|
PHONG TỤC TẬP QUÁN
Tà Áo Bay Bên Trời
Quê Đất Khách
Hoàng Huy Giang
Nơi
tôi sống trời đang vào tháng tư. Tháng của những ngày thu vương
vấn nhuộm chút bâng quơ để cho những con đường chong chanh trong
bộ áo vàng hoe của lá chẳng mấy chốc chuyển sang một màu đỏ tía,
thẫm lịm lối đi.
Màu đỏ của lá chợt hừng lên dưới trời chiều hanh
hanh chút nắng, vội vàng ẩn mình khi hoàng hôn xuống vội. Và cơn
gió sang mùa không ngần ngại cuốn nhanh những chiếc lá vàng đỏ xào
xạc cuống quít bước chân.
Tôi thả bộ dọc theo con đường ra bãi đậu xe.
Tiếng gió rì rào ve vãn bên tai như niềm vui đang
hiện hữu nơi tôi. Tôi đưa một bàn tay lùa nhẹ mái tóc còn bàn tay
kia níu vội tà áo chực tung bay theo gió về một khoảng không vô
định.
Áo dài và tôi. Áo dài và gió. Sự dằng co giữa tôi
và gió tạo thành một niềm vui bưng bít trong lòng.
Xa quê hương người ta thường nhớ đủ thứ. Nhớ những
người thân yêu. Nhớ nhà cửa, nhớ con đường xưa đã bao lần đi qua,
nhớ bạn bè của thời đánh đinh, đánh đáo. Và trong tôi cũng vậy.
Một khi cơn nhớ cuộn lên như sóng lớp thủy triều thì ôi thôi bao
nhiêu là nỗi nhớ ồ ạt trở về.
Từ những ngày ấu thơ đến những ngày mới lớn. Từ những
hàng phượng đầu mùa đầy ắp nụ non đến những con đường hiu hắt ánh
đèn đêm. Biết bao hình ảnh lần lượt lướt qua ký ức.
Thật vậy! Bất cứ cái gì của Sài Gòn, của những ngày
xa xưa tôi đều nhớ cả. Càng nhớ bao nhiêu, tôi lại càng yêu Sài
Gòn bấy nhiêu.
Mà yêu Sài Gòn bao nhiêu thì tôi lại càng trân quý
chiếc áo dài bấy nhiêu. Thế là tôi trở về tìm kiếm trong tôi hình
ảnh cố hữu của chiếc áo mà xa quê hương rồi tôi mới thấy quý nó
thật sự.
Mỗi quốc gia trên thế giới, kể cả những bộ lạc ở
những nơi thâm sơn cùng cốc đều có sắc phục riêng của họ.
Đối với phụ nữ Việt Nam, chiếc áo dài là một trang
phục và cũng là một sắc phục thật độc đáo vì nó mang đủ các tính
chất: kín đáo, sang trọng, trữ tình, lãng mạn, thanh nhã, thướt
tha, dịu dàng mà chị em phụ nữ Việt hẳn phải hãnh diện mỗi khi mặc.
Chiếc áo dài mà ngày nay mỗi lần được dịp mặc là
mỗi lần tôi thấy cả một khoảng trời xanh của thời con gái, của lứa
tuổi đôi mươi, của quãng đời xuân sắc được dịp sống lại trong tôi.

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, lúc ấy chắc tôi chỉ chừng sáu
hoặc bảy tuổi, mỗi lần thấy người chị họ của tôi ghé chơi sau buổi
chiều tan học, tha thướt dáng nét yêu kiều trên chiếc xe Velo Solex
là tôi cũng lục đục bày trò chơi mặc áo dài và lái xe sắt.
Tôi lấy hai chiếc ghế lùn, bằng sắt, cao khoảng ba
tấc, đặt nối đuôi nhau và gác một chiếc ghế con bằng gỗ mà mẹ tôi
vẫn ngồi nhặt rau, vào giữa hai chiếc ghế sắt làm yên xe. Rồi tôi
lấy hai chiếc khăn tắm, một quàng vào trước ngực và một quàng vào
sau lưng để làm áo dài.
Thế là tôi có được chiếc áo dài làm bằng khăn lông
với hai tà áo lết phết dưới đất. Tuy hơi dài quá khổ nhưng tôi cũng
có được chiếc áo dài như ai. Sau vườn nhà tôi có một cây chuỗi ngọc,
quanh năm lá luôn xanh và hoa nhỏ màu tím thẫm từng chùm bốn mùa
nở rộ.
Mùi hoa thơm thoang thoảng như mùi bánh khảo luôn
mời gọi những chú ong bướm say tình bay lượn. Về phía con gái, tôi
là nhỏ nhất nhà nên ba tôi thương tôi lắm. Cứ mỗi lần chơi mặc áo
dài là ba tôi lại hái một cụm hoa chuỗi ngọc cài lên tóc tôi. Thế
là tôi được mặc áo dài, được cài hoa trên tóc và lái xe yểu điệu
giống người chị họ tôi.
Có phải tôi và chiếc áo dài có duyên có nợ nên chiếc
áo dài luôn quấn quít bên tôi? Và có phải tôi và màu tím hoa chuỗi
ngọc có nợ có duyên? Nên nền tím thẫm luôn sống mãi nơi tôi trên
tà áo dài qua bao tháng năm trôi giạt dòng đời.
Lúc còn sống ở quê nhà không bao giờ tôi quan tâm
đến giá trị cũng như chẳng bao giờ tôi tìm hiểu về cội nguồn của
chiếc áo. Giờ đây nhớ trời quê khi sống trên đất khách, tôi mới
nhận được chân giá trị của chiếc áo và cảm thấy thật hãnh diện mỗi
khi mặc, dù ngày xưa nơi quê nhà tôi đã từng mặc nó hằng bao nhiêu
năm trời.
Nơi tôi định cư không có phép nghỉ lễ Tết Nguyên
Đán hằng năm như ở quê nhà. Và những ngày Tết đến thường xảy ra
trong tuần nên năm nào cũng vậy, nếu đi làm trong ngày mùng Một
Tết tôi đều mặc áo dài. Đây là dịp mà những người bạn đồng nghiệp
của tôi được dịp ngắm nghía và trầm trồ chiếc áo dài tôi đang mặc.

Nhớ một lần tôi phải đi tham dự một buổi họp lớn
tổ chức tại hội trường của một khách sạn lớn nằm ven bờ biển Glenelg
tại Adelaide, thành phố nơi tôi đang sống. Buổi sáng hôm ấy, thấy
trời đẹp thế là tôi nẩy ý mặc áo dài. Tôi chọn chiếc áo màu tím
thẫm. Khi đến nơi tôi định đậu trong nhà đậu xe của khách sạn. Nhưng
nhìn thấy trời đẹp, nắng nhè nhẹ nên tôi đậu xe bên đường để được
dịp đi bộ.
Vâng! Hôm ấy trời ban mai nắng dịu. Cái nắng của
một ngày cuối hạ. Nắng thoi thóp không gay gắt như những tháng về
trước lại có một chút gì hanh hanh của những ngày chớm thu. Từng
sợi nắng đổ ngập lối đi, đổ dài trên tôi, tóc và áo.
Gió ban mai gợn mùi nước biển thoảng nhẹ thổi về
đẩy đưa hai tà áo nhẹ bay bay, để lộ chiếc quần sa tanh lụa trắng
muốt. Tôi thanh thản bước đi trong nắng. Còn nắng quấn quít bên
tôi theo từng bước chân ngập ngừng trên con đường đá dăm rệu rạo.
Và đằng sau cặp kính râm, tôi chừng thấy được những đôi mắt tò mò,
những gương mặt nhìn theo, những nụ cười cảm nhận. Khi tôi sắp đến
nơi, một người đàn bà 'tóc vàng' đi ngược chiều dừng lại hỏi tôi
với một cung cách nhã nhặn, lịch sự, bằng tiếng Anh:
- Cô đi đám cưới phải không? . . . . Chiếc áo cô đang mặc đẹp quá.
Rất lịch sự và rất đẹp.
Rồi
bà đưa tay vuốt lớp vải mềm mịn trên cánh tay tôi. Tôi mỉm cười
nhìn xuống chiếc áo tôi đang mặc. Chiếc áo dài màu tím than, đơn
giản không trang hoàng sặc sỡ. Tôi lắc đầu trả lời:
- Tôi đi tham dự buổi khánh thành đổi tên của cơ quan Uniting Care.
Bà lập lại:
- Cái áo đẹp quá. Rất là lịch sự.
Rồi bà hỏi tiếp:
- Cô đến từ nước nào ?
Sau khi nghe tôi trả lời, người đàn bà lạ bên đường
còn nấn ná hỏi thêm về văn hóa Việt, điều mà tôi rất hãnh diện để
nói, để ca tụng mỗi khi có ai hỏi đến.
Thấy không còn đủ thì giờ để lan man câu chuyện tôi
chỉ nói sơ và xin lỗi khiếu từ bà khách lạ rồi vội vã bước đi. Khi
đến cổng khách sạn tôi quay đầu nhìn lại. Người đàn bà 'tóc vàng'
lạ mặt vẫn còn trông theo. Tôi cảm động và thấy vui trong lòng làm
sao.
Khi bước vào hội trường, rất nhiều cặp mắt hướng
về phía tôi. Tôi đoán là họ đang ngưỡng mộ chiếc áo tôi đang mặc,
chiếc áo mang tính chất truyền thống của dân tộc Việt.
Điều đó làm tôi cảm thấy thật hãnh diện và thích
thú.
Thật vậy, chiếc áo với phần trên ôm sát tấm thân
thon thả của phụ nữ để hai tà bay lửng lơ cuốn quít theo làn gió
trông thật thơ mộng, thật trữ tình đã là nguồn cảm hứng cho biết
bao tâm hồn nghệ sĩ, phong phú hóa kho tàng thơ, văn, nhạc, họa,
nhiếp ảnh trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam như cố thi sĩ Nguyên
Sa đã ngất ngây gửi hồn trong hai tà áo người tình:
Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?
Nguyên Sa
('Tương Tư')

Còn Nguyễn Tất Nhiên đã hãnh diện đề cao nét trang
nhã, đài các của tà áo dài Việt Nam đáng là đại diện cho sắc phục
phương đông.
Tháng giêng em áo dài trang nhã
Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam
Đài các chân ngà ai bước khẽ
Quyện theo tà lụa cả phương đông
Nguyễn Tất Nhiên
('Tháng Giêng, Chim')
Khoảng trời xanh với những mộng mơ lãng mạn ươm kín
sách vở học trò cùng tà áo dài trắng trinh nguyên đã được biết bao
tâm hồn thi nhân chở chuyên tâm sự như nhà thơ Luân Hoán đã một
thời vướng mắc suy tư, để rồi dù dòng đời trôi chảy ông vẫn không
quên những gì đã xảy ra nơi sân trường mắt biếc:
em có nhớ trong sân trường bữa ấy
giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
gió bấc khô làm đôi má se hồng
cùng chúng bạn em ngồi quanh gốc phượng
tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh
Luân Hoán
('Trong Sân Trường Bữa Ấy)
Và Bảo Cường cũng cùng một hoài niệm như Luân Hoán
đã chắt chiu trong lòng bao kỷ niệm xa xưa của thời áo trắng:
Ngày xưa áo lụa tung bay
Tóc em theo gió vờn mây cuối trời
Trường Tiền áo trắng tinh khôi
Em nghiêng nón... giấu nụ cười làm duyên
Bảo Cường
('Áo trắng ngày xưa)
Trong
khi Thanh Trắc Nguyễn Văn đã nhẹ nhàng trách hờn người yêu bé nhỏ
của quãng đời học trò đã vội quên tháng ngày xưa cũ, quên con đường
dẫn lối đến trường, tìm vui nơi bờ bến lạ.
Con đường xưa đi học
Hai đứa giờ hai nơi
Em theo người xứ la.
Anh lưu lạc phương trời.
Em quên thời áo trắng
Rơi nỗi buồn đâu đây
Con đường anh trở lại
Thăm thẳm một màu mây.
Thanh Trắc Nguyễn Văn
('Con đường xưa đi học')
Thường khi nói đến tà áo trắng rất nhiều người nghĩ
đến mái trường thân yêu, đến phấn bảng học trò, đến tiếng ve gọi
hè sang, đến hàng phượng vĩ với những bông hoa trĩu nặng thắm đỏ
sân trường. Và màu đồng phục cho nhiều trường trung học nữ ở Việt
Nam thường là màu trắng. Nhưng cũng có một số ít trường chọn màu
xanh. Và màu tím cũng được chiếu cố.
Điển hình là trường Gia Long đã một thời mang tên
là 'Trường Nữ Sinh Áo Tím' từ ngày thành lập vào năm 1915 cho đến
1952. Đến năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc
áo trắng với phù hiệu của trường - đóa mai vàng - khâu lên trên
áo.
Dù những tà áo dài trắng được ca ngợi nhiều trong
thi văn thật sâu đậm nhưng điều này đã không làm xóa mờ nét dáng
thanh dịu của tà áo dài xanh biêng biếc mà bao thi nhân, nhạc sĩ
cũng đã hoà tiếng lòng của mình trong từng cõi thi tứ diệu vợi như
nhà thơ Mường Mán đã thố lộ tâm tình khi nhớ về những ngày xưa cũ.
Mùa cốm xa rồi hương còn đây
Sâm cầm về đâu cánh nghiêng trời
Biếc xanh tà áo em qua ngõ
Gói cả sông hồ thương nhớ ai.
Mường Mán
('Với Xuân Hà Nộí)
Thử vòng quanh thế giới âm nhạc, qua những nhạc phẩm Áo Lụa Hà Đông
(Ngô Thụy Miên), Ngàn Thu Áo Tím (Hoàng Trọng), Tà Áo Cưới (Hoàng
Thi Thơ), Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên), Tà Áo Trắng (Trần Ngọc Lân),
Tà Áo Đêm Noel (Tuấn Lê), Tà Áo Em Bay (Nguyễn Dũng) v.v. chúng
ta hẳn sẽ thấy một số nhạc sĩ đã chuyên chở lòng mình qua hình ảnh
tà áo dài trong dòng nhạc của họ.
Đặc biệt nhạc sĩ Đoàn Chuẫn đã đưa hình ảnh 'tà áo
xanh' vào cung phím rất nhiều. Đối với nhạc sĩ, màu xanh biểu tượng
cho những ước mơ, cho những đợi chờ, cho từng gợi nhớ chấp chới
trong từng tiết điệu âm giai.
Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về với giấc mơ
Mầu áo xanh là mầu Anh trót yêu
Người mơ không đến bao giờ
Đoàn Chuẩn- Từ Linh
('Thu Quyến Rũ')
Với bao tà áo xanh, đây mùa thu,
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ,
Lá vàng, từng cánh, rơi từng cánh,
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa..
Đoàn Chuẩn-Từ Linh
( 'Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay')
Em còn nhớ, anh nói rằng:
Khi nào em đến với anh,
Xin đừng quên chiếc áo xanh ...
Đoàn Chuẩn- Từ Linh
('Tà Áo Xanh')
Thật
vậy, kể từ khi trôi giạt xứ người tôi mới thấy trân quý và lưu tâm
đến giá trị của chiếc áo dài Việt Nam. Chiếc áo tiềm ẩn sắc thái
quê hương mà những ngày còn lê lết ở mái trường Trung học tôi nào
để ý đến.
Ngày ấy, đã rất nhiều lần vì ham nhảy dây tôi đã
cột vạt trước, vạt sau thành nắm tay để không bị vướng mắc lúc chơi
nên bị cha Tổng Giám Thị quở phạt khi thấy tà áo của tôi nhăn nhúm
trông thật thảm thương lúc đứng chào cờ.
Đi tìm cội nguồn của chiếc áo dài Việt Nam thật khó
mà khẳng định được là chiếc áo dài thân thương của chúng ta có từ
bao giờ. Nhưng dựa vào sự mô tả của chiếc áo dài đầu tiên với dáng
hình tương tự như chúng ta thấy ngày nay, có người cho rằng áo dài
có từ thập niên 30 của thế kỷ thứ XX do họa sĩ Cát Tường tạo kiểu.
Theo tài liệu thì trong quyển "Relation de la
Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de
la Cochinchine", xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Cristoforo
Borri đã mô tả cách trang phục của người Việt vào đầu thế kỷ thứ
XVII qua chiếc áo dài rằng, mặc dù sống trong vùng nhiệt đới những
người Việt ăn mặc rất kín đáo. Họ mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ
phủ lên áo kia, mỗi cái một màu.
Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân, còn những cái khác
từng lớp và từng lớp khoác ở ngoài, ngắn dần và ngắn dần. Đó chính
là chiếc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt còn thấy ở các làng quê
Việt Nam như ở Quan Họ / Bắc Ninh.
Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa. Phần dưới
thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài gọi
là các dải cánh sen. Lúc đi lại, các dải áo quyện vào nhau khi gió
thổi bay tung lên trông thật đẹp mắt.
Ngún ngỡn như anh thuyền chài
Áo ngắn mặc ngoài áo dài mặc trong.(*)
Có giả thuyết cho rằng áo dài Việt Nam xuất phát
từ phương Bắc khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong xưng là Vũ
Vương vào năm 1744 đã bắt quan, dân phải mặc lễ phục lấy mẫu từ
"Tam Tài Đồ Hội" của nhà Minh, Trung Hoa. Tuy nhiên, áo
dài không phải là lễ phục mà chỉ là một loại thường phục trang trọng
có thể mặc để tiếp khách hay đi chơi.
Áo dài chớ tưởng là sang
Bởi không áo ngắn phải mang áo dài (*)
Trong
quyển "Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn" xuất bản
năm 1997 ông Tôn Thất Bình cũng viết là chiếc áo dài được hình thành
từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe
người Nghệ-An truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên"
(tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa
đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam Tài Đồ Hội
làm kiểu mà tạo ra chiếc áo dài.
Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong
địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc.
Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng có chép sự kiện chúa Vũ Vương
ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục vào khoảng năm 1744.
Giả thuyết vừa nêu trên trái ngược với một bằng chứng
cho thấy là chiếc áo dài đã có trước khi chúa Nguyễn Phúc Khoát
xưng Vương. Đó là bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ XVII ở chùa Dâu,
Thuận Thành, Bắc Ninh.
Qua bức tượng này chúng ta có thể thấy là chiếc áo
dài phụ nữ mặc thời đó cùng với các dải cánh sen, giống mấy lớp
áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng như giáo
sĩ Borri đã mô tả.
Tuy nhiên, nếu dựa theo truyền thuyết thì tiền thân
của chiếc áo dài ngày nay đã có từ thời Hai Bà Trưng. Năm 39 sau
Công nguyên, Hai Bà khởi quân đánh đuổi quan Thái thú Tô Định và
quân nhà Hán. Khi cưỡi voi lâm trận Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai
tà giáp vàng, che lọng vàng và trang sức thật lộng lẫy.
Chiếc áo dài đã trải qua nhiều gian truân theo cùng
mệnh nước. Vấn nạn thứ nhất là bao nhiêu mưu toan đồng hóa dân ta
của bọn ngoại xâm phương Bắc qua một nghìn năm bị Trung Hoa cai
trị. Thứ đến là ảnh hưởng của thực dân Pháp trong ngót một thế kỷ
bị đô hộ.
Và gần đây nhất, chiếc áo dài thân thương của chúng
ta đã chịu sự dập vùi cùng chung với thân phận con người theo hoàn
cảnh chính trị và xã hội trên phần đất quê hương Việt Nam.
Vì áo dài không thích hợp với công việc lao động
cho nên sau năm 1954, chiếc áo dài đã biến mất trên nửa phần đất
tổ quốc nơi miền Bắc trong khi tại miền Nam Việt Nam hai tà áo dài
vẫn tiếp tục tung bay nơi công sở, trong học đường hay ngoài đường
phố. Khi cuộc chiến chấm dứt trên quê hương vào cuối tháng Tư năm
1975 thì chiếc áo dài cũng cùng chịu chung phận số với người dân
miền Nam và chỉ được phục hồi từ dạo cuối thập niên 80 sau khi đất
nước được cởi mở dần.

Mặc dù đã nổi trôi theo dòng lịch sử nhưng chiếc
áo dài của phụ nữ Việt Nam ta không những vẫn trường tồn mà còn
được hoàn mỹ thêm ra. Điều đó chứng tỏ là tinh thần bất khuất của
dân tộc Việt đã được thể hiện qua chiếc áo dài.
Nói đến trang phục phụ nữ đặc thù của những quốc
gia Á châu, chúng ta có thể kể đến chiếc Kimono của người Nhật hoặc
chiếc áo Sường Xám của người Trung Hoa. Về thẩm mỹ, chiếc Kimono
quá kín đáo, quá gò bó thân hình người phụ nữ, còn chiếc áo Sường
Xám mặc dù có phần khêu gợi nhưng thiếu phần thanh tao, dịu dàng
của phụ nữ.
Trong khi đó, chiếc áo dài của ta vừa kín đáo, vừa
gợi cảm lại vừa thướt tha, vừa uyển chuyển. Thân áo bó sát lấy thân
hình, tôn vinh những đường cong mềm mại của vóc dáng người phụ nữ
Việt Nam. Thêm vào đó, thân áo xẻ hơi cao, để lộ một chút thân mình
phía trên cạp quần. Hai tà áo dài xuống ngang nửa ống chân, quấn
quít từng bước đi theo làn gió thoảng.
Nói chung, áo dài của ta vượt trội hơn những trang
phục Á châu khác, bằng chứng là tại hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970
tại Nhật Bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam với các vạt áo bay lượn
trong gió đã được quan khách quốc tế trầm trồ khen ngợi và đem lại
vinh dự cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và chiếc áo dài của Trương
Quỳnh Mai được chọn là trang phục dân tộc đẹp nhất tại Tokyo vào
năm 1995.
Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?
Nguyên Sa
('TươngTư')
Về hình dạng, chiếc áo dài đã thay đổi rất nhiều
qua bao thế kỷ để có được dáng nét mỹ miều như ngày nay. Sau đây
ta thử nhìn qua những dạng chính theo thứ tự thời gian.
Trước hết, ngoại trừ truyền thuyết về Hai Bà Trưng
mặc áo hai tà, theo một số nhà nghiên cứu chiếc áo dài đầu tiên
là áo Giao Lãnh. Áo gồm bốn thân, mặc phủ ngoài yếm lót; nhưng khi
mặc, hai thân trước để giao nhau chứ không buộc lại, với thêm một
thắt lưng mầu buông thả. Vì chiếc áo này tương tự áo tứ thân về
dáng hình cho nên có người cho rằng hai loại áo này là một. Vậy
ta hãy xét kỹ về chiếc áo tứ thân xem sao, vì đây là chiếc áo đã
tồn tại cả mấy nghìn năm, mặc cho bao thăng trầm của lịch sử.
Ngày xưa, vì kỹ thuật còn thô sơ nên vải được dệt
thành khổ hẹp. Muốn may thành một cái áo, phải ráp bốn mảnh lại
với nhau. Do đó mới có cái tên 'áo tứ thân'.
Áo gồm hai mảnh đằng sau khâu lại giữa sống lưng
làm thành sống áo, với mép nối của hai thân áo được dấu vào phía
trong. Hai thân trước được buộc lại với nhau và để thõng xuống thành
hai tà áo ở giữa, nên không cần cài khuy khi mặc.

Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại
tang, như tang chồng hay tang cha mẹ, mới thả xuống và mép vải để
lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Áo tứ thân thường được mặc với
áo yếm, với một dải vải thắt ngang lưng, đầu vấn khăn và đội nón
quai thao.
Tùy theo mục đích, chiếc áo tứ thân mang màu sắc
khác nhau. Ngoài đồng ruộng hay trong những phiên chợ, chiếc áo
tứ thân có màu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm
bùn.
Nhưng trong những dịp hội hè đình đám, cưới hỏi,
áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc
yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc
váy sồi có thắt lưng màu lá mạ hay màu cánh chả bay lượn trong gió.
Còn về yếm, ngoài những màu vừa kể còn có màu nâu để mặc đi làm
thường ngày ở nông thôn và yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị.
Về ý nghĩa, ta có thể tìm thấy trong các bài tham
khảo những lời giải thích là bốn thân của chiếc áo tượng trưng cho
tứ thân phụ mẫu của hai vợ chồng, và buộc hai tà trước lại với nhau
tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau.
Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài tấm thân
Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm (*)
Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất
là ở thôn quê, cho đến ngày hôm nay.
Đến đời vua Gia Long, vào đầu thế kỷ XIX, kiểu áo
ngũ thân bắt đầu phổ biến trong giới phụ nữ quyền quý.
Kiểu
này giống như áo tứ thân, nhưng kín thân vì hai vạt trước được may
liền thành một vạt lớn dọc theo sống áo như vạt sau; cộng thêm một
vạt con nằm dưới vạt trước về phía bên phải. Vạt con nối với hai
vạt trước nhờ cổ áo có bâu đệm, và cài kín lại bằng năm chiếc khuy.
Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay cũng vì cùng một lý do như thân
áo, đó là vì ngày xưa các loại vải tốt như gấm, lụa chỉ dệt được
rộng nhất là 40 cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người,
trong khi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo. Gấu
áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉ
cao khoảng 2-3 cm.
Về ý nghĩa thì ngoài ý nghĩa của bốn thân áo chính
như đã nêu trong phần áo tứ thân, thân thứ năm hay vạt con tượng
trưng cho người mặc áo. Năm chiếc khuy áo tượng trưng cho Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí và Tín, năm đạo làm người theo Khổng Giáo.
Áo dài năm nút hở bâu
Để coi người nghĩa làm dâu thế nào (*)
Từ chiếc áo ngũ thân, chiếc áo dài biến dạng với
vạt con được thu gọn lại để trở thành chiếc áo dài mà chúng ta thấy
ngày nay. Và dĩ nhiên, hai thân trước và sau không còn phải nối
sống nữa. Tuy nhiên, nhiều phần của chiếc áo dài đã thay hình đổi
dạng trong thế kỷ XX. Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ
nữ thành thị đều may theo kiểu ngũ thân.
Khi thực dân Pháp bắt đầu đô hộ nước ta vào cuối
thế kỷ XIX, văn hóa Tây Phương cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam,
đưa đến việc thay chữ Nho bằng chữ Quốc Ngữ và những đua đòi theo
văn hóa Tây Phương mà điển hình là ở Hà Nội. Vì là một phần của
văn hóa Việt Nam cho nên chiếc áo dài truyền thống cũng là đề tài
của sự đổi mới. Các màu thông dụng như nâu, đen được thay bằng các
sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời
ấy.
Đến khoảng thập niên 1930, chiếc áo dài có một số
thay đổi, mà nổi tiếng nhất phải kể đến kiểu áo Lemur của họa sĩ
Nguyễn Cát Tường, một thành viên của Tư. Lực Văn Đoàn. (Chữ Lemur
viết trại theo danh từ Pháp 'le mur' có nghĩa là 'cái tường', tương
tự như tên 'Cát Tường').
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã dùng hai tờ báo Ngày Nay
và Phong-Hóa để truyền bá tư tưởng cải cách văn hóa, xã hội của
nhóm. Cũng trong tờ Phong-Hóa họa sĩ Cát Tường đã cổ võ cho sự thay
đổi về quan niệm trong cách ăn mặc: "Các nhà đạo đức thường
nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi gió mưa,
nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì.
Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể, song
nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức
của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không,
cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu".
Kiểu áo Lemur cho thấy ảnh hưởng của Âu châu, mặc
dù áo vẫn giữ nguyên phần áo dài với cổ cao, không có eo. Những
thay đổi gồm cổ áo khoét hình trái tim, cổ bẻ và một cái nơ ở trước
cổ; vai bồng; tay nối ở vai, tay măng-sét; gấu áo cắt kiểu sóng
lượn nối vải khác màu hay đính ren diêm dúa; khuy áo may dọc trên
vai và sườn bên phải. Vì những đặc tính táo bạo như vậy cho nên
có giới nghệ sĩ hay giới ăn chơi thời đó mới dám mặc. Và cũng vì
lý do đó chiếc áo Lemur đã sớm đi vào quên lãng vào khoảng năm 1934.
Một điểm khác biệt nữa so với áo dài thời trước đó là vạt áo không
còn phải nối sống nữa vì hàng vải nhập cảng có khổ rộng hơn hàng
nội hóa thời đó.
Khi kiểu Lemur lan đến thủ đô Huế, một số các cô
tân thời đã chạy theo kiểu này, làm đề tài cho bài vè sau đây:
Vè vẻ vè ve
Nghe vè 'mốt' áo
Bận áo lơ-muya
Đi giày cao gót
Xách bóp-tờ-phơi
Che dù cánh dơi
Đi chơi Cụ Ngáo
Ăn cháo không tiền
Cởi liền lơ-muya!
Đi đôi với chiếc áo dài mới là một vài cải cách khác,
đó là nhiều phụ nữ tân thời không còn nhuộm răng đen nữa, tóc vấn
trần hoặc búi lỏng và rẽ ngôi lệch. Đây là cơ hội để nhà thơ Tú
Mỡ ở Hà Nội nhại bài Mười Thương để châm biếm:
Một thương tóc lệch đường ngôi
Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn 'san'
Ba thương hôm sớm điểm trang
Bốn thương răng mọc hai hàng trắng phau
Năm thương lược Huế cài đầu
Sáu thương ô lụa ngả màu thanh thiên
Bảy thương lắm bạc nhiều tiền
Tám thương động tí 'nữ quyền' giở ra
Chín thương cô vẫn ở nhà
Mười thương... thôi để mình ta thương mình!
Một cải cách táo bạo khác cần được lưu ý đó là kiểu
áo dài nhấn eo, khiến chiếc áo ôm sát theo các đường cong tuyệt
mỹ của phái nữ, do bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu-trưởng của trường
nữ Trung-học Hà-Nội, sáng tạo.
Vào
năm 1934, sau khi áo Lemur đến rồi đi, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến
kiểu Lemur bằng cách dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ, bỏ đi những
nét Tây phương như không tay phồng, cổ hở, không viền tròn vạt dài
v.v. nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn.
Đây là kiểu áo rất gần với chiếc áo dài tân thời ngày nay. Những
thay đổi từ chiếc áo dài Lê Phổ cho đến ngày nay được tóm tắt như
sau:
- Cuối thập niên 1950, bà Trần Lê. Xuân, vợ ông Ngô
Đình Nhu, xuất hiện trước công chúng trong kiểu áo dài cổ khoét
kiểu thuyền và tay ngắn. Kiểu áo không được ưa chuộng mấy và rồi
biến mất cùng với nền Đệ Nhất Cộng Hòa.
- Khoảng thập niên 1960, nhà may Dung Dakao ở Sài
Gòn tung ra kiểu áo dài tay Raglan, ráp tay xéo vai do đó bớt được
những đường nhăn hai bên nách và đùn vải nơi vai. Đây là một cải
tiến quan trọng và được ưa chuộng cho đến ngày nay. Đi với kiểu
tay Raglan là nhiều kiểu biến chế lạ mắt như thân áo may bằng hàng
dày, nhưng phía ngực và tay lại bằng hàng hàng mỏng; hoặc thân áo
và hai tay là hai màu tương phản.
- Đầu thập niên 70 -75 là thời kỳ của áo dài mini-Raglan.
Đó là áo dài raglan may với tà áo cao và gọn. Kiểu này rất được
giới trẻ, nhất là các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến ngày
miền Nam thất thủ. Đối lại với kiểu mini-Raglan là kiểu maxi-Raglan
tha thướt, dịu dàng, rất hợp với các bà.
Ngoài ra, một số nhà may tại Sài Gòn còn tung ra
thị trường kiểu áo dài ba tà gồm một vạt sau và hai vạt trước, với
nút gài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, và không
được ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất nhẹ nhàng
của phụ nữ Việt Nam.
Thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy chiếc áo dài có những
canh tân quá đáng như hở ngực, hở cổ hoặc chỉ có một tay v.v. như
các kiểu áo Tây phương. Những 'phát minh' loại này đã và sẽ bị đào
thải nhanh chóng.
Mong rằng những cải tiến, nếu có, sẽ nhắm vào việc
duy trì phẩm chất thuần túy của chiếc áo dài quốc hồn quốc túy,
vương mang linh hồn dân tộc Việt, cũng như làm tăng thêm giá trị
mỹ thuật độc đáo, để cho chiếc áo dài thân thương của chúng ta mãi
mãi không bao giờ bị lấn át bởi các trào lưu thời trang Tây phương,
và sẽ giữ vững ngôi vị độc tôn với dáng nét kiêu sa không những
ở quê nhà mà còn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Nói tóm lại, trải qua mấy nghìn năm biển dâu chiếc
áo dài Việt Nam đã được biến cải từ chiếc áo Giao Lãnh mộc mạc thành
chiếc áo dài trang nhã, đài các, không những đã chiếm một địa vị
quan trọng trong lịch sử lẫn trong văn hóa Việt; một thứ di sản
văn hóa mang đủ tính chất nghệ thuật vừa thướt tha, vừa dịu dàng,
vừa sang trọng, vừa lãng mạn, tôn vinh nét đẹp của phụ nữ Việt,
không còn chỉ loanh quanh ẩn núp bên các đường phố Việt Nam, mà
còn tự hào vươn mình tung bay trên nhiều phố phường dưới bầu trời
thế giới hôm nay. Đó là nhờ công lao gìn giữ của cả dân tộc cũng
như công sáng tạo của bao nhà họa kiểu.
Hoàng hôn đang xuống chậm. Lãng đãng các sắc màu
tím hồng hỗn hợp thấm đẫm chân trời. Thấp thoáng dưới bóng chiều
bảng lảng, những tà áo dài nhẹ bay trong chiều nắng thu phai.
Tài liệu tham khảo
"Việt Nam Phong Tục", Phan Kế Bính, Phong
Trào Văn Hóa.
"Việt Nam Sử Lược", Trần Trọng Kim, Đại Nam.
"Phong Tục Việt Nam", Toan Ánh, Xuân Thu.
"Đất Lề Quê Thói", Nhất Thanh, Sống Mới.
"Những Hình Ảnh Xưa", Nguyễn Khắc Ngữ, Nhóm Nghiên Cứu
Sử Địa.
"Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie
de Jesus au Royaume de la Cochinchine", Cristoforo Borri, 1631,
Lille
"Phong-Hóa", số 86, 1934.
"Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn", Tôn Thất Bình,
1997, Nhà Xuất Bản Đà-Nẵng.
"Chiếc Áo Dài Việt-Nam và Đạo Làm Người", Nguyễn Huỳnh.
(*) Ca dao Việt Nam |