|
Tìm hiểu phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm - Phần I
Thụy Khuê - RFI - 12.05.2009
Càng đi sâu vào vấn đề, càng thấy
rõ, những gì chúng ta góp nhặt được về những con người như Nguyễn
Hữu Đang, Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao, Phan Khôi, Thụy An, Trương
Tửu... qua những văn bản do chính họ viết ra, hoặc vài ba dòng hồi
ký của người này người kia, cũng chỉ là phần rất nhỏ của sự thật.
Không kể những loại nhật ký, hồi ký đã bị cắt xén hoặc được sửa
lại cho đúng đường lối, hoặc những di cảo trá hình, viết để tự biện
hộ, để đổi lấy bản thông hành đi vào vĩnh cửu.
Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào tranh
đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc có tầm
vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt tháng
6 năm 1958.
Hai nguồn tư liệu sớm nhất về Nhân Văn Giai Phẩm
(NVGP) là Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí
do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá in ở Sài Gòn năm 1959, và Bọn Nhân Văn
Giai Phẩm trước toà án dư luận (BNVGPTTADL) do nhà xuất bản Sự Thật
Hà Nội in năm 1959. Ngoài hai tập tư liệu này còn có những tập tư
liệu khác, ra đời hơn 30 năm sau.
Trước hết là cuốn "Cent fleurs écloses dans
la nuit du Vietnam" (Trăm hoa đua nở trong đêm Việt Nam) của
Georges Boudarel. Georges Boudarel, nay đã qua đời, là nhà giáo,
đảng viên cộng sản Pháp, 1947 sang Việt Nam với mục đích tranh đấu
chống chính quyền thuộc địa. Sau hai năm dạy học tại Sài Gòn, Boudarel
theo Việt Minh, đặc trách nhiệm vụ "cải tạo" tù nhân Pháp
ở trại 113. Năm 1966, vì không còn đồng ý với chính quyền Hà Nội,
ông trở về Pháp. Trong thời gian ở Việt Nam, ông đã gặp gỡ nhiều
nhà văn nhà thơ, trong đó có những thành viên NVGP và Boudarel đã
mang được về Pháp những tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, và một số báo xuất
bản ở Hà Nội trong thời kỳ này.
Cuối 1987 đầu 1988, trong bối cảnh "cởi trói
văn nghệ" của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Georges Boudarel
đã viết loạt bài tựa đề Dissidences intellectuelles au Viêt-Nam
L'affaire Nhan Van-Giai Pham (Trí thức phản kháng tại Việt Nam,
vụ Nhân Văn Giai Phẩm), in trên hai tập san Sudestasie (số 50 tháng
1/1988) và Politique Aujourd'hui en Europe (phụ bản tháng giêng
năm 1989), sau tập hợp và đào sâu thành cuốn "Cent fleurs écloses
dans la nuit du Vietnam" (Trăm hoa đua nở trong đêm Việt Nam)
do Jacques Bertoin in năm 1991 tại Paris.
Ngoại trừ việc Boudarel (cũng như Hoàng Văn Chí)
đều cho rằng phong trào NVGP bắt nguồn từ Trăm hoa đua nở bên Trung
Quốc, là sai, và Lê Đạt, Hoàng Cầm đã đính chính trong những buổi
trả lời phỏng vấn trên RFI, cuốn sách của Georges Boudarel là tập
tư liệu có giá trị bằng tiếng Pháp viết về NVGP, nhờ đó mà bi kịch
NVGP đến được với người đọc tiếng Pháp.
Từ những năm 90 trở đi, một loạt những tài liệu mới
về NVGP xuất hiện rải rác trong và ngoài nước, dưới dạng tự thuật,
bút ký, sáng tác... của những thành viên đã tham gia phong trào
như Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Hoàng Cầm...
Trong số đó có hai tài liệu quan trọng là tập hồi
ký viết bằng tiếng Pháp Un Excommunié (Kẻ bị khai trừ, nxb Quê Mẹ,
Paris, 1992) của Nguyễn Mạnh Tường với tiểu tựa: Hanoi 1954-1991:
Procès d’un intellectuel (Hà Nội 1954-1991: Kết án một nhà trí thức).
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường kể lại những thăng trầm
trong cuộc đời ông gắn bó với lịch sử từ 10 giờ sáng ngày 10/10/1954
khi quân cách mạng tiến vào Hà Nội đến tháng 5/1991, thời điểm ông
viết xong tập hồi ký. Sau 9 năm theo kháng chiến, Nguyễn Mạnh Tường
từ chiến khu trở về trong số những trí thức được ưu đãi của chính
quyền. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ra đời, ông tham gia và đã
chịu sự trừng phạt nặng nề. Nhờ hồi ký Nguyễn Mạnh Tường mà chúng
ta có thể hình dung được các giáo sư đại học cùng chí hướng với
ông như Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, đã phải trải qua
những kỷ luật như thế nào, và hiểu được cuộc sống cách ly, đói khát,
luôn luôn bị theo dõi của họ trong hơn ba mươi năm sa mạc.
Cuốn nhật ký Trần Dần ghi (Văn Nghệ, California,
2001), trích những ghi chép hàng ngày của Trần Dần, đặc biệt trong
hai thời kỳ: Cải cách ruộng đất và sau Nhân Văn Giai Phẩm.
Nếu hồi ký Nguyễn Mạnh Tường là bản chúc thư (viết
năm 1991, ở tuổi 82) gửi gấm cho thế hệ mai sau về sự đối đầu của
một trí thức trước áp lực cách mạng, thì nhật ký Trần Dần, ghi lại
những suy nghĩ và sinh hoạt hàng ngày của một nhà thơ đã chịu nhận
mọi tội để mong được tha thứ, muốn được trở lại sống bình thường
như mọi người, nhưng vô hiệu.
Hoàng Văn Chí và Trăm hoa đua nở trên đất
Bắc
Hoàng Văn Chí, tức Mạc Định, soạn giả Trăm hoa đua
nở trên đất Bắc (THĐNTĐB), do Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá xuất
bản tại Sài Gòn, 1959, cho biết: "Ở Hà Nội ra đi đầu năm
1955, tôi đã hẹn với các bạn ở lại là hễ có dịp sẽ nói lên tiếng
nói của họ", "Tôi làm việc một mình", "Tôi liên
lạc được với một ủy viên trong Ủy ban kiểm soát đình chiến. Họ đi
Hà Nội như đi chợ. Mỗi tuần họ cắp về Sài Gòn cho tôi tất cả báo
chí xuất bản ở Hà Nội", " Tôi làm việc trong hai năm 56-58".
"Bộ Thông tin và nói chung, chính quyền Sài Gòn không hề giúp.
Lý Trung Dung đến chào Bộ Thông tin, yêu cầu mua cho một số, nhưng
chẳng mua một cuốn nào". "Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá
ở Việt Nam là một chi nhánh của một tổ chức quốc tế, tên là Congress
for Cultural Freedom, trụ sở trung ương ở 104 boulevard Haussmann,
Paris. Bác sĩ Lý Trung Dung làm chủ tịch. Tội nghiệp, chỉ vì làm
chủ tịch Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá mà phải đi cải tạo đến nay
(1986) chưa được thả". "Trước khi đưa in, Lý Trung Dung
nghe nói có người gần ông Diệm ngờ rằng tôi soạn cuốn Trăm hoa đua
nở là có ý xúi dục trí thức miền Nam bắt chước trí thức miền Bắc
nổi lên chống lại chế độ. Vì vậy nên Lý Trung Dung bàn với tôi nên
để bút hiệu Mạc Định là soạn giả. Chỉ ký tên Hoàng Văn Chí vào bài
Tựa" (Trích Phỏng vấn cụ Hoàng Văn Chí, Từ Nguyên thực
hiện, bán nguyệt san Tự Do số 50, ngày 16/11/1986, phát hành tại
Bỉ).
Hoàng Văn Chí đã nói rõ lý do và điều
kiện ra đời của tập Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Nhưng tại sao
ông lại đặc biệt lưu ý đến phong trào NVGP? Ai là những người "ở
lại" mà ông đã hứa sẽ nói lên tiếng nói của họ ? Nếu tìm sâu
hơn về liên hệ gia đình giữa Hoàng Văn Chí và Phan Khôi, có thể
chúng ta thấy câu trả lời :
Sở Cuồng Lê Dư có ba người con gái - vì bà Lê Dư
là em ruột Phan Khôi, cho nên ba cô này là cháu Phan Khôi - cô đầu
gả cho Vũ Ngọc Phan, cô thứ nhì lấy Hoàng Văn Chí và cô út là vợ
Tướng Nguyễn Sơn. Riêng nữ sĩ Hằng Phương, vợ nhà phê bình Vũ Ngọc
Phan, sau này viết bài đả kích thậm tệ Nhân Văn Giai Phẩm.
Rất có thể vì thế, mà người em ruột Hằng Phương,
tức bà Hoàng Văn Chí, đã là một trong những động cơ thúc đẩy Hoàng
Văn Chí thu thập tài liệu và viết về Nhân Văn Giai Phẩm.
Tác phẩm của Hoàng Văn Chí, cho đến nay vẫn là tác
phẩm hoàn chỉnh nhất về phong trào NVGP. Trừ ba người : Nguyễn Hữu
Đang, Trương Tửu và Lê Đạt bị loại ra (có thể Hoàng Văn Chí không
thích hay không tin họ vì Nguyễn Hữu Đang đã từng là người tin cẩn
của Hồ Chí Minh, Lê Đạt là bí thư của Trường Chinh và Trương Tửu
là nhà phê bình lý luận Mác-Xít).
Phần lớn những thành viên khác đều có mặt, với một
tiểu sử khá đầy đủ, với những chi tiết đáng quý và những bài viết
tiêu biểu của họ trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt tiểu
sử Phan Khôi và Văn Cao, với những chi tiết mà hiện nay không tìm
thấy ở đâu. Một phần vì Hoàng Văn Chí có liên hệ gia đình với Phan
Khôi, nên một số dữ kiện chỉ ông biết, mà không tìm thấy ở những
tư liệu khác. Những chi tiết ấy có thể một số người ở trong nước
biết nhưng không dám viết ra. Sau này, không thiếu những cuốn sách
viết về Văn Cao, Phan Khôi, nhưng thường lại tô hồng, tiểu thuyết
hoá, hoặc cắt xén vo tròn, khó tìm thấy sự thật.
Nhưng tác phẩm của Hoàng Văn Chí cũng có một số nhược
điểm:
- Soạn giả không phải là người trong cuộc, và đã
rời miền Bắc từ đầu năm 1955, cho nên khi thuật lại một số sự việc
đôi khi có những chi tiết ông nhớ sai, những sai sót này, ngày nay,
chúng ta có thể điều chỉnh lại được.
- Hoàng Văn Chí là người chống Cộng và ông để lộ
lập trường khá rõ trong tác phẩm có tính cách biên khảo này. Vì
vậy, ông chỉ nhắc sơ qua, hoặc không nhắc đến những bài quan trọng
của Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu và Lê Đạt (vì những lý do đã nêu
trên).
- Ngoài ra, ông cũng cắt xén những đoạn mà các tác
giả trong NVGP lên án "tội ác Mỹ Diệm", hoặc ca tụng Đảng.
Đặc biệt với bài Nhất định thắng của Trần Dần, ông đã lược bỏ những
câu, những đoạn sắt máu, có tính cách khẩu hiệu, tuyên truyền, khiến
cho tác phẩm hay hơn, nhân bản hơn, được độc giả miền Nam chấp nhận,
nhưng đã làm lệch ý của Trần Dần trong thời điểm 1955-56. Bản in
lại trong tập Trần Dần thơ (nxb Đà Nẵng, 2008) cũng là bản Hoàng
Văn Chí.
Ngày nay, chúng ta có thể phân tích rõ ràng tư tưởng
của mỗi thành viên, qua các văn bản mà họ để lại trên các báo Nhân
Văn và Giai Phẩm. Một mặt khác, qua nhân chứng của các thành viên,
chúng ta có thể tái tạo lại diễn biến của phong trào: ai làm gì,
ai giữ trọng trách gì. Đối chiếu những nhân chứng này với lời buộc
tội của những ngòi bút chính thống được chỉ định đánh họ, in lại
trong cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận (1959) và
một số bài in trên các báo chính thức trong thời kỳ này, mà Lại
Nguyên Ân đã sưu tầm và công bố, chúng ta có thể nhìn ra nhiều khía
cạnh của sự thật hơn.
Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước
toà án dư luận
Tập tài liệu tựa đề Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước
toà án dư luận do Nxb Sự Thật (nay là Nxb Chính Trị Quốc Gia), in
tháng 6, năm 1959, tại Hà Nội, là tài liệu đầu tiên, tập hợp những
trích dẫn bài viết hoặc diễn văn tố cáo, lên án, buộc tội NVGP.
Trong phần cuối cuốn sách, có một chương nhỏ, trích "những
lời thú tội" của các thành viên NVGP, còn hầu như toàn thể
dành cho phía công tố "phát hiện tội", với những lời lẽ
vô cùng khiếm nhã, khó thể mường tượng được, từ miệng, hoặc từ ngòi
bút của giới được gọi là "trí thức văn nghệ sĩ" đối với
các đồng nghiệp và bạn hữu của mình đã tham gia NVGP.
Tập tư liệu dày 370 trang này -chứng tích một
thời mà chữ nghiã đã đạt tới đỉnh cao của sự bồi bút- còn hữu ích
về mặt lịch sử và văn học sử, nó mở ra nhiều khía cạnh của vấn đề
NVGP: về tầm vóc của phong trào, về không khí đàn áp thời đó, về
mức độ khốc liệt của lớp đấu tranh Thái Hà mà nhà thơ Lê Đạt đã
mô tả tường tận trong các bài phỏng vấn trên RFI. Đồng thời nó cũng
gián tiếp trả lời những lập luận gần đây, cố tình hạ thấp hoặc thu
gọn tầm vóc của phong trào NVGP thành một cuộc "đánh đấm nội
bộ", tranh giành thế lực cá nhân, không liên hệ gì đến vấn
đề tự do tư tưởng.
Những bài luận tội có tính cách hạ nhục NVGP của 83 văn nghệ sĩ
và các đoàn thể, báo chí, nhân dân cũng như các vị trong ban chấp
hành trung ương Đảng, với những tên tuổi như: Tố Hữu, Nguyễn Đình
Thi, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng,
Hồng Cương, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Hồ Đắc
Di, Vũ Đức Phúc, Quang Đạm, Bàng Sĩ Nguyên, Ngụy Như Kontum, Hằng
Phương, Lương Xuân Nhị v.v... phản ảnh rất rõ nhân cách của người
tố. Cho nên, có thể nói, qua những "văn bản tố", các tác
giả đã để lại nhân cách trí thức của mình trong ký ức dân tộc. Sau
cùng nhờ cách sắp xếp thứ tự "những tên đầu sỏ" mà chúng
ta biết được thứ tự "tội" nặng, "tội" nhẹ, cùng
hoạt động của mỗi người.
Những buổi phỏng vấn trên RFI
Ngày 13/4/1999, trong dịp nhà thơ Lê Đạt sang Pháp
lần thứ nhì, chúng tôi đề nghị ghi âm ông, mong ông soi tỏ những
chỗ chưa được các tài liệu trước đề cập đến, hoặc viết sai. Buổi
nói chuyện - thu thanh với chủ đích giữ lại làm tài liệu văn học
sử - tuy mang tính cách cá nhân nhưng có hệ thống về phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng tôi đề nghị nhà thơ nói thẳng, nói thật
hết và cam kết là sẽ chỉ công bố tài liệu sau khi ông qua đời, bởi
lúc đó được biết, ông không định viết hồi ký.
Đầu năm 2004, sau khi thực hiện chương
trình phát thanh kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ (1954-2004) với
nhà văn Hữu Mai trên đài RFI, chúng tôi dự định làm thêm một chương
trình kỷ niệm 50 năm phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (nếu coi 1954
như thời điểm manh nha sự gặp gỡ giữa các văn nghệ sĩ chủ trương
phong trào) nên đã cố gắng liên lạc với nhà thơ Lê Đạt qua điện
thoại viễn liên Paris-Hà Nội, muốn làm một cuộc phỏng vấn ngắn gọn
có tính cách thời sự, phù hợp với đề tài này, nhưng không thể thực
hiện được, vì chỉ nói được vài câu là đường dây bị nhiễu.
Sau nhiều tháng phân vân, cuối cùng, với sự đồng
ý của nhà thơ Lê Đạt, chúng tôi quyết định cho phát trên sóng RFI,
toàn bộ buổi nói chuyện với ông đã thu thanh ngày 13/4/1999 tại
Paris. Do đó mà tài liệu văn học sử này đã đến với thính giả RFI
sớm hơn dự tính.
Đây là lần đầu tiên, một tư liệu trực tiếp qua lời
thuật của một thành viên cột trụ trong Nhân Văn Giai Phẩm được công
bố.
Bên cạnh Lê Đạt, còn có tiếng nói của hai nhân vật
chủ chốt khác trong phong trào, đó là cuộc phỏng vấn ngắn nhà chính
trị và văn hoá Nguyễn Hữu Đang: Nhân dịp kỷ niệm ngày 2/9/1945,
chúng tôi nhờ Lê Đạt liên lạc với Nguyễn Hữu Đang, để hỏi ông về
việc tổ chức ngày lễ Độc Lập.
Buổi nói chuyện này thu thanh qua điện thoại nhà
Lê Đạt ngày 30/8/1995 và được phát thanh trên đài RFI ngày 10/9/1995.
Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, chúng tôi có thể ghi
âm được Nguyễn Hữu Đang. Tất cả những cố gắng về sau đều vô hiệu:
chỉ nói được vài câu là đường dây bị nhiễu.
Những thính giả của RFI đã từng nghe những chương
trình này, đều lưu ý thấy sự trả lời của Nguyễn Hữu Đang, Hoàng
Cầm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, không đạt mức độ tự do
như các cuộc trò chuyện trực tiếp với Lê Đạt ở Paris. Nhưng cả ba
chứng nhân, cũng là ba người đầu tiên đã xây dựng nên phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm cùng đồng quy ở điểm nói thẳng, nói thật. Có
những câu hỏi cùng đặt cho Hoàng Cầm và Lê Đạt ở những thời điểm
và hoàn cảnh khác nhau, nhưng sự trả lời gần như tương tự.
Sau cùng là nhân chứng của Trần Duy. Hoạ sĩ Trần
Duy đã liên lạc với chúng tôi từ nhiều năm qua, ông cho biết đã
nghe những chương trình phát thanh trên đài RFI về phong trào Nhân
Văn Giai Phẩm, có những điều ông muốn nói, dưới nhãn quan của riêng
ông, nhưng cơ hội chưa thuận tiện. Tháng 6/2008, hoạ sĩ Trần Duy
quyết định lên tiếng. Chúng tôi đã ghi âm ông qua điện thoại viễn
liên Paris-Hà Nội, không bị trở ngại gì. Và như thế, chúng ta có
thêm nhân chứng của Trần Duy, cựu thư ký toà soạn báo Nhân Văn.
Nếu trong những bài viết trên báo hoặc các chương
trình phát thanh, từ 1988 đến ngày nay, còn có những thiếu sót,
đôi khi sai lầm, thì, những chứng nhân quan trọng của Lê Ðạt, Hoàng
Cầm, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, đã đính chính và bổ sung. Các ông
thay mặt những người đã khuất viết lại lịch sử của phong trào và
lần này, không ai có thể ngăn ngừa sự thật.
Tất nhiên, mỗi người có một sự thực của riêng mình,
về mỗi dữ kiện, mỗi vấn đề. Thời gian trôi qua, ký ức cũng có đôi
chỗ sai biệt, nhưng những sai biệt ấy, nếu có, thường là những chi
tiết không mấy quan trọng. Độc giả sẽ rút ra từ những sự thực có
thể khác nhau ấy, phần tổng kết riêng của mình, về phong trào Nhân
Văn Giai Phẩm.
Những buổi phỏng vấn các thành viên chính của phong
trào NVGP, phát thanh trên trên RFI, từ năm 1995 đến 2008: Nguyễn
Hữu Đang (10/9/1995), Hoàng Cầm (21/2/1998 đến 10/1/2004, 4 kỳ),
Lê Đạt (từ 24/3/2004 đến 5/6/2004, 7 kỳ) và Trần Duy (26/6/2008
đến 26/7/2008, 4kỳ), đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu trực
tiếp về NVGP, do những người trong cuộc nói ra.
Phần phát biểu của nhà thơ Lê Đạt (ghi âm tại Paris
ngày 13/4/1999, khi ông sang Pháp lần thứ nhì, và phát thanh từ
tháng 3 đến tháng 6/ 2004 trên đài RFI), cho đến nay, là chứng từ
quan trọng nhất và đầy đủ nhất về lịch sử phong trào NVGP. Lê Đạt
mất ngày 21/4/2008 tại Hà Nội.
Những năm gần đây trang báo điện tử Talawas do Phạm
Thị Hoài chủ biên, đã cho in lại và lưu trữ trên mạng Internet toàn
bộ báo Nhân Văn Giai Phẩm.
Lại Nguyên Ân đang sưu tầm những bài viết trên các
báo chính thức thập niên 60, liên quan đến phong trào NVGP và đưa
dần lên Internet.
Những tư liệu này góp phần làm sáng tỏ thêm về NVGP,
giúp các nhà nghiên cứu sau này có thể xây dựng lại toàn diện bối
cảnh phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ trí
thức, lớn lao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.
ooOoo
Từ tháng 4/1988, khi chúng tôi viết những dòng đầu
về Nhân Văn Giai Phẩm đến nay đã hơn hai mươi năm.
Chuyên luận này tưởng như hoàn tất một chương trình
tìm kiếm lâu dài, nhưng thực ra nó lại là khởi điểm cho một cuộc
tìm kiếm mới về những gì đã thực sự xẩy ra.
Bởi càng đi sâu vào vấn đề, càng thấy rõ những khoảng
trống chưa thể lấp được, những câu hỏi chưa được trả lời về biết
bao nhiêu sự kiện lịch sử khác nhau, về những con người như Nguyễn
Hữu Đang, Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao, Phan Khôi, Thụy An, Trương
Tửu... và còn bao nhiêu người khác nữa.
Những gì chúng ta góp nhặt được về họ, ngoài những
văn bản do chính họ đã viết ra, đôi khi lượm lặt được vài ba dòng
nhật ký của người này, hồi ký của người kia, cũng chỉ là một phần
rất nhỏ của sự thật. Không kể những loại hồi ký đã bị cắt xén hoặc
được sửa lại cho đúng đường lối, hoặc những di cảo trá hình, viết
để tự biện hộ, để đổi lấy bản thông hành đi vào vĩnh cửu.
Cho nên người nghiên cứu phải vô cùng thận trọng
khi tìm và lựa thông tin, những gì là thật, là giả trong những tư
liệu mà mình có được. Tìm tư liệu không khó trong thời buổi Internet
này, nhưng sử dụng tư liệu để dựng lại sự thật là một việc khác
hẳn.
Làm sao biết được về hoạt động chính trị của Lê Đạt
trước khi theo Việt Minh ? Lê Đạt đã từng theo Việt Nam Quốc Dân
Đảng?
Theo Văn Cao thì Phạm Duy là người đầu tiên đã dẫn
ông liên lạc với Việt Minh, Phạm Duy cũng là người chứng kiến sự
ra đời của bài Tiến Quân ca, là người "cướp" micro trước
cửa Nhà hát lớn ngày 17/8/1945 để hát bài Tiến Quân Ca lần đầu tiên
trước công chúng.
Khi in lại đoạn hồi ký của Văn Cao về bài Tiến quân
ca, người ta đã cắt bỏ tất cả những chi tiết nói về Phạm Duy, có
chỗ thay bằng Nguyễn Đình Thi. Một mặt khác, ngay chính bản thân
Lê Đạt và Phạm Duy, vì an ninh của bản thân và của gia đình, các
ông đã không thể nói tất cả sự thật, càng không thể viết ra trên
văn bản.
Chúng ta biết gì về hoạt động của Thụy An ? Về "mối
tình đầu" của Thụy An với Võ Nguyên Giáp ? Về những bí mật
giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân Quốc Dân Đảng ? Tại sao
Thụy An quay trở lại Bắc, trong khi gia đình bà di cư vào Nam ?
Những bí mật ấy, tuy chỉ là những chi tiết, nhưng
ngày nay, những người muốn biết sự thật, phải có quyền được biết,
đặc biệt là những nhà nghiên cứu về thời kỳ lịch sử này.
Nếu biết được những chi tiết ấy, chúng ta sẽ thấy
tất cả những hoạt động đảng phái thời kháng chiến chống Pháp không
đơn giản như hai với hai là bốn: theo bên này là yêu nước, theo
bên kia là bán nước. Mà bất cứ cá nhân nào dù là văn nghệ sĩ, trí
thức hay hoạt động chính trị cũng có thể theo hai ba con đường khác
nhau, trong suốt hành trình sống của mình.
Vấn đề của người nghiên cứu là phải tìm hiểu những
đầu mối đan cài vô cùng phức tạp giữa các khuynh hướng chính trị,
văn hoá khác nhau giữa những đảng phái như Việt Minh, Quốc Dân Đảng,
Đệ Tứ, trong mối tương giao không xé ra được.
Những người đã từng tham gia các tổ chức khác nhau
ấy, đã phải chối bỏ lẫn nhau hoặc không dám nói đến toàn bộ hành
trình của họ, khi theo bên này, lúc ở bên kia, trên đường tranh
đấu cho độc lập, tự do, dân chủ.
Bi kịch của họ phản ánh bi kịch chung của toàn thể
dân tộc.
(Hết phần I)
|