|
THI CA
Đời Sống Nông Nghiệp
- Các Tập Tục Cũ
Doãn Quốc Sỹ sưu tầm
100. VĂN CHƯƠNG PHÚ LỤC CHẲNG HAY
Văn chương phú lục chẳng hay,
Trở về làng cũ, học cày cho xong.
Sớm ngày vác cuốc thăm đồng,
Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên.
Hết mạ ta lại quảy thêm,
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong.
Nữa mai lúa chín đầy đồng,
Gặp về đập sảy bõ công cấy cày.
101. LÀNG TA PHONG CẢNH HỮU TÌNH
Làng ta phong cảnh hữu tình,
Dân cư giang khúc như hình con long.
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
Vụ năm cho đến vụ mười,
Trong làng kẻ gái người trai đua nghề.
Trời ra : gắng, trời lặn: về,
Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên *.
Dưới dân họ, trên quan viên.
Công bình giữ mực cầm quyền cho thay.
Bây giờ gặp phải hội này,
Khi thời hạn hán, khi hay mưa dầm.
Khi thời gió bão ầm ầm,
Đồng điền lúa thóc mười phần được ba.
Lấy gì đăng nạp nữa mà,
Lấy gì công việc nước nhà cho đang.
Lấy gì sưu thuế phép thường,
Lấy gì bổ trợ đong lường làm ăn.
Trời làm khổ cực hại dân,
Trời làm mất mát có phần nào chăng.
(*) Truân-chuyên : gian nan, vất vả.
102. KHÓ THAY CÔNG VIỆC NHÀ QUÊ
Khó thay công việc nhà quê,
Cùng năm khó nhọc dám hề khoan thai.
Tháng chạp thời mắc trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi.
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sang tháng sáu nước trôi đầy đồng.
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng sá kể sớm trưa.
Tháng sáu, tháng bảy khi vừa,
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
Tháng tám lúa rỗ đã đành,
Tháng mười gặt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời,
Lại còn mưa nắng bất thời khổ trông.
Cắt rồi nộp thuế nhà công,
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
103. THÁNG CHẠP LÀ THÁNG TRỒNG KHOAI
Tháng chạp là tháng trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng.
Ai ai cùng vợ cùng chồng,
Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay.
Tháng năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy.
Năm nong đầy em xay em giã,
Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.
Sang năm lúa tốt tiền nhiều,
Em đem đóng thuế, đóng sưu cho chồng.
Đói no có thiếp có chàng,
Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.
CHÚ THÍCH: Cả hai bài “Khó thay công việc nhà quê”
và “ Tháng chạp là tháng trồng khoai” đều nói lên những nỗi cực
nhọc quanh năm của nhà nông. Thực là ăn nhịp với những câu ca dao
khác:
Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi đổ xuống như mưa ruộng cày.
hay:
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
104. THÁNG GIÊNG LÀ THÁNG ĂN CHƠI
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Tháng ba thì đậu đã già,
Ta đi, ta hái về nhà phơi khô.
Tháng tư đi tậu trâu bò,
Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm.
Sớm ngày đem lúa ra ngâm,
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.
Gánh đi, ta ném ruộng ta,
Đến khi nên mạ, thì ta nhổ về.
Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê,
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ-ngơi.
Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,
Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai.
Ruộng thấp đóng một gàu giai,
Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Bây giờ ta sẽ trả công cho người.
Bao giờ cho đến tháng mười,
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt hái ta đem về nhà,
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.
CHÚ THÍCH : Bài này tuy cũng nói lên những cực nhọc
quanh năm của nhà nông nhưng cũng còn được một tháng hưởng lạc:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
105. MỘT NĂM CHIA MƯỜI HAI KỲ
Một năm chia mười hai kỳ,
Thiếp ngồi, thiếp tính khó gì chẳng ra.
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai rỗi-rãi quay ra nuôi tằm.
Tháng ba đi bán vải thâm,
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về.
Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô.
Chín mười cắt rạ đồng mùa,
Một, chạp vớ được anh đồ dài lưng.
Anh ăn rồi anh lại nằm,
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Chẳng thà lấy chú lực điền,
Gạo bồ, thóc giống còn phiền nỗi chi.
CHÚ THÍCH: Đời sống người nhà quê trong bài này đã
thấy thoải mái hơn tình cảnh tả trong bốn bài trước nhiều, vì bên
lợi tức công việc đồng ruộng còn thêm lợi tức những công việc phụ
khác, chăm tằm, buôn vải, buôn bè. Đời sống luân lưu trong một năm
như vậy vừa bớt vẻ cơ cực, vừa bớt vẻ nhàm chán của một công việc
duy nhất.
106. THÁNG GIÊNG CHÂN BƯỚC ĐI CÀY
Tháng giêng chân bước đi cày,
Tháng hai vãi lúa ngày ngày siêng năng.
Thuận mưa lúa tốt đằng đằng,
Tháng mười gặt lúa ta ăn đầy nhà.
107. THÁNG GIÊNG ĂN TẾT Ở NHÀ
Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội-hè.
Tháng tư đong đậu nấu chè,
Ăn tết đoan ngọ trở về tháng năm.
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm,
Tháng bảy hôm rằm, xá tội vong nhân.
Tháng tám chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng chín chung chân buôn hồng.
Tháng mười buôn thóc, bán bông,
Tháng một tháng chạp nên công hoàn thành.
CHÚ THÍCH: Sự hưởng lạc và phú túc của người nhà
quê đi buôn thật trái ngược đến như thành mỉa mai với đời sống của
những người nhà quê theo nghề nông thuần túy.
108. TRỜI CHO CÀY CẤY ĐẦY ĐỒNG
Trời cho cày cấy đầy đồng,
Xứ nào xứ nấy trong lòng vui ghê.
Một mai gặt lúa đem về,
Thờ cha kính mẹ nhiều bề hiếu trung.
109. ƠN TRỜI MƯA NẮNG PHẢI THÌ
Ơn trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
Công lênh chẳng quản lâu lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.
110. TRÂU ƠI TA BẢO TRÂU NÀY
Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
111. RỦ NHAU ĐI CẤY ĐI CÀY
Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
112. MỘT QUAN TIỀN TỐT MANG ĐI
Một quan tiền tốt mang đi,
Nàng mua những gì hãy tính cho ra.
Thoạt tiên mua ba tiền gà,
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.
Trở lại mua sáu đồng cau,
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng.
Có gì mà tính chẳng thông,
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi.
Ba mươi đồng rượu chàng ôi,
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.
113. AO TO TA THẢ CÁ CHƠI
Ao to ta thả cá chơi,
Hồ rộng nuôi vịt, vườn khơi nuôi gà.
Quanh năm khách khứa trong nhà,
Ao vườn sẵn đó lọ là tìm đâu.
114. LÍNH THÚ THỜI XƯA
Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.
Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
115. BA NĂM TRẤN THỦ LƯU ĐỒN
Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai.
Miệng ăn măng trúc măng mai,
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng?
Nước giếng trong cá nó vẫy vùng.
116. SÚC SẮC SÚC SẺ
Súc sắc súc sẻ,
Nhà nào, nhà này,
Còn đèn, còn lửa,
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào.
Bước lên giường cao,
Thấy đôi rồng ấp.
Bước xuống giường thấp,
Thấy đôi rồng chầu.
Bước ra đàng sau,
Thấy nhà ngói lợp.
Voi ông còn buộc,
Ngựa ông còn cầm,
Ông sống một trăm,
Thêm năm tuổi lẻ,
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành.
Những con như tranh,
Những con như vẽ *
(*) Người ta thường đọc câu này là “những con như
rối”.
CHÚ THÍCH : Khoảng nửa đêm ba mươi tết trẻ con nhà
nghèo đi thành từng bọn đến cửa các nhà xin tiền. Đứa đi đầu cầm
một cái ống đựng tiền đã xin được lắc lên, lắc xuống thànhg tiếng
“súc sắc”, vừa lắc vừa hát bài chúc tụng này.
ducavn.com
|