Nhìn Những Mùa Xuân Qua
Ngọc Dung


Lời người viết: Những điều chia xẻ dưới đây xuất phát từ cảm nghĩ về cuộc đổi đời năm 1975, với những kỳ niệm, những hình ảnh và cảm xúc như còn rất “sống” trong tâm tư. Do đó có thể nói bài viết không có thời gian tính, không có “ mùa”. Mà chỉ là một sự giãi bày cảm xúc trước một sự đổi thay vĩ đại của đất nước đưa đến một sự xáo trộn không thể tránh trong cuộc sống của nhiều người, nhiều gia đình…

 

Vancouver một ngày lạnh giá. Mưa, gió tả tơi. Chẳng thấy gì là Xuân cả. Gần tới Tết rồi mà sao không có không khí “Tết” chút nào…Chỉ thấy giá rét. Mùa Đông Vancouver là thế. Ông trời sao khéo oái oăm, chẳng chiều lòng nguời gì hết. Thật là … nghịch lý! Nhưng, nói cho cùng, điều “nghịch lý” ấy cũng có thể hiểu đuợc; bởi lẽ Tết của mình lại rơi vào mùa Đông của “nguời ta“, thì trách chi thời tiết không lạnh lẽo, cây cỏ không héo tàn? Nhất là ở xứ Vancouver nắng ít, mưa nhiều này.

 

Thông thường, khi nói đến Mùa Xuân, người ta dường như ai cũng nghĩ ngay đến mùa của hoa nở, chim hót (nếu còn ở Việt nam). Người ta cảm thấy không thể nào thiếu của những cành mai rực rỡ, những chậu cúc vàng tươi và nhất là của những cành hoa đào đậm đà một màu hồng hạnh phúc. Hơn thế nữa, mùa Xuân là mùa của vui tươi, hạnh phúc, của xum vầy, họp mặt. Và, khi nói đến Xuân người Việt Nam ta thường nghĩ đến ngày Tết.


"Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông ..."(Kiều)

 

Nghĩ đến Tết là nghĩ đến một sự đổi mới, theo truyền thống, một sự đổi mới trong tâm thức đã đành mà đổi mới trong thực tế, trong sinh hoạt con người nữa. Dù giàu, dù nghèo, ai nấy đều khó bỏ qua việc tiến hành điều mà người ta cảm thấy không thể thiếu trong…cuộc đời này: Đón Xuân. Do đó, dường như mọi người, mọi nhà đều phấn khởi muốn làm một cái gì “mới” với một niềm hi vọng thầm kín là bản thân hay gia đình sẽ được may mắn hơn; nếu chẳng “bằng năm bắng mười năm ngơái” theo kiểu chúc tụng xưa thì ít nhất cũng phải “ khá hơn“ năm cũ. Đơn giản chỉ có thế. Và vì thế , khi nói đến Tết, đến Xuân là nói đến cả một sự chờ đợi, một chuẩn bị, đôi khi rất trịnh trọng.

 

Dĩ nhiên cũng “tùy gia phong kiệm”. Người giàu đón Xuân theo “kiểu giàu“, phú quý sinh lễ nghĩa. Người nghèo đành đón Xuân theo kiểu nghèo, “chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết “. .. Nhưng tựu trung thì dường như từ ngàn xưa, người mình vẫn khó bỏ tập tục lâu đời ấy: Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa cũng phải ráng làm một cái gì để chào đón mùa Xuân, chào đón Tết. Lắm nhà lại trân trọng chuẩn bị khá kỹ càng để “tống cựu nghinh tân” mà Giao thừa là một tiêu biểu cho giai đoạn “transition”(giai đoạn chuyển tiếp) này. Người ta đã không “nỡ” để cho Xuân đến một cách tự nhiên, mà là cả một sự sửa soạn, từ giản dị đến tươm tất tùy theo hoàn cảnh. Rõ ràng ý niệm Xuân và Tết gắn liền nhau, vì đó là dịp để mọi người (Viêt Nam) trong gia đình đoàn tụ, là một mùa đầm ấm. Hình ảnh Xuân là hình ảnh hạnh phúc của mọi người, mọi nhà. Hình ảnh của sự vui mừng, phấn khởi khi đón chào một cái gì Mới, Đẹp, Hạnh Phúc và Uớc vọng tương lai. Quả là:

“Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà…”
(Tràn Tế Xương)

 

Thế mà vẫn có những trường hợp ngoại lệ, rất đáng ái ngại. Đó là có lắm nhà nghèo phải đi vay mượn để lo cho mấy ngày Xuân, để gia đình được hưởng một cái gì rất “Tết” cho đỡ tủi. Đó là trường hợp tiêu biểu cho hoàn cảnh xã hội đa dạng và đa ….chênh lệch của những ngày tháng cũ, khi chúng ta còn ở nơi quê nhà. Sự khác biệt giữa người giàu với người nghèo khá rõ rệt, được thể hiện qua văn chương hay được chứng kiến trong thực tế. Nhưng nói cho cùng thì xã hội nào cũng có sự chênh lệch như thế.

 

Và ngưòi ta không khỏi ngậm ngùi khi mục kích cảnh bất hạnh của những người rất nghèo, nghèo tả tơi và rất đáng thương, mà Tết đến không khỏi khiến cho người ta cảm thấy tủi thân. Cái nghèo không phân biết một ai. Nhưng nỗi cô đơn trong lúc Xuân về mới lại càng thấm thía. Nhà thơ Chế Lan Viên của thời tiền chiến đã cất tiếng than, buồn bã:


Tôi có chờ đâu, có đợi đâu,
Mang chi Xuân đến gợi thêm sầu,
Với tôi, tất cả như vô nghĩa,
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau ...
(Xuân, Chế Lan Viên)

Thậm chí nhà thơ không tránh khỏi xúc động trước cảnh nghèo quen thuộc trước mắt :

Có một người nghèo không biết Tết,
Mang lì chiêc áo độ Thu tàn …
(Xuân, Chế Lan Viên)

 

Ý nghĩa về Xuân là thế, và tình cảnh Xuân cũng phức tạp là thế, mặc dù từ lâu đã trở thành truyền thống của người Việt Nam. Nhưng Mùa Xuân năm 1975 thì đặc biệt lại đánh dấu một sự kiện hoàn toàn nghịch lý, và thật mỉa mai trong ý nghĩa, vì đã ngược lại với tất cả. Có thể nói lúc ấy dường như đất nước không có một mùa Xuân trọn vẹn. Mùa Xuân nếu có thì cũng chỉ “có” trong vội vàng mà giờ đây tôi chỉ nhớ mang máng. Vì ngay từ đầu năm cũng đã rục rịch tin tức chiến sự không ổn từ khắp nơi. Nhiều người mang tâm trạng như dầu sôi lửa bỏng và hoang mang chưa biết tình hình đất nước sẽ biến chuyển ra sao. Bây giờ hồi tưởng lại thì không ai là không có ít nhiều kỷ niệm, mà thường là vui ít buồn nhiều…

 

Dạo ấy gia đình tôi còn sống ở Nha Trang. Những ngày đầu năm thành phố Nha Trang tuy còn đang sống bình yên, hiền hoà, nhưng nhiều người đã thấy không an tâm khi theo dõi tình hình chiến sự khắp nơi. Những ngày tháng kế tiếp lại càng cảm thấy bất ổn khi hàng ngày có biết bao nhiêu tin tức bất lợi từ nhiều nơi dồn dập đưa tới, người người phải vội vàng rời bỏ vùng giao tranh ác liệt, chạy di tản về thành phố tạm lánh nạn. Lúc ấy ở thành phố người ta như chẳng thiết nghĩ đến đón Xuân cho đúng cách, theo kiểu "truyên thống" làm gì. Vì như đẵ có dấu hiệu một sự thay đổi lớn đang diễn ra …

 

Tất cả nói lên một ý nghĩa trọng đại cho vận mệnh của đất nước và tương lai của dân tộc…. "Tết cho có" chưa xong đươc bao lâu đã thấy tiếp theo là một cuộc di tản vĩ đại; lịch sử còn ghi mà ngày nay khi nhắc lại ai trong chúng ta cũng còn nhớ rõ, tưởng như mới hôm nào…

 

Còn đâu Muà xuân là mùa của “Đoàn tụ“, mùa của “Hạnh Phúc“, của “Hi Vọng” năm xưa. Thay vào đó là một mùa Xuân ảm đạm: Mùa của Chia Ly, của Sầu hận, của Chua xót. Mối sầu chung mà cũng là mối sầu riêng, cô đơn và khủng hoảng. Chia ly đủ kiểu… Mọi người, mọi nhà đang sống yên ổn, phút chốc hạnh phúc tan theo mây khói; vì phải đương đấu với một thực tế vô cùng phũ phàng. Cần gì phải chính gia đình ta có người thân đi tù hay bản thân ta bị thiệt hại, ta mới đau khổ? Tuy không vì những ly do như thế, người thức thời cũng đã thấy thấm thía niềm đau - vì là niềm đau của môt mất mát lớn, niềm đau chung của đất nước…Tâm trạng phức tạp trong một thực tại đầy nghịch lý ấy …thử hỏi “ngàn năm hồ dễ mấy ai quên?” (Thế Lữ)

 

Ngồi đây giờ này, nhắc đến mùa Xuân năm ấy đúng là “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ …Một chuyện cũ ngỡ ngàng, khó quên. Ngỡ ngàng như tâm trạng của một kẻ lạc loài với một cảm giác rất xa lạ- xa lạ, ngay trên quê huơng của minh. Một cảm giác mất mát, nuối tiếc…về một cái gì đã qua như không bao giờ lấy lại được nữa. Trong văn chương hay trong âm nhạc, những lòi ca tưởng chừng không bao giờ phai nhạt chính là những hình ảnh một mùa xuân êm đềm còn lắng đọng mãi trong tôi : Bài “Xuân Thì” của Phạm Duy mà mỗi độ Xuân về, tôi thường được nghe, với giọng ca réo rắt của Thái Thanh thuở còn đương độ tài năng:

….Xa xa có tiếng kinh cầu,
Chiều trên dương thế quên sấu mênh (í) mông,
Người đi giữa độ Xuân nồng,
Nhìn nhau bỡ ngỡ dưng dưng lòng nhớ thương…

Nhưng bao la hơn cả, rộng mở hơn cả, và nhất là “toàn cầu” hơn cả là:

Người ôm nhân loại trong mình,
Cười không nưóc mắt cho xuân tình dây men…
(Xuân thì-Phạm Duy)

 

Hay, hình ảnh của một mùa Xuân thanh bình xa xưa, với một Văn Cao thuở trước, đầy thơ mộng:

 

Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước.
Em đến tôi một lần,
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến Xuân…

Ý Xuân dào dạt, tình Xuân chứa chan, lòng Xuân vương buồn nhè nhẹ,..

 

Buồn, nhưng không “khổ“. Thế mới nên thơ. Nỗi buồn nhè nhẹ và thi vị ấy nay còn đâu ? …Thay vào đó là cả một Mùa Xuân đầy thử thách, của mất mát, bàng hoàng….Hơn thê nữa, một mùa Xuân không lối thoát,.Trong nỗi bàng hoàng và bế tắc ấy, có biết bao người mang tâm trạng “những mình nào biết có Xuân là gì” (Kiều) .. Làm sao có được niềm hạnh phúc để “cười không nước mắt” cho được? Thực tế là lắm cảnh cười ra nước mắt; nhưng nếu có cảnh cười “không nuớc mắt” thì rõ ràng không phải vì vui, mà là vì nước mắt đã khô cạn cả…

 

Sống trên quê hương mà lại mang tâm trạng của kẻ lưu đày thì làm sao hạnh phúc đươc nữa. Đã mất rồi những kỷ niệm đáng ghi nhớ của thời quá khứ. Còn lại chăng là những ngậm ngùi và niềm tiếc nhớ không nguôi về một quá khứ êm đềm mà giờ đây biết:

“Tìm đâu những ngày thơ ấu qua,
Tim đâu những ngày xinh như mộng…”
(Bài hát «Tìm Đâu»)

 

của một thời cắp sách nên thơ? Hay chỉ còn lại những ngậm ngùi …

Nhưng rồi, việc gì phải đến đã đến. Một cuộc hành trình đi tìm tự do, rồi những hành trình khác kế tiếp và cứ thế mà tiếp diễn, liên tục trong suốt mấy mươi năm…như ta đã thấy. Cả môt trang sử diễn ra truớc mắt, hạnh phúc rồi cũng có mà cay đắng cũng nhiều . Những kinh nghiệm đầy thử thách và nhiều cảnh cuời ra nuớc mắt…

 

Cuối cùng, sau bao năm “vật lộn” với cuộc sống nơi xứ lạ, nguời mình cũng đã xây dựng cho mình, cho gia đinh, một cuộc sống vững vàng và ổn định. Chốc đã trải qua trên ba thập niên…Nhưng vẫn không vì thế mà quên nghĩ đến quê huong, đất nuớc. Nói sao cho xuể tâm tình đối với nuớc non…Như một nguời tình bội bạc, nguời Việt bỏ nuớc ra đi không hề nhớ lời thề năm xưa:

 

“Nuóc non nặng một lời thề,
Nuớc đi, đi mãi không về cùng non,
Nhớ lời nguyện nuớc thề non,
Nuớc đi chưa lại, non còn đứng không”…
(Tản Đà)


Hoàn cảnh đưa đẩy, không còn chọn lựa nào hơn : Thà làm một giòng nuớc trôi đi, và đi mãi, cũng đành. Trong tình thế chẳng đặng đừng ấy, nguời Việt chúng ta như giòng nuớc cuốn “… đi, đi mãi”, đi hoài, dù phải vuợt qua bao thử thách để mà vươn lên, học hỏi không ngừng, chờ ngày tươi sáng… Còn hơn là đứng tại chỗ mà đau lòng, hay mang tâm trạng bất lực. Còn hơn về để chứng kiến cái nhục của đất nuớc khi có những kẻ cúi đầu cam tâm làm nô lệ cho ngoại bang, mặc cho dân tình đói khổ, lầm than. Điều này thiết tuởng không cần thiết phải nêu lên vì báo chí trong ngoài nuớc đã có đăng tải đầy.


Niềm Vui vẫn rộn ràng

Đêm qua, sân trước, một cành mai (*)

 

Trở lại thực tế, một điều rất vui và phấn khởi mỗi dịp Tết đến, là ở ngay trên xứ nguời không khí Xuân cũng đầy khắp nơi, dù không thấy ở ngoài trời nhưng nguời ta vẫn sửa soạn nhộn nhịp cho ngày Tết trong các dinh thự lớn.

 

Ở Canada, vì thời tiết khá lạnh nên chúng tôi không có đuợc cái không khí mát mẻ “hơi lành lạnh” để được tung tăng ngoài đuờng như của những buổi đầu Xuân thi vị nơi quê nhà… Nhưng người Việt ta cũng không “chịu thua”, vẫn đón Xuân, vẫn chuẩn bị ngày Tết trong nỗi hân hoan. Nguời mình vẫn thích dùng phong bao đỏ với tiền lì xì, vẫn có buổi đón giao thừa trong mỗi gia đinh. Nơi Cộng đồng còn có Văn Nghệ Mừng Xuân, vẫn có múa lân và cả những món ăn truyền thống. Với ý thức về thời buổi kinh tế khó khăn toàn cầu và tình trạng thực phẩm có hoá chất ngày nay, người mua sắm phải cân nhắc kỹ càng hơn…

 

Nhưng cũng không vì thế mà trở nên mất hào hứng. Trời lạnh mấy thì lạnh, nơi chốn chùa chiền hoặc nơi nhà thờ vẫn không thể thiếu nguời đi lễ cầu nguyện, để hái lộc đầu năm, và để tuởng nhớ nguời thân đã khuất. Hàng năm, Cộng Đồng nguời Việt khắp nơi không quên tổ chức một buổi Lễ thật trịnh trọng, có ban thờ để các vị bô lão khăn đóng áo dài làm lễ vái tổ. Đó cũng là một hình thức làm ấm lòng nguời Việt trong lúc xa quê hương, và đủ làm tạm quên cái giá lạnh bên ngoài.

 

Chúng ta, những nguời dân Việt tha hương, thế nào chả có lần tự hỏi: Biết đền bao giờ ta mới lại về quê cũ ? Về, theo nghĩa thực tế nhất, là về để sống, không phải chỉ là “về thăm”. Mà, “về“ để sống trên quê hương trong một hoàn cảnh như thế nào và khi nào có thể “sống” đuợc.

 

Đó mới là điều chúng ta cần cân nhắc…Và đó là một câu hỏi lớn mà chính mỗi nguời trong chúng ta - những kẻ thức thời - đều có thể trả lời. Rất giản dị, chỉ cần sống bình thường, thẳng thắn và hiên ngang, không sợ một thế lực nào làm cho ta giao động lập trường yêu Tự Do và công lý. Nếu ta nghĩ đúng, làm đúng, nói đúng thì hoàn cảnh dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn sống một cách hiên ngang, tự hào. Nhất là dù sống ở đâu đi nữa ta cũng không để cho mình phải mang cái tâm trạng của kẻ lầm đường, đã lỡ:

Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu? (Kiều)

 

Trong hoàn cảnh hiện tại, có thể nói, ở đâu cũng là quê hương nếu chúng ta còn nói đuợc tiếng nói của ta, giữ đuợc bản sắc của dân tộc trong khi vẫn hoà mình vào xã hội mới với nhiều luồng văn hoá khác thì tâm hồn ta sẽ rộng mở hơn, nhân cách ta mới được phong phú hoá thêm. Nơi đó cũng có thể tạm coi là quê hương thứ hai của mình.

 

Sẽ có ngày về lại cố hương trong Độc Lập, Tự Do thật sự, không nô lệ chính là niềm mong mỏi thiết tha ầp ủ trong lòng của mỗi nguời dân Việt, ở khắp mọi nơi…

(*) Nguyên văn: “Đình tiền, tạc dạ, nhất chi mai” (Thơ đời Lý)


Vancouver, Canada
Một ngày cuối năm 2010