âm nhạc hải ngoại
là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một
thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch
thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu
chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời
ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng
đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến
ngày Sơn mất. Có người đã đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho
Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.
Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi
cũng kẹt ở lại. Tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được
cho Sơn, để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức
là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử
dụng thời gian để làm gì vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình
nặng nề như bài Em Ra Đi Nơi Này Vẫn Thế ở bên này cũng kết án bài
đó, ở bên kia lại kết án là "tại sao đất nước đã thay da đổi
thịt mà anh lại viết là Em Ra Đi Nơi Này Vẫn Thế? Sài Gòn vẫn còn
nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn. Có ai hiểu
được là Sơn cô đơn như thế nào.
Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh
ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của Trịnh Công Sơn sau ngày mất
nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới
..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự
bất an của mình. Đó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không
hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước năm 1975 để chỉ chấp
nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng
nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.

Hình chụp vào tháng 12 năm 1983: Trịnh Công Sơn sinh hoạt tại
nhà Thái Bá Văn với sự hiện diện của nhạc sĩ lão-thành Văn Cao (áo
đen), Trần Long Ẩn, cùng một số thân hữu và bạn bè.
(HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm)
Ngay cả bài Nhớ Mùa Thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai
năm chỉ vì câu, chỉ vì câu gì các bạn biết không: Mùa Thu. Chữ Mùa
Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu, thì Trịnh Công
Sơn đ viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta... đi giữa
mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi người ..."
Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và
từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường
của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái
gì? Đó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc [hải ngoại]
về. Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đ bị cấm
hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh
thần như thế nào? Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi ly mình,
khoan kết án người khác sai hay đúng, bởi vì trong chúng ta cũng
đều bị lừa dối. Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa
dối về chính trị, thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng
trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với
con người.
Tôi xin kết thúc ở đây, để dành thời gian cho các
bạn khác, tôi là một người bạn, là một nhân chứng sống trong nhiều
năm với Trịnh Công Sơn. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi
đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi
với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói
với nhau một vài thông tin về bạn bè, rồi đi về. Sơn ngồi ở cái
vườn trên góc nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa
giấy, nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đà nhìn Sơn
tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối
ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng
có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều,
tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ,
đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc
đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên
đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én. Rồi
đi Về.
Sơn thèm đi ra phố. Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi
vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ
cho nên "Chiều một mình qua phố..." hay "Chiều chủ
nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu..." Đó là đời sống của
chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn, hôm
nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một
bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh
thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn
thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đà chết vì cơn bịnh này.
Trịnh Cung
Ngày 4 tháng 4 năm 2001
Little Saigon, California.
GHI CHÚ: Transcript được ghi lại từ băng ghi hình
buổi sinh hoạt tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tổ chức ngày 4 tháng 4
năm 2001, tại phòng sinh hoạt Người Việt, Little Saigon, miền nam
California.
Source: VNVTLS
Trịnh Công Sơn &
Tham Vọng Chính Trị
Trịnh Cung
LTS:
“Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của họa sĩ Trịnh
Cung nhất định sẽ được đón nhận với nhiều phản ứng khác nhau từ
nhiều tầng lớp độc giả. Bài viết đưa ra một số nhận xét của cá nhân
Trịnh Cung về người nhạc sĩ tài hoa, sống và sáng tác trong một
giai đoạn vô cùng điêu linh của đất nước, cùng với một số tư liệu
đã được công bố ở một số nơi. Tác giả Trịnh Cung tất nhiên đã dự
kiến được những gì bài viết này có thể mang đến cho chính ông khi
ông viết: “Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm,
sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật
được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ
cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm
qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi
suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức
cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải
phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.”
Tạp chí Da Màu trân trọng ghi nhận tinh thần
trách nhiệm của hoạ sĩ Trịnh Cung, và bài viết được đăng tải với
ước muốn tạo cơ hội làm sáng tỏ những ngóc ngách trong đời sống
của một nghệ sĩ tài hoa nay đã thành người thiên cổ.
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001.
Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng
này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương)
và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên
không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham
vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người
nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa
cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người
của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công
Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập
đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay
như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một
“đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của
Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc
phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào
cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến
Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ
& Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?
Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên
của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai
100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc
phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời),
và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh
niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính
cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến
ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra
Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn
Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự
đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu
những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải
được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha - người bạn cùng
chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ
của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974)
- chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn
của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan
hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật
phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không
có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem
thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn
Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

co-nghe-ra-dieu-gi
Thủ bút Trịnh Công Sơn trong bài “Có Nghe Ra Điều Gì”
gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973
Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái
nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và
cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính
dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác
giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho
lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.
Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy
năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn
tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận
về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu
vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không
ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy
biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật
Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp
mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi
mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật
Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân
đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối - Hiệu trưởng Trường CĐMT
Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của
Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng
phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh
cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể
đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong
trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt
Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi
mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành
Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng
đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng
ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không
hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống
ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa
tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời
đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên
này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã
còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn
được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm
Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc
sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào
rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.
Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng
đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?
Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một
hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao
khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường
ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết
của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức
là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống
Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc
Tường trong Căn Nhà Của Những Gã LangThang:
“…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng,
thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những
người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt
chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly
khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều
kiện cho tôi thoát…”.
Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng
bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai
Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói
ở trên. May mà tôi đã từ chối.
Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện,
ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây
chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức
về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho
quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau
đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả
bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình
Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục,
đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về
một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự
chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không
có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng
Miền Nam!”.
Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!
Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm
Quyền?
Vỡ mộng chính trị cầm quyền
Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng
hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu
và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong
số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần
sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt
lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS
từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách
văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai
TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận
2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được
chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân
GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không
buông súng.
Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành
phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia
công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu
Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng - người bạn chính trị không
lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính
trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động
cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và
với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống
đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà
TCS nhiều tháng trước như một người em rể.
Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc
này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận
với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có
một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn
Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó
TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.
Một chút về Nguyễn Hữu Đống
Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc
Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt
đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi
không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự
xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với
tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin
về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những
ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên
chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn
Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt
biên và định cư ở Pháp.
Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về
Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật
ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng
qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi
anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong
những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là:
Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng
(lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như
một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình
Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết
Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975
và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiện Tín ở Thủ Đức,
nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài
năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn
Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS
thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm
Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt
ủng hộ?
(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn
Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú
cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc
Xuân về TCS).
Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát
Trong Xã Hội CSVN
Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”
Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui
mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay
trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”.
Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho
đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc
về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn.
Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát
Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch
sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy
hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị
Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng
Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: ”Mày có
tư cách gì mà hát ở đây!”…
Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người
“anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong
anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện
thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt
đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng
trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng
Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh
sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em”
càng sớm càng tốt.
Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ
quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của
Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng
phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc
họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm
có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập,
Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.
Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn
Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình
sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi
Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những
”người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên
thân.
Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ
- Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì
cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ
được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình
Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ
tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị
Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế!
Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều
nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ
Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang
phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che
cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc Gia
Tài Của Mẹ với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm
đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc Cho Một
Người Nằm Xuống để thương tiếc Lưu Kim Cương - đại tá không lực
VNCH chết bởi đạn của quân GPMN - người bạn một thời đã từng dùng
máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại,
đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?
Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và
công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong
trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi
sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng
ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ
Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực
tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn
gì một người phải chịu cải tạo.
Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2
Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng
nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu
tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế
với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong
mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất
hiện, ông Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản
Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại
Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê
tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho
nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây,
dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ
nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập
với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.
Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm
với người CS như sau:
- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN
và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của
tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.
Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:
- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong
vụ Tết Mậu Thân ở Huế.
- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng
tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt,
nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy
của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian,
nhiều sĩ quan VNCH che dấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn
tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra
sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng
Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ
tên.
Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”
Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh
Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp
lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng
hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc
Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng
là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi
cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ
quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người
thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt
những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình
tẩy chay ngầm.
Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra
từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này,
hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc
họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi
là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không
trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có
cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà,
và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn
Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ
mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự
số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một
dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước
khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường
sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã
làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là
sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”.
Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh
Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo
nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của
nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều
năm trước.
Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng
muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng
mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề
có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ
khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75,
8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần
chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn
đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu
thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường
đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi.
Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới
nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác
sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo
ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình
cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập
tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm
với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…
Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh,
tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó
chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được
hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự
cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những
tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và
xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ
danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố
chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng
thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè,
quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên
đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là
chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi
cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng
là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi
bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc
khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.
Điều Đáng Tiếc
Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài
Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như
thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế
độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ
tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc
tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con
đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô
độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa
nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại
sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không
viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích
vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không
phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái
bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương
của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn
nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều
làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái
bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ
cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn
cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do
thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều
là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ
đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng
có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng
của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu
vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất
nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày
nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm
ra thời cuộc, nên tôi đã nghẹn họng.
Ảo Tưởng Cuối Cùng
Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong
độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ
nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội
Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập,
Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người
Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh
trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của
công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS
cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi
hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,…
trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu),
người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp
tục nhìn TCS như một kẻ xấu.
Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được
tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ
mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng?
Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không
nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng
vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế.
Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu
ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với
TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích
ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản
của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc
TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần
bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng
vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM:”Mày là thằng
mặt ***!”.
Đã không những không được vào đảng, TCS còn được
cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ - ảo tưởng cuối cùng của
anh.
Cái Chết - Vinh Quang Đích Thực
Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường
dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay
nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực
cho anh - vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.
Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng
bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa
anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới
cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công
Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một
lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt
với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng
ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước
đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ
đông người tại Mỹ.
Lời Kết
Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương
tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm
lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết
về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa
ai viết hoặc viết một cách có hệ thống.
Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình
cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân
vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao
giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều
năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong
tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký
ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là
giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.
Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết
này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện
về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng
chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có
thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại
và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên
tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với
nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có
thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng
lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại
cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ
sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi
đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.
Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết
này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những
tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến
trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu
sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi
những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch
sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do
nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm
những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản
biện.
Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống
sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những
sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại
nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong
sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết
có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn
nào khác.
Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG
Tư liệu tham khảo
1. Như Những Dòng Sông, Hoàng Tá Thích, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 2007.
2. Trịnh Công Sơn, Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ , Hội hoạ & Suy tưởng,
Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn, 2005.
3. Thư TCS gửi Ngô Kha, nguồn: http://www.gio-o.com
4. Sự thực Thư Gửi Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, phần phỏng vấn Lê Khắc
Cầm, nguồn: http://www.gio-o.com
5. Có nghe ra điều gì, Thủ bút của TCS nói về trách nhiệm của mình
với đám đông (Tư liệu của Bác sĩ, nhà văn Thân Trọng Minh - Lữ Kiều).
http://damau.org/archives/5055
TRỊNH CÔNG SƠN, anh
đã đến trần gian để làm gì?
Đào Hiếu
Nhân đọc bài viết “Trịnh Công Sơn và tham vọng
chính trị” của Trịnh Cung đăng trên website damau.org ngày 01.4.2009
Trịnh Cung là một họa sĩ nhưng anh viết văn thật
hay, thật chuyên nghiệp. Bài viết đã cung cấp những tư liệu sinh
động, ấn tượng mà có thể trước đây nhiều người chưa biết đến.
Tuy nhiên tôi hoàn toàn không ngạc nhiên sau khi
đọc xong bài viết ấy. Bởi vì những kiểu văn nghệ sĩ như Trịnh Công
Sơn ở Việt Nam thiếu gì.
Những nghệ sĩ giàu tình cảm, chống chiến tranh, có
cảm tình với MTGPMN, đôi khi cũng muốn làm một chàng hiệp sĩ… Nhưng
chiến tranh không phải vậy. Chiền tranh là hy sinh, đổ máu, là ngục
tù. Chiến tranh còn là thủ đoạn, thanh toán nhau, phủ nhận nhau,
loại trừ nhau… Trịnh Cung kể rằng ngày 30.4.75 có một ông nhạc sĩ
đã “đuổi” Trịnh Công Sơn ra khỏi phòng thu Đài phát thanh Sài gòn
là một ví dụ nhỏ nhưng khá điển hình.
Qua bài viết của Trịnh Cung tôi thấy không có gì
quan trọng, không có gì để trách cứ, lên án Trịnh Công Sơn, trái
lại càng thương anh. Cũng như bao nhiêu người giàu tình cảm khác,
rất nhẹ dạ, cả tin, cộng với một chút háo danh, một chút “cơ hội”…gộp
lại thành một cái bi kịch nho nhỏ.
TCS không có lỗi gì cả. Anh chỉ có một tấm lòng.
Và anh tưởng bở. Tưởng rằng mình có tài, mình nổi tiếng thì sẽ được
trọng dụng, có biết đâu rằng chế độ mới không cần “tài”, không cần
“nổi tiếng” họ chỉ cần anh có phải đảng viên hay không. Nếu anh
đã là đảng viên rồi, lại còn phải xét xem anh có ăn cánh không thì
mới được tin dùng.
Đừng nói Trịnh Công Sơn chỉ là “quần chúng” cảm tình
khơi khơi… ngay cả cộng sản thứ thiệt như Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Hộ,
Hùynh Tấn Mẫm… cũng vẫn “tưởng bở” như thường. Và sự “tưởng bở”
ấy đã dẫn họ đến những kết cục rất bẽ bàng.
Bi kịch của TCS là bi kịch tưởng bở. Tội cho anh,
thương cho anh. Anh chẳng bao giờ là cộng sản. Anh không có trong
tổ chức của Đảng, của Đoàn hay của cái quái gì cả. Anh chỉ là một
nhạc sĩ tài năng và rất mong manh. Gán cho anh bốn chữ “tham vọng
chính trị” tôi thấy vừa buồn cười vừa “ép người quá đáng”.
Chuyện TCS có ý định tham gia chính phủ Dương Văn
Minh chỉ là chuyện tào lao (chính ông Lý Quý Chung cũng đã xác nhận
điều đó). Ông Nguyễn Trần Thiết, một nhà văn miền Bắc, trong suốt
tác phẩm dày hơn 1000 trang viết về Dương Văn Minh (do tôi biên
tập) cũng không hề có dòng nào nói đến chuyện TCS có ý định tham
gia chính phủ Dương Văn Minh.
Sau ngày 30.4.75 rõ ràng là có một cái “mốt việt
cộng nằm vùng”: nữ nghệ sĩ Kim Cương cũng đại tá việt cộng, Thanh
Nga cũng vi-xi, trung tướng Nguyễn Hữu Có cũng tình báo cộng sản,
rồi bây giờ đến lượt Trịnh Công Sơn. Bài viết của Trịnh Cung đã
góp phần tạo ra một ảo tưởng “nhà nhà làm tình báo, người người
làm tình báo.” Thực ra không phải như vậy. Thực ra cộng sản thì
ít mà ham vui thì nhiều. Chàng nhạc sĩ họ Trịnh của chúng ta cũng
thuộc “típ” ham vui đó.
Còn việc sau này (trong “thập niên 90”) TCS hỏi ý
kiến Trịnh Cung xem có nên vào Đảng hay không cũng chỉ là chuyện
trẻ con. Chắc chắn có vài người trong Hội Nhạc sĩ đã gạ anh, dụ
anh vào Đảng để Đảng được dựa hơi danh tiếng anh, và để Đảng khoe
với dư luận thế giới rằng “chúng tôi rất thoáng, biết tôn trọng
nhân tài”. Thế thôi, nào phải TCS muốn vào Đảng.
Chúng ta đừng làm cho sự việc trở nên nặng nề, vì
thực chất trường hợp TCS rất đễ hiểu, rất nhẹ nhàng. Còn việc TCS
sáng tác bài “Cho một người nằm xuống” cho Lưu Kim Cương chẳng qua
là vì ông ta đã tạo điều kiện cho Sơn khỏi phải tham dự vào một
cuộc chiến tương tàn nhảm nhí.
Đừng nghĩ rằng TCS là một con người chính trị,
hãy hiểu rằng Thượng đế đã mời Trịnh Công Sơn xuống trần gian để
làm nhạc sĩ. Vì thế không việc gì anh phải “khí tiết cách mạng”,
phải kiên định lập trường vì một phe phái nào. Anh chỉ cần yêu người,
yêu đời, thậm chí anh chỉ cần “mê gái” và sáng tác cho chúng ta
những ca khúc về những tình yêu ấy cũng đã là điều vĩ đại rồi.
Hiểu Trịnh Công Sơn như thế thì ta sẽ đón nhận bài
viết của Trịnh Cung một cách nhẹ nhàng.
Một nhạc sĩ có thể viết được một câu tuyệt vời như:
“Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn” thì chuyện vào Đảng, chuyện chính
trị chính em cũng chỉ là miếng giẻ rách mà người nhạc sĩ tài hoa
tình cờ gặp phải trên đường “tìm lại bên sông những dấu hài.”
Nguồn: Đào
Hiếu
Lời
phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
trên
đài Sài Gòn trưa ngày 30.4.1975
Bùi văn Phú
1.04.2011
Bùi Văn Phú ghi lại
Tài liệu âm thanh kèm theo đây là tuyên bố đầu hàng của Tổng
thống Dương Văn Minh vào trưa ngày 30.4.1975. Tiếp theo là lời của
ông Nguyễn Hữu Thái, cựu lãnh đạo sinh viên miền Nam; lời chấp nhận
đầu hàng của một sĩ quan Quân đội Nhân dân. Rồi ông Nguyễn Hữu Thái
giới thiệu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước khi nhạc sĩ phát biểu.
Nghe bản ghi âm:
hoặc tải xuống máy
(bấm nút chuột phải trên những dòng này,
chọn Save Linked Content As…)
Nguyên văn phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:
Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói
chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này.
Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta,
đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt
Nam này.
Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do
và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết
quả đó.
Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam (không rõ)
hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt
Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.
Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng
ta ở trên đất nước chúng ta.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt
đẹp. Các bạn không có lí do gì sợ hãi để phải ra đi cả.
Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất
và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước
từ mấy chục năm nay.
Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen
với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng
Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất miền Nam Việt Nam này
(Không rõ) Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời.
Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh
Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sãn sàng để đến đây góp tiếng
nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả
các anh em sinh viên học sinh của miền nam Việt Nam này hãy yên
ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn
bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến.
Xin chấm dứt. Và tôi xin hát một bài. Hiện tại ở trên đài thì không
có đàn ghi-ta. Tôi xin hát lại cái bài “Nối vòng tay lớn”. Hôm nay
thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết.
Rừng núi giang tay nối lại biển xa
ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà (vỗ tay)
mặt đất bao la anh em ta về
gặp nhau mừng như bão cát
quay cuồng trời rộng biển xanh (bàn tay)
ta nắm nối liền một vòng Việt Nam
Cờ nối gió đêm vui nối ngày
giòng máu nối con tim đồng loại
dựng tình người trong ngày mới
thành phố nối thôn xa vời vợi
người chết nối linh thiêng vào đời
và nụ cười nối trên môi
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo
từ quê nghèo lên phố lớn
nắm tay nối liền
biển xanh song gấm nối liền một vòng Việt Nam
biển xanh song gấm nối liền một vòng Việt Nam
Xin chấm dứt.
@ damau.org
Nghe bản ghi âm ở đây: GHI
ÂM
|