|
Nha
Trang ngày xưa
Trần Đăng Hồng
“Sông kia rày đã nên
đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm đêm tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”
(Thơ Tú Xương)
Vạn vật đổi thay theo ngày tháng,
nhưng lịch sử vẫn khắc ghi lại muôn đời. Địa danh Kauthara (tức
Khánh Hoà bây giờ) đã được nhắc đến từ năm 90 trước tây lịch do
các nhà hàng hải Ấn Độ giao thương với Trung Hoa qua hải trình từ
Bengal, ghé Óc Eo (thủ đô nước Phù Nam, nay là Hà Tiên, Châu Đốc),
Kauthara và Sông Hồng để mua tiêu và gia vị khác. Tại các hải cảng
ở Kauthara, như Chutt (Chụt) và Kamran (Cam Ranh), thương gia Ấn
mua trầm hương, ngà voi, sừng tê giác và đồi mồi để bán vào Trung
Quốc. Thị trấn Ya-Tră, người Việt sau này (kể từ 1653) phát âm thành
Nha Trang, được lịch sử Chăm nhắc đến vào năm 653 khi nử hoàng Jagadharma
mất, dân Chăm lập đền thờ bà trên một ngọn đồi, bên cạnh một con
sông, chính là tiền thân tháp Po Nagar – Tháp Bà - ở Cầu Xóm Bóng
Nha Trang ngày nay (1).
Vào thế kỷ thứ 1 sau dương lịch, người bản xứ ở Nha Trang thuộc
sắc tộc hải đảo Malayo-Polynesien, thuộc nước Phù Nam, theo văn
hoá Ấn Độ, và đến khoảng thế kỳ thứ hai mới thuộc Chiêm Thành, tức
Nam Chiêm (Panduranga) có lảnh thổ từ Khánh Hoà đến Bình Thuận.
Kể từ thế kỷ thứ hai, dưới thời Lâm Ấp (Chiêm Thành), hải cảng Chutt
và Kamran là nơi thuyền buôn từ Ấn Độ tấp nập đến buôn bán, và truyền
bá văn minh, văn hoá, tổ chức xả hội, kỷ thuật hàng hải, thương
mại, nông nghiệp của Ấn Độ. Đạo Bà La Môn và Phật Giáo (Tiểu Thừa)
thịnh hành ở Nam Chiêm. Như vậy, Phật Giáo đã có ở Nha Trang từ
thế kỷ thứ 2, và từ Nha Trang Khánh Hoà, văn hoá Ấn Độ được truyền
sang Bắc Chiêm, vốn bị ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa (nhà Hán).
Vào thế kỷ thứ bảy, nhiều thuyền buôn từ Trung Đông như Iraq, Oman,
rồi Java và Mả Lai cặp bến Nha Trang và Cam Ranh để buôn bán và
truyền đạo Hồi Giáo. Các nhà hàng hải Âu Châu như Hoà Lan, Bồ Đào
Nha cặp bến Nha Trang buôn bán vào thế kỷ 15.
Như vậy, dưới thời Chiêm Thành, Nha Trang vừa là trung tâm tôn giáo
(Tháp Bà), vừa là hải cảng phồn thịnh tấp nập thuyền buôn ngoại
quốc, và cũng là căn cứ quân sự của Chiêm Thành. Nha Trang có một
vị trí chiến lược quan trọng. Năm 774, quân Nam Đảo (Indonesia)
đổ bộ vào Nha Trang đốt Tháp Po Nagar và cướp đi nhiều báu vật.
Từ hải cảng Nha Trang và Cam Ranh, vào những năm 803 và 808, Chiêm
Thành mang thuyền chiến tấn công vào Châu Hoan và Châu Ái của Đại
Việt, rồi đem thuỷ quân trừng phạt vương quốc Kelantan ở Java, và
Patani ở Malaysia, rồi chiếm đất Đồng Nai Thượng của Khmer; năm
808 lại tấn công Châu Hoan, Châu Ái; năm 817, tấn công Kambujas
(Kampuchia). Năm 1600, các hải cảng Nha Trang và Cam Ranh được Chiêm
Thành trang bị đại pháo tối tân mua của Châu Âu để phòng thủ chống
với Việt Nam.
Nha Trang thuộc về Việt Nam từ năm 1653. Chúa Nguyễn đưa di dân
từ Quảng Nam Bình Định đến Khánh Hoà, và di dân Việt sống xen kẻ
với người Chăm từng cụm như da beo. Xung đột Việt Chăm thường xảy
ra ở vùng đất này, phần đông do tranh chấp ruộng đất, phần thua
thiệt về người Chăm.
Năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu phải
thoả thuận 5 điều khoản để bảo vệ quyền lợi và đối xử công bằng
với người Chăm. Vào thế kỷ 18, nhiều nhà truyền giáo Âu Châu tường
trình còn thấy nhiều làng người Chăm ở gần Nha Trang. Ngày nay không
còn thấy làng người Chăm nào nữa.
Vào thời Chúa Nguyễn và Tây Sơn, Nha Trang là một hậu cần cung cấp
lương thảo với kho luơng thực Phước Sơn và xưởng đóng tàu chiến
tại chân núi Trại Thuỷ (còn gọi Khô Sơn) ở Phương Sài ngày nay.
Bến sông Phương Sài ngày xưa gọi là “Trường Cá”.
Thành Diên Khánh, vào thời Nguyễn được gọi “Nha Trang Thành” (theo
Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Siêu đời Tự Đức), là nơi tranh
chấp đẫm máu nhiều lần giữa chúa Nguyễn và Tây Sơn. Diên Khánh lọt
vào Tây Sơn năm 1776. Tháng 5 năm Quý Sửu (1793), chúa Nguyễn Phúc
Ánh cùng với Nguyễn Văn Trương và Võ Tánh đem thủy quân vào cửa
bể Nha Trang, đánh phủ Diên Khánh. Một trận đánh khốc liệt giữa
quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn tại Phương Sài tháng 5 năm 1793: “Thủy
binh vào cửa Nha Trang, đánh lên Diên Khánh. Quân Tây Sơn chận lại
tại bến sông Trường Cá.
Hai bên kịch chiến. Người chết, thuyền
chìm đầy cả khúc sông”. Nguyễn Ánh chiến thắng, tiến lên chiếm Diên
Khánh (tháng 5, 1793), sau đó tiến chiếm phủ Bình Khang (Ninh Hoà),
Phú Yên, rồi tiến đánh Qui Nhơn. Vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản,
Tây Sơn), sai Ngô Văn Sở đem 17,000 bộ binh và 80 con voi đi đường
bộ, và Đặng Văn Chân đem hơn 30 chiếc thuyền đi đường bể, cùng tiến
vào cứu Qui Nhơn. Nguyễn Vương, liệu thế chống không nổi, rút quân
về hậu cứ Diên Khánh, rồi về Gia Định, để Nguyễn Văn Thành ở lại
giữ Diên Khánh.
Tháng 11 năm 1793, chúa Nguyễn Ánh
sai hoàng tử Cảnh, giám mục Bá Đa Lộc, Phạm Văn Nhân và Tống Phúc
Khê đến Diên Khánh tăng cường phòng giữ. Tháng ba năm Giáp Dần (1794)
vua Tây Sơn sai Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh. Nguyễn
Ánh bèn đem đại binh đến đánh giải vây, Trần Quang Diệu rút quân
về. Nguyễn Vương thấy thế Tây Sơn còn mạnh và lại đến mùa gió bắc,
nên về lại Gia Định, để Võ Tánh giữ thành Diên Khánh. Tháng giêng
năm Ất Mão (1795) Trần Quang Diệu lại đem thuỷ quân vào đánh Diên
Khánh.
Một trận chiến khốc liệt khác cũng
xảy ra tại Trường Cá (Phương Sài). Khi thủy binh của Trần Quang
Diệu vào Sông Cái thì bị quân Võ Tánh chận đánh tại Trường Cá, hai
bên tổn thất nặng nề “xác chết và ván thuyền hư chận đứng cả nước
sông”(3). Do bị thiệt hại nặng về nhân mạng, Võ Tánh rút quân chạy
vào thành Diên Khánh cố thủ. Trần Quang Diệu vây chặt thành.
Hay tin, tháng Hai năm 1795 Nguyễn
Phúc Ánh liền đem thủy binh ra cứu nhưng không lên nổi Diên Khánh
nên đành phải đóng quân chận nơi cửa sông Nha Trang và các nơi núi
non hiểm yếu. Quang Diệu đánh mãi không được cuối cùng phải lui
về Phú Xuân, và Nguyễn Vương cũng rút quân về Gia Định. Kể từ nay
cho đến ngày thống nhất đất nước (1802), Diên Khánh trở thành tiền
đồn của chúa Nguyễn, lần lượt do Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường,
Võ Tánh cai quản, và sau này là nơi xuất phát tấn công Tây Sơn ở
phía bắc. Khu đất phía ngoài Cửa Nam Thành Diên Khánh có tên Mả
Xá, là nơi hàng ngàn chiến sỉ của hai bên được chôn vùi tập thể,
một thời có tiếng là ma oan hiện về khuấy phá.
Sông Cái Nha Trang phát xuất từ ba nguồn thuộc dảy Trường Sơn. Sông
này tên Chăm là Ya-Tră (người Việt phát âm thành Nha Trang), hai
bên bờ toàn lau sậy nên còn gọi “Sông Lau”.
Ở thế kỷ 17, sông này chảy ra biển
theo ba nhánh, một nhánh có tên là Ngư Trường từ Cầu Dứa chảy ra
Cửa Bé Cù Huân, như ghi trong Đại Nam Nhất Thống Chí. Hai nhánh
kia chảy ra Cửa Lớn Cù Huân (sau này thành Xương Huân). Sông Ngư
Trường sau này đã bị bồi đấp và biến mất, chỉ còn vài đoạn nhỏ.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: "Tấn
Cửa Bé Cù Huân ở cách huyện Vĩnh Xương 29 dặm về phía đông nam,
cửa lạch rộng 190 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều
xuống sâu 4 thước. Ngoài cửa có hòn Lam Nguyên, hòn Tằm, hòn Ba
La, hòn Lớn, hòn Môn, các đảo nầy bao quanh, tàu thuyền tụ tập.
Gió bắc thì tàu đổ phía nam núi, gió tây thì đổ phía bắc núi, đều
được an ổn. Gần đó có thôn Trường Tây". Vì vậy, trứớc 1940,
dân vùng Diên Khánh gọi Nha Trang là “Cửa”, và “Cửa Bé” là địa danh
Trường Đông, phía nam Cầu Đá. Sông Cái đến địa phận Nha Trang thì
chia hai nhánh, nhánh cầu Hà Ra và nhánh cầu Xóm Bóng bên Tháp Bà.
Ngày xưa nhánh sông bên Tháp Bà "nước giữa dòng bên trong bên
đục" bên nước trong xanh uống ngọt, bên kia màu đục uống vô
mặn chát nước muối.
Về tổ chức hành chánh, từ thời vua Minh Mạng (1820-1837), tỉnh Khánh
Hoà có Ty Bố Chánh và Ty Án Sát, đặt dưới quyền của viên quan Tuần
Vủ Thuận Khánh (kiêm nhiệm cai quản từ Khánh Hoà đến Bình Thuận).
Tuỳ theo tình hình chính trị, chức vị đầu tỉnh khi mang tên Tổng
Đốc, khi Tuần Vũ quan phòng, sau này thành Tỉnh Trưởng. Hậu bổ Khánh
Hoà năm 1842 là ông Trần Thiện Chánh (mà ca nhạc sỉ Trần Thiện Thanh,
Nhật Trường, là hậu duệ).
Quân Pháp đặt chân đến Nha Trang lần đầu là năm 1862. Vị Án Sát
Diên Khánh năm 1867-1870 ở Diên Khánh là Nguyễn Thông. Năm Ất Dậu
1885, chiếu theo hiệp ước Patenôtre, quân Pháp chính thức đến Nha
Trang, với viên Công Sứ Pháp đầu tiên là Lenormand, bắt đầu áp đặt
chánh sách cai trị Khánh Hoà. Viên Tuần Vủ Việt Nam của triều đình
Huế ở Thành Diên Khánh vào khoảng năm 1886 là Ông Trương Gia Hội.
Các ông Nguyễn Thông và Trương Gia Hội đều là những vị quan tài
giỏi, liêm khiết, có tâm huyết, của triều đình Huế ở Thuận Khánh
(Khánh Hoà Bình Thuận), có công phát triển nông nghiệp, lập dinh
điền, và là người có công khám phá vùng Di Linh Lâm Đồng mười năm
trước khi Bác sỉ Yersin khám phá vùng này và Đà Lạt.
Dưới thời vua Đồng Khánh, các tỉnh Bình Định, Phú yên, Khánh Hoà
và Bình Thuận được gọi là các tỉnh Tả Trực Kỳ, vào năm 1886 cai
quản bốn tỉnh này bởi vị Khâm Sai là Phan Liêm, con thứ ba của Phan
Thanh Giảng, và Phó Khâm Sai là Phạm Phú Lâm (con quan tả tham tri
lại bộ Phạm Phú Thứ trong phái bộ sang Pháp chuộc 3 tỉnh miền đông
Nam Kỳ).
Theo hiệp ước Patenôtre (06/06/1884) thì triều đình Huế - chính
phủ Nam Triều - trên danh nghĩa cai quản một lảnh thổ nhỏ hẹp từ
Khánh Hoà đến Đèo Ngang, trong thực tế mọi chuyện ở địa phương đều
do Pháp định đoạt. Vào năm 1890, Ông Phan Liêm được Pháp và triều
đình Huế cho làm Tổng Đốc Thuận Khánh.
Một trong những tổng đốc khét tiếng tàn ác ở vùng Bình Thuận Khánh
Hoà cho tới Bình Định, khoảng năm 1887, là Trần Bá Lộc. Ông theo
Pháp, giúp Pháp đắc lực trong việc dẹp tan và giết hại không biết
bao nhiêu chiến sĩ Văn Thân từ Bình Thuận đến Bình Định theo vua
Hàm Nghi và chống Pháp. Chỉ trong một năm (từ tháng 6 năm1886 đến
tháng 6 năm 1887) cùng với thiếu-tá De Lorme và viên Công-sứ Aymonier,
Trần Bá Lộc dẹp tan được Văn Thân từ Bình Thuận đến Bình Định.
Theo “Sài Gòn Năm Xưa” của Vương Hồng
Sển thì cả năm trời quân Pháp không dẹp được quân Văn Thân ở hai
tỉnh này (Bình Thuận và Khánh Hoà), khi bắt được địch quân thì người
Pháp chỉ nhốt vào khám. Ngược lại, khi làm Tổng Đốc Thuận Khánh,
chỉ trong vòng ba tháng thì Trần Bá Lộc dẹp tan Văn Thân: khi bắt
được địch quân thì chặt đầu tức khắc, “chém người như chém chuối,
chém không chừa một con đỏ”. Còn đối với địch binh không chịu qui
hàng, thì ông “sai bắt cha mẹ vợ con người đó đóng gông cầm tù,
ra hạn trong bao lâu đó nếu không qui hàng thì cha mẹ và vợ sẽ bêu
đầu, trẻ con thì bỏ vào lòng cối giã gạo, sai lính dùng chày lớn
quết như quết nem”.
Vì vậy, Cầu Sông Cạn ở Diên Khánh
là nơi bao chiến sĩ anh hùng bị xử trảm. Trong cuộc thám hiểm Đà
Lạt năm 1893, Bác Sỉ Yersin bị phục kích bắn bị thương ở rừng núi
Phan Rang. Nhóm phục kích là tù chánh trị vượt ngục ở Phan Thiết
do một người tên Thục cầm đầu. Một tuần sau, quân Pháp bắt được
40 trong số 56 người vượt ngục, trong số đó có viên chỉ huy Thục,
giải về Diên Khánh xử trảm. Trong bức thư gởi mẹ ở Pháp, Bác Sỉ
Yersin ca ngợi kẻ tử tù này là “rất can đảm và trầm tĩnh khác thường”
trước nhát gươm kết liểu cuộc đời. Trần Bá Lộc xú danh muôn thuở.
Trong bài thơ “Viếng mộ Trần Bá Lộc” tại Cái Bè (Mỷ Tho) của nhà
giáo Trần Văn Hương (nguyên Thủ Tướng, Tổng Thống VNCH) năm 1919
có hai câu:
“Mặt bia rờ rỡ lời khen thế,
Nét mực ràng ràng giọt máu dân...”
Địa danh Cầu Sông Cạn cũng là nơi xử trảm nhà ái quốc cách mạng
phong trào Duy tân Tiến Sỉ Trần Quí Cáp (1870-1908) ngày 15 tháng
5 năm Mậu Thân (15/6/1908). Ông đang làm giáo thọ ở Ninh Hoà. Quan
tỉnh Khánh Hoà lúc bấy giờ là Án sát Nguyễn Văn Mại và Bố chánh
Phạm Ngọc Quát cùng với viên khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ là Lévecque
đã ra lệnh xử chém ông.
Theo những hồ sơ lưu trữ tại Centre
des archives Outre Mer (CAOM) (Trung tâm Văn Khố hải ngoại) ở Aix-en-Provence
(Pháp), một quan chức Pháp tại phủ Ninh Hòa đến tận nhà bắt Trần
Quí Cáp ngày 16/4/1908, theo lệnh của khâm sứ Pháp Lévecque tại
Huế và của triều đình VN. Sau hai tháng không xét xử, ông bị chém
ngang lưng ngày 15/6/1908 tại Cầu Sông Cạn Nha Trang, vì người Pháp
sợ Trần Quí Cáp sẽ lãnh đạo dân chúng Khánh Hòa nổi lên gây xáo
trộn, sau khi những cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng bùng
nổ ở Quảng Nam, rồi lan dần xuống Quảng Ngãi, Bình Định.
Về phía VN, người tham dự từ đầu đến
cuối trong vụ án này, và cũng là kẻ đóng vai trò chính trong việc
thúc đẩy nhanh chóng bản án tử hình Trần Quí Cáp là quan bố chánh,
phó đầu tỉnh Khánh Hòa, Phạm Ngọc Quát. Ông ta vốn nổi tiếng là
một kẻ gian tham, và đã được công sứ Khánh Hòa mô tả là “Il est
intelligent, très allant, on peut tirer beaucoup de lui quand il
est compromis. Il m’a rendu services ici, ce n’est pas douteux,
dans les dernières semaines de son séjour; mais, il a emporté beaucoup
d’ argent,...” (thông minh, rất hăng hái, có thể khai thác được
rất nhiều khi ông ta có liên lụy.
Không có gì nghi ngờ về việc ông ta
đã phục vụ cho tôi trong những tuần lễ cuối cùng của ông ta ở đây;
nhưng ông ta ẵm theo nhiều tiền bạc) (6). Ngoài ra, một người khác
nghi có dính líu trực tiếp trong vụ xử tử Trần Quí Cáp là Án Sát
Khánh Hoà Nguyễn Văn Mại, mặc dầu sau này Ông ta chối tội.
Tư cách của Án Sát Nguyễn Văn Mại
được truyền trụng khi làm Bố Chánh ở Quảng Nam như sau “Thường ngày
sau khi trống đánh ba hồi, quan ngồi chễm chệ giữa công đường, xã
dân đến hầu mỗi người bưng một mâm lễ, đặt dưới đất ngoài sân cho
quan ngó thấy rồi sắp hàng lạy.
Đối với dân thì quan hầm hét: nào
giang nọc đánh, nào hăm chặt đầu, gông cổ v.v... Đã thế nhưng điều
đáng buồn là khi nghe có Tây nào đến thì ôi thôi! Áo không kịp gài,
giày không kịp mang, chỉ biết đứng nghe, tên thông ngôn nói chi
thì dạ nấy” (Theo Trần Huỳnh Sách, học trò của Trần Quí Cáp). Xúc
động với cái chết của Trần Quí Cáp, cụ Huỳnh Thúc Kháng có bài thơ
chử Hán khóc bạn: “…Bồng đảo xuân phong huyền viễn mộng, Nha Trang
thu khảo khấp anh hồn…” dịch “Bồng đảo gió thu đưa chờ giấc mộng,
Nha Trang cây cỏ khóc hồn thiêng”.
Cụ Phan Bội Châu trong "Văn
tế Thai Xuyên Trần Quí Cáp” có viết: "Nhớ khi ông ra tới trường
chém, dao đã kề cổ, còn thung dung xin với quan giám trảm, cho đặt
án đốt hương, áo mão nghiêm trang, bái tạ quốc dân ngũ bái, rồi
khẳng khái tựu hình, sắc mặt in như khi nhóm trò giảng sách!"
Còn cụ Phan Châu Trinh, từ trong nhà tù Côn đảo, cũng có bài thơ
khóc Trần Quí Cáp:
“Anh biết cho chăng hỡi Dã Hàng!
Thình lình sóng dậy cửa Nha Trang
Lời nguyền trời đất còn ghi tạc
Giọt máu non sông đã chảy tràn
Tinh vệ nghìn năm hờn khó dứt
Đổ quyên muôn kiếp oán chưa tan”
Viên Công Sứ (tức Tỉnh Trưởng) năm
1930 và 1933, lần lượt là Ông Bréda và Ông Destenay. Viên Tuần Vũ
Việt Nam cùng thời là Ung Trinh (hay Trinh Ung). Vị Tỉnh Trưởng
người Việt đầu tiên ở Nha Trang là ông Hoàng Phúc Hải.
Tỉnh lỵ Khánh Hoà đặt trong nội thành Diên Khánh – nên được gọi
Thành – cho đến 1945. Năm 1901, Ninh Thuận tách khỏi Khánh Hoà,
và từ đó đến 1945 tỉnh Khánh Hoà gồm hai phủ và bốn huyện, phủ Diên
Khánh có hai huyện là Vỉnh Xương (Nha Trang) và Phước Điền, và phủ
Ninh Hoà có hai huyện là Quảng Phước và Tân Định. Vào đầu thế kỷ
20, ngoài hai địa hạt hành chánh biệt lập là tỉnh Khánh Hoà và thị
xã Nha Trang, còn có hai cơ quan hành chánh đặc biệt gọi là Đại
Lý (Délégation), như Délégation de Ba Ngòi và Délégation de Suối
Dầu do một viên chức người Việt điều khiển gọi là Bang Tá.
Về mặt hành chánh, Nha Trang, trước năm 1945, gồm nhiều đơn vị gọi
là Phường, đặt theo thứ tự là Phường Đệ Nhất, Phường Đệ Nhị (1er
quatier, 2 er quatier). Vùng ngoại ô Nha Trang gồm có Phường Sài
(thường gọi Phương Sài), Phường Củi, Trường Đông (Cửa Bé), Trường
Tây (Cầu Đá). Nghị định ngày 30/6/1924 của viên Toàn Quyền Đông
Dương thiết lập thị trấn Nha Trang với bốn làng là Xương Huân, Phương
Câu, Vạn Thạnh và Phương Sài. Nghị định ngày 15/3/1944, thị trấn
Nha Trang được nâng thành thị xã với năm phường là Xương Huân, Phương
Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài và Phước Hải. Phước Hải trước 1944 gồm
có Xóm Giá (chuyên làm giá) và Xóm Dương, nhà cửa thưa thớt, toàn
là đồng cát, gò mả và cây ma dương. Năm 1945, tỉnh lỵ được dời từ
Diên Khánh tới Nha Trang. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh Khánh Hoà
gồm các quận Vạn Ninh, Ninh Hoà, Vĩnh Xương, Diên Khánh và Cam Lâm,
với tỉnh lỵ Nha Trang. Ngày 27 tháng 01 năm 1958, bải bỏ qui chế
thị xã, chia Nha Trang thành hai xã, là Nha Trang Đông và Nha Trang
Tây, đều thuộc quận Vĩnh Xương.
Theo Gabrielle Vassal (4), một phụ nử Anh có chồng Pháp là bác sỉ
thú y làm tại Viện Pasteur, đã sống ba năm ở Nha Trang từ năm 1904,
thì Nha Trang là một làng đánh cá nghèo nàn với khoảng 3 ngàn dân,
đa số sống nghề đánh cá, nhà tranh, một ít là nhà ngói, có một khách
sạn nhỏ của người Tàu, con nít còn ở truồng chơi ngoài đường. Đa
số dân chúng bị bịnh mắt bét, mắt hột.
Theo Gabrielle Vassal, so với vùng
phụ cận Sài Gòn thời đó, thì Nha Trang quá nghèo nàn. Cửa Bé là
cảng tàu tây phương cập bến, ở đó người Pháp có xây một hải đăng
hướng dẫn tàu bè. Cửa Bé cũng rất nghèo nàn, cứ mỗi 15 ngày có một
chuyến tàu bằng hơi nước chạy đường Sài Gòn Hải Phòng ghé cập bến
Cửa Bé. Đường từ Cửa Bé đến Nha Trang là đường mòn nhỏ hẹp đầy ổ
gà, với bụi cát và bùn lầy, với chiếc xe cọc cạch với con ngựa nhỏ
thó.
Đoạn quốc lộ qua Nha Trang cũng tương
tự như vậy. Cũng khoảng thời điểm này, Nha Trang có khoảng từ 20
đến 30 người Âu Châu, đa số là Pháp, gồm nhân viên hành chánh (đa
số là thuế vụ) và quân sự Pháp, kỹ sư Lục Lộ (Công Chánh), Hoả Xa
(bắt đầu xây dựng) và các nhà truyền giáo. Đứng đầu là vị Công Sứ
(Résident Maire) Pháp.
Về mặt kiến thiết, Nha Trang lúc đó
(1904) đã có Avenue de la Plage (Đại lộ Duy Tân) chạy dọc biển,
dọc đó đã có Viện Pasteur (xây năm 1895), dinh Công Sứ (khu Tỉnh
Trưởng), dinh Quan Năm (tức Bác Sỉ Yersin, xây 1895) ở Xóm Cồn,
vài nhà người Pháp, một khách sạn (có lẽ khách sạn La Frégate) dành
cho người Âu Châu và Bưu Điện.
Nhà của người Pháp xây bằng gạch tường
quét vôi trắng, mái ngói nâu, nhà có 3 gian, mặt trước là hàng hiên,
phía trước là một vườn hoa rộng. Mặt sau là một nhà cách biệt gồm
nhà bếp, phòng dành cho gia nhân người Việt khoảng 4-5 người. Chợ
Nha trang vừa được xây (chưa phải Chợ Đầm), nền xi măng, mái ngói,
còn nhỏ hẹp, chợ nhóm ngày hai buổi, sáng và chiều, trái cây, rau
cải, cá mắm bán la liệt chung quanh chợ.
Vào mùa khô thì chợ đầy bụi bậm, vào
mùa mưa thì ngập nước phải lội có khi tới đầu gối. Chợ Đầm Nha Trang
được xây cất lại đầu thập niên 1930s, nền cao trên 1 m để tránh
ngập lụt, dài và rộng thoáng hơn trước, dọc theo đường phố và bờ
hổ có xây nhiều kiosks. Chợ này bị cháy hoàn toàn năm 1966, và được
xây cất lại trên khu đất kế cạnh, vốn là một cái đầm được lấp. Đó
là Chợ Đầm ngày nay. Con đường từ Lầu Quan Năm (Yersin) sát bờ sông,
chạy dọc bờ tường Khu Công Sứ, có tên “Rue de l’Observatoire”, sau
1950 đổi thành đường “Thiên Văn” rồi “Nguyễn Bỉnh Khiêm”.
Cũng theo bút ký của Gabrielle Vassal, thì năm 1904, Nha Trang có
3 đầm nước, đứng ở Tháp Bà nhìn thấy rỏ 3 đầm này. Hai đầm ở hai
bên quốc lộ 1, nhỏ và cạn, sau này dần dần bị lấp, canh tác rau
muống (địa danh Rọc Rau Muống), còn ít dấu vết đầm lầy khoảng 1950,
và hoàn toàn không còn dấu vết vì xây dựng nhà cửa như hiện nay.
Đầm lớn nhất là vị trí Chợ Đầm Nha Trang ngày nay, có một đoạn có
bờ lát đá. Chung quanh Đầm là “Quai du Marché” – đường Bến Chợ.
Trứơc 1950, Đầm rất sầm uất với ghe
buôn bán tấp nập. Ở phía bắc Đầm có bến bán tre, lò o, nên có Xóm
Lồ Ô (ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bến Chợ). Sau 1966, Đầm này
bị lấp để xây cất chợ Nha Trang ngày nay.
Tháng 6 năm 1899, dịch hạch tái phát ở Xóm Cồn, rồi đến tháng 12
năm đó lan rộng đến hai làng khác ở Nha Trang. Để diệt trùng, nhà
cửa đâu đâu cũng đều được xịt nước vôi trắng xoá. Sau đó, chính
quyền phải cho đốt sạch nhà cửa (để tiêu diệt chuột), di tản dân
chúng đến vùng khác và tiêm ngừa huyết thanh toàn thể dân chúng
Nha Trang mới ngăn chận được dịch hạch. Cũng trong thời kỳ này,
dân vùng quê Diên Khánh mắc bịnh và chết vì sốt rét rất nhiều.
Năm 1902, khi Ông Beau lên làm Toàn Quyền Đông Dương thay thế Toàn
Quyền Paul Doumer, Ông bãi bỏ Nho Học thay vào bằng chữ Pháp, lập
Y Tế Cục, lập nhà thương, bưu điện, sở công chánh.
Vì vậy, Nha Trang có một trường tiểu
học kiểu mẩu dạy chữ quốc ngữ khánh thành năm 1906, đó là Trường
Nam Tiểu Học Nha Trang. Toàn tỉnh Khánh Hoà vào năm 1906 có 24 truờng
tổng. Năm 1928, thầy Cung Giũ Nguyên đến dạy học ở đây với chức
trợ giáo (instituteur stagiaire). Muốn được làm thầy giáo, phải
có bằng Thành Chung và phải đậu thêm Bằng Khả Năng Sư Phạm (Brevet
d’Aptitude pédagogique). Bằng này cần thiết để vào ngạch, nếu trong
hai năm không đỗ thì bị sa thải. Thầy giáo trong thời này mặc áo
dài đen, đầu đội khăn đóng, chân mang giày hạ bóng nhoáng. Ngay
cả các thanh tra người Pháp cũng khăn đóng, áo dài Việt nam.
Collège de Nha Trang, tiền thân của Trung Học Nha Trang, sau này
là Võ Tánh, thiết lập năm 1947 với một lớp duy nhất 1ère année (tức
Đệ Thất) khoảng 30 học sinh, mượn lớp học của Truờng Nam, dạy theo
chuơng trình Pháp Việt. Thầy Trương Văn Như làm hiệu trưởng đầu
tiên (từ 1947 đến 1951). Về sau, Thầy Như mở trường tư thục tức
trường Kim Yến. Thầy Vỏ Thành Điểm làm giáo sư hội hoạ từ 1947.
Từ 1949, chọn được khu đất rộng, với sự giúp đỡ đặc biệt của Ông
Tỉnh
Trưởng đương thời Trần Thúc Linh trích từ ngân sách tỉnh, trường
được xây cất và niên khoá 1952-1953, trường dời về vị trí ngày nay
và mang tên Võ Tánh, gồm 8 phòng học (4 ở tầng trệt, 4 trên lầu)
và dạy chương trình Việt.
Nha Trang có một nguyệt san đầu tiên, năm 1930, “Les Cahiers de
la Jeunesse ” viết bằng tiếng Pháp do thầy Cung Giũ Nguyên và Ông
Raoul Sereøne (nhân viên Hải Học Viện Nha Trang) chủ trương. Sân
tennis trước Trường Nam cũng đã có vào năm 1903, dành cho người
Pháp.
Dân số Nha Trang vào năm 1905 khoảng 3.000 dân, tăng lên 40.000
dân năm 1943, 172.000 năm 1979, 213.500 năm 1989, và 340.000 năm
1998. Dân số Nha Trang tăng nhanh sau 1945 do mất an ninh vùng thôn
quê, 1954 do dân di cư từ Miền Bắc chạy trốn Cộng Sản sống tập trung
nhiều ở Xóm Mới Phước Hải, sau 1975 do di dân từ miền Bắc.
Diện tích thành phố chính của Nha Trang năm 1998 là 7.255 ha, nếu
kể phụ cận là 238.000 ha.
Theo bút tích của các nhà truyền giáo (5), Nha Trang vào đầu thập
niên 1930 còn nhiều nơi hoang vắng, không người ở, đêm đêm cọp lai
vãng dọc biển trên đường Avenue de la Plage khoảng gần Chụt. Khoảng
đất từ Nhà Thờ Núi tới biển còn hoang vu, chưa có dân cư, toàn là
cát trắng, mồ mả, và cây ma dương. Trong thành phố, dân sống thưa
thớt, nghề chính là đánh cá, nghề nông, một số ít là công chức.
Phố xá, chỉ tập trung trên một phố chính, vẫn là ngôi chợ cũ nhỏ
(chưa có Chợ Đầm). Trên Avenue De La Plage chỉ có một số biệt thự
người Pháp như đã có từ 1903.
Về mặt tôn giáo, theo bia đá Võ Cạnh thì đạo Bà La Môn và Phật giáo
Tiểu Thừa từ Ấn Độ du nhập vào Nha Trang từ thế kỷ thứ hai, và từ
nơi đây truyền bá đến Bắc Chiêm. Di tích Phật giáo nay không còn,
nhưng di tích Bà La Môn Ấn Độ Giáo là di sản văn hoá Chăm tồn tại
và được dân Việt bảo tồn. Theo lịch sử Chăm ghi năm 653 dân Chăm
lập đền thờ vinh danh nử hoàng Jagadharma đã đưa đất nước Chăm thanh
bình thịnh trị.
Đền thờ bẳng gỗ được xây trên một
ngọn đồi, bên cạnh một con sông có tên Ya-Tră. Đó chính là tiền
thân của Tháp Bà ngày nay. Vào thế kỷ thứ 7, Hồi giáo được các thuyền
buôn Á Rập du nhập vào Nam Chiêm qua các cảng Nha Trang và Cam Ranh,
nhưng không thịnh hành, mãi tới thế kỷ thứ 10 mới thành công nhờ
các nhà truyền đạo Hồi giáo ở Java. Tuy nhiên, đạo này chỉ thịnh
hành với người Chăm ở vùng Phan Rang trở vào mà thôi.
Phật giáo Đại Thừa và lễ cúng Ông Bà được di dân Việt du nhập vào
Khánh hoà kể từ năm 1653. Người Việt đến đâu đều thành lập làng
xã, ở đó dân Việt xây cất Đình, Chùa, Miếu và Am. Đình là nơi thờ
phượng các vị tiền hiền khai phá thành làng xã, hay các vị có công,
các anh hùng, hay công thần do Triều đình chỉ định thờ cúng. Đình
làng cũng là nơi chính quyền làng xả làm việc, nơi hội họp của dân
chúng, nơi đình đám, lễ lạc, hội hè, hát bội, bài chèo v.v. được
tổ chức. Đình xây với mái ngói âm dương, tường gạch, nền cao, ở
vị trí trung tâm của làng xả, trên mảnh đất cao ráo nhất trong làng.
Nha Trang có Đình Xương Huân, Phương Câu, Phương Sài, Đình Ông (thờ
cá Ông). Chùa là nơi thờ Phật, có vị sư trụ trì, có cổng tam quan,
thường xây cất ở nơi tôn nghiêm, trên đồi cao, có nhiều cây cổ thụ.
Miếu để thờ các oan hồn, tử sỉ, mỗi năm chỉ làm lễ bái một lần.
Am là nơi tu thiền của một vài cá nhân, thường là nơi vắng vẻ.
Ở Ngọc Hội, có chùa Kim
Sơn là cổ kính nhất, có lẽ xây dựng từ 1708. Năm Canh Thân (1740),
Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) sắc cho đổi tên là Chùa Qui Tôn,
lại ban cho biển ngạch. Ngoài ra, chùa An Dưỡng ở Thái Thông do
Ngài Thiệt Phú xây dựng có lẻ cũng từ năm 1708.
Một miếu nổi tiếng và cổ xưa nhất Nha Trang còn tới ngày nay là
một miếu thờ thần linh xây dựng năm 1795 trên một ngọn đồi ở Sinh
Trung. Ngay sau khi lên ngôi năm 1802 vua Gia Long truyền lệnh xây
dựng lại quy mô miếu này - Miếu Tinh Trung - để thờ các anh hùng,
công thần, tử sỉ có công với Nhà Nguyễn. Địa danh Sinh Trung bắt
nguồn từ Tinh Trung. Năm 1852, vua Tự Đức cho trùng tu lại và đặt
tên Trung Nghĩa Miếu. Đức Từ Cung Thái Hậu (Mẹ vua Bảo Đại) thường
đến cúng lễ hàng năm. Năm 1950, ngài hiến dâng miếu này cho Phật
Giáo, và kể từ nay trở thành Chùa Kỳ Viên. Dân Nha Trang còn gọi
là Chùa Núi. Vị hoà thượng đầu tiên trụ trì là Hoà Thượng Thích
Thiện Minh.
Chùa Hải Đức được Thiền Sư Sư Viễn Giác xây năm 1883, trong thành
phố Nha Trang. Đầu tiên chỉ là một ngôi chùa nhỏ, có tên Duyên Sanh
Tự. Đến 1891, xây chùa lớn trang nghiêm hơn mang tên Hải Đức Tự.
Năm 1943, Đại sư Bích Không dời chùa lên đồi Trại Thuỷ, chùa hoàn
tất năm 1945. Cũng trên đồi Trại Thuỷ, còn hai chùa nữa là Chùa
Long Sơn và Chùa Bửu Phong (hay Linh Sơn). Nổi tiếng là tượng Phật
cao 9 m xây dựng năm 1963, cao 14 m kể cả bệ hoa sen. Leo 152 tam
cấp.
Các nhà truyền đạo Thiên Chúa Giáo người Pháp đến Nha Trang từ thời
Trịnh Nguyễn phân tranh. Năm 1653 cha Dòng Tên là Phêrô Marques
và năm 1655 một cha Giám Tỉnh Dòng Tên khác là Phanxicô Rivas đến
giảng đạo tại trấn Khánh Hoà. Năm 1664, Hội Truyền Giáo Hải Ngoại
(Société des missions étrangères) gởi Cha Chevreul đến truyền đạo
ở các tỉnh Miền Trung, nhưng gặp nhiều khó khăn trong việc truyền
đạo.
Năm 1672, Cha Lambert
de la Motte trên đường đi họp Cộng đồng Ðàng Trong cùng với hai
cha Miền Nam tiên khởi là cha Giuse Trang và Luca Bền đến Chợ Mới
giảng đạo.Thiên chúa giáo phát triển mạnh ở Khánh Hoà kể từ năm
1793, khi giám mục Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Béhaine) được chúa
Nguyễn Ánh sai đến tăng cường phòng thủ thành Diên Khánh cùng với
hoàng tử Cảnh, Phạm Văn Nhân và Tống Phúc Khê.
Bá Đa Lộc bấy giờ là
đại công thần của chúa Nguyễn Ánh. Nhờ vậy, các làng đạo Thiên chúa
giáo thành hình đầu tiên ở Khánh Hoà là xóm đạo Hà Dừa (kế thành
Diên Khánh), Bình Cang (giữa Thành và Nha Trang) và Ngọc Hội (Chợ
Mới). Từ các địa phận này, Thiên Chúa Giáo được phát triển đến Nha
Trang và các địa phương khác ở Khánh Hoà. Vào những năm 1858-1862,
phong trào “Sát Tả” chống phá Thiên Chúa Giáo dưới thời Tự Đức,
các làng này bị tổn thất khá nhiều nhân mạng, một số dân theo đạo
bị đem xử trảm tại Cầu Sông Cạn. Tổng số con chiên của toàn tỉnh
Khánh Hoà năm 1887 là 1210 người.
Năm 1929, Nha Trang chưa có nhà thờ, có khoảng 300 con chiên, đa
số làm nghề đánh cá, nông dân, một số ít là công chức. Tuy nằm trong
thị xã, nhưng Nha Trang lại là họ nhánh thuộc giáo xứ Chợ Mới. Ngày
Chúa Nhật, cha sở Chợ Mới lên Nha Trang làm lễ tại một ngôi nhà
trên Avenue De La Plage, hiện nay là trụ sở Tòa Giám Mục.
Nha Trang lúc bấy giờ
trên phương diện kiến thiết cũng chưa có gì đáng kể ngoài khu chợ
với vài dãy phố buôn bán và một số biệt thự của Pháp cất dọc theo
bãi biển. Nha Trang vào năm này chưa có Chợ Ðầm và Nhà Thờ Núi.
Ngay sau khi được cử
làm họ đạo Nha Trang, linh mục Vallet (Louis-Agrève-Célestin, 1869-1945,
tạ thế tại bịnh viện Nha trang) chọn một ngọn đồi ở tây nam Nha
Trang tức Núi Một để xây cất nhà thờ. Bắt đầu khởi công vào tháng
2 năm 1929, mất gần 3 năm để làm đường lên núi và chuẩn bị xây cất,
năm 1932 mới thật sự xây cất, mãi tới Phục Sinh 1933 mới hoàn tất,
nhà thờ Núi được Ðức Giám Mục Grangeon (Ðức Cha Mẫu) làm phép. Hơn
một năm sau, nhà thờ Núi có thêm hai chuông lớn và đồng hồ còn lại
cho đến ngày nay. Về sau Núi Một bị xẻ làm đôi thành con đường Nguyễn
Trải.
Đối diện với Tháp Bà bên kia Quốc Lộ 1, trên một ngọn đồi tuyệt
đẹp là nhà Tập Dòng Sư Huynh La San, Tu viện Phanxicô, Tiểu Chủng
Viện Hoa Mai (thành lập năm 1954), nhà Nữ Tu Kín (khánh thành tháng
9 năm 1961). Cha Maurice Bertin thuộc dòng Phanxicô đến Nha Trang
bắt đầu công việc xây dựng Tu Viên PhanXicô cùng với các cha Hugolin
Lemestre, André Durand và Léonard Ramon, vào khoảng tháng 6 năm
1938 và gần hai năm sau, tháng 7 năm 1940, tu viện Phanxicô hoàn
tất.
Quốc lộ xuyên Việt bắc nam đi qua Nha Trang đã có từ thời Chiêm
Thành, nhưng núi rừng ma thiêng nước độc, lắm đèo cao, nhiều sông
rộng, đường bộ chỉ dùng khi chinh chiến. Giao thông chính vẫn là
đường biển, từ các cảng Chutt, Cửa Bé và Cam Ranh thuyền bè tấp
nập ra bắc vào nam. Sau khi thống nhất đất nước (1802), vua Gia
Long cho trùng tu lại quốc lộ Bắc Nam (Route Mandarine – Đường Cái
Quan hay Quan Lộ) từ năm 1803, và thành lập các bưu trạm liên lạc
bằng ngựa. Đường bằng đất, có nơi rải đá, mùa hè thì bụi bậm, mùa
mưa thì lầy lội. Đến thời Pháp (sau 1885), để đặt nền cai trị lâu
dài và khai thác tài nguyên, chính quyền Pháp.
Nha Trang có hai chiếc xe hơi đầu
tiên vào năm 1901 là của Bác sĩ Yersin: đó là chiếc Serpollet năm
mã lực, chiếc xe Clément, và một thuyền máy mua từ Pháp, trong khi
công sứ tại Nha Trang chưa có xe. Hai năm sau (1903), ông bán chiếc
Serpollet năm mã lực này cho ông công sứ Nha Trang, rồi sang Paris
tậu chiếc xe Serpollet sáu mã lực. Tháng Giêng năm 1905, Yersin
bán chiếc Serpollet sáu mã lực, để tậu chiếc Serpollet mười một
mã lực. Năm 1910, ông định mua một chiếc máy bay, nhưng vì cả Việt
Nam chưa có phi trường, nên bỏ ý định đó. Air France mở chuyến bay
dân sự đầu tiên Sài Gòn-Paris năm 1932, phải mất cả tuần lễ mới
tới nơi. Bác sĩ Yersin đáp chuyến bay đầu tiên này để về Pháp.
Đường xe lửa xuyên Việt bắt đầu thiết kế xây dựng ở Việt Nam năm
1904, đoạn Phan Rang - Nha Trang hoàn tất năm 1912 với các ga Suối
Dầu, Cây Cầy, Phú Vinh, Nha Trang, Ngọc Hội, v.v.
Công trình phát triển Nha Trang phải nói là nhờ Bác Sĩ Yersin. Bác
sĩ Yersin đến Việt Nam ngày 18 tháng 10 năm 1890, đặt chân đến Nha
Trang ngày 29 tháng 7 năm 1891, và qua đời ngày 01 thảng 3 năm 1943,
chôn trên một ngọn đồi nhỏ trong vườn cao su Suối Dầu.
Viện Pasteur đựợc xây năm 1895 do Bác Sĩ Alexandre Yersin chủ xướng.
Với 5000 đồng bạc do toàn quyền Đông Dương Chevassieux trợ cấp,
Yersin lập một phòng thí nghiệm đơn sơ tại bờ bể Nha Trang, và cất
tại Suối Dầu một trại nuôi trâu bò, lừa ngựa, cùng thỏ chuột, dùng
cho việc thí nghiệm. Năm 1896, ông được chánh phủ biệt phái một
viên thú y nhà binh là Pesas đến săn sóc thú vật. Năm 1896, thống
chế Lyantey (lúc bấy giờ là thiếu tá) đến thị sát Nha Trang và thăm
viếng Viện Pasteur. Cũng năm này, Yersin chọn cái lô-cốt hai tầng
bỏ hoang gần xóm Cồn tại cửa Sông Cái để xây nhà ông –Dinh Ông Năm.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, nơi đây
vốn là một đồn biên phòng rất lâu đời. Dinh Ông Năm mỗi bề khoảng
7m50, có 3 tầng. Mỗi tầng có hành lang rộng bao bọc, có thể đi dọc
hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt là phòng ăn, tầng một
là phòng làm việc và tầng hai là phòng ngủ. Về sau, nóc nhà làm
thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn. Ông cho làm hai cái bồ
to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái
bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để
báo hiệu.
Năm 1897, Bác sĩ Yersin cho nhập nội giống cao su vào trồng thí
nghiệm ở Suối Dầu, và sau đó với sự cộng tác của kỹ sư canh nông
Vernet, hơn 100 ha cao su được trồng vào năm 1909. Năm 1915, Bác
sĩ Yersin cho trồng thí nghiệm cây kí-ninh ở Hòn Bà để cung cấp
thuốc trị sốt rét trong thời đệ nhất thế chiến.
Bác sĩ Yersin cũng mở hai trại nuôi
bò, một ở đảo Hòn Tre và một ở Suối Dầu. Về sau, bỏ đảo Hòn Tre,
và bò ở Hòn Tre trở thành bò rừng.
Hải Học Viện Nha Trang được thành
lập tại Cầu Đá năm 1921. Giám đốc đầu tiên là Armand Krempf. Công
tác xây cất với đầy đủ trang bị khoa học và khánh thành ngày 01/01/1930.
Hải Học Viện Nha Trang đã nổi tiếng quốc tế vì những nghiên cứu
hải dương học kể từ năm này. Tháng Hai năm 1933, vua Bảo Đại và
Nam Phương Hoàng Hậu đến thăm viếng. Ngày 01/01/1952, Hải Học Viện
được trao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, vị giám đốc người Việt
đầu tiên là Ông Ngô Bá Thành. Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ và Giáo sư Nguyễn
Hải có một thời làm việc ở đây.
Thầy Nguyễn Hải cũng dạy Võ Tánh khoảng
1956.
Nhà nghỉ mát của vua Bảo Đại xây cất năm 1923 trên một ngọn đồi
ở Cầu Đá.
Grand Hotels trên Avenue de la Plage hoàn thành vào cuối thập niên
1920s.
Có hai rạp hát xi-nê đầu tiên của Nha Trang vào cuối thập niên 1930.
Trên đường Độc Lập có rạp Abraham, năm 1953 ông Tôn Thất Đệ mua
lại đổi tên thành rạp Tân Tân. Kế gần đó là rạp Tân Tiến, chủ là
một người Ấn Độ. Rạp hát bội Thạnh Xương do ông Cò Xương thành lập
khoảng 1940s để đáp ứng nhu cầu xem hát bội của dân Nha Trang ngày
trước.
Nha Trang nổi tiếng với phong cảnh đẹp tuyệt vời. Con dân gốc Nha
Trang, trong nước cũng như ngoài nước, đều hãnh diện về quê hương
của mình. Nha Trang còn nổi tiếng quốc tế. Tháng 6 năm 2003, Nha
Trang được Câu Lạc Bộ các vịnh đẹp trên thế giới công nhận là một
trong số 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Tin vui này đến trễ.
Hơn một trăm năm trước (112 năm),
vào một buổi sáng đẹp trời ngày 6 tháng 5 năm 1891, một thanh niên
Pháp gốc Thuỵ Sĩ, 28 tuổi, làm y sĩ trên một tàu hàng hải đã sửng
sờ trước phong cảnh hùng vĩ và thơ mộng của Vịnh Nha Trang. Dưới
ánh nắng mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những dãy núi chập chùng
trên đất liền, với các hòn đảo nhấp nhô trên sóng biển xanh, với
bải cát trắng phau thấp thoáng xa xa. Chàng trai vội viết vào nhật
ký "Rời Sài Gòn phải mất 28 tiếng đồng hồ mới đến Nha Trang
tàu phải neo cách bờ một dậm, và chỉ đậu lại một giờ, vì thế không
lên bờ được. Thật đáng tiếc vì vùng nầy có nhiều núi non và phong
cảnh rất ngoạn mục”.
Hai tháng rưởi sau, ngày 29/07/1891,
khi chuyến tàu trở lại vùng này, chàng xin phép lên bờ với chiếc
thuyền độc mộc. Phong cảnh quá hữu tình, với bờ biển, cửa sông,
các đảo ngoài khơi màu sắc rực rỡ của một vùng quê nhiệt đới, với
khí hậu ôn hoà, đã chinh phục chàng trai.
Chàng quyết định bỏ làm y sĩ trên tàu, và chọn Nha Trang làm quê
hương thứ ba. Chàng làm việc trên 50 năm tại thành phố biển này,
và trước khi từ trần, ngày 01 tháng 3 năm 1943, đã trăn trối với
người cọng sự thâm niên, Ông Bùi Quang Chiêu của Viện Pasteur Nha
Trang “Hãy giữ tôi ở lại với Nha Trang, đừng cho ai lấy tôi đi.
Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu”.
Đó là Bác sĩ Alexandre Yersin, người
đầu tiên đã mô tả vẻ đẹp của Vịnh Nha Trang, và ông đã hiến dâng
cả cuộc đời ở quê hương này, nhờ đó thành phố Nha Trang mới có được
nổi tiếng ngày hôm nay.
Cám ơn các anh Trần-Đăng Nhơn và Trần-Đăng Lộc bổ túc và cho
ý kiến.
Vì thiếu nhiều tài liệu chính xác, một số thời điểm và địa danh
có thể sai lầm, mong các bậc uyên bác chỉ giáo.
Tài liệu chính tham khảo
1. Nguyễn Văn Huy (2005). Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt
Nam. www.thongluan.org ngày 27/02/2005.
2. Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược.
3. Quách Tấn (1969). Xứ Trầm Hương. Sài Gòn: NHB Lá Bối.
4. Gabrielle M. Vassal (1912). Mes trois ans d’Annam. Paris: Hachette.
5. Nguyên Hương. Lịch sử Giáo Phận Nha Trang. http://www.gpnt.net/giaophan/lichsugpthem.htm
6. Trần Gia Phụng (2000). Quảng Nam Trong Lịch Sử, Toronto: Non
Nước.
Reading (UK), 01 May 2006
Trần-Đăng Hồng
@vtnthntvienxu.com
|