|
Kỷ
niệm trên đồi
Nguyễn
Thanh Giản
Nếu tôi gặp một du
kích Việt cộng và hỏi tại sao anh chiến đấu, chắc chắn anh sẽ trả
lời một cách dễ dàng: “Tôi chiến đấu để chống lại bọn đế quốc đến
cướp nước tôi dù dưới hình thức thực dân cũ hãy thực dân mới.” Hoặc:
“Tôi chiến đấu để xây dựng một xã hội công bằng trong đó không còn
có cảnh người bóc lột người.” Thật là một lý tưởng cao cả, không
thể chê vào đâu được, do đó anh mới bỏ cả mẹ già vợ dại để ra đi,
sẵn sàng hy sinh cả thân mình cho lý tưởng kể trên…
Còn nếu tôi hỏi một binh sĩ của
trung đoàn tôi rằng tại sao anh chiến đấu, thì chắc anh cũng dễ
dàng trả lời: “Tôi chiến đấu để chống lại độc tài cộng sản.” Hoặc:
“Tôi chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ.” Cũng thật là một lý
tưởng cao cả không thể chê vào đâu được và nhiều người đã cũng như
anh hy sinh cho lý tưởng này…
Ngày mới ra trường, 25 tuổi, mang
cấp bậc Y sĩ Trung úy, tôi chẳng có một chút kinh nghiệm nào về
đời lính cả. Tới trình diện đơn vị tại trung đoàn 51 bộ binh vào
một buổi chiều, tôi được vị y sĩ tiền nhiệm chỉ cho một căn hầm
sâu khoảng một thước hình vuông, mỗi chiều khoảng ba thước.
Nóc hầm là một tấm vải cứng và dầy
để che mưa gió. Trong hầm có hai chiếc băng ca kê thành hai chiếc
giường. Anh ta nói:
“Tối nay cậu ngủ ở chiếc giường này,
còn tớ ở chiếc kia. Khi nào bàn giao xong, tớ đi thì cậu ngủ một
mình. Mặc dù lúc nào cũng ngủ dưới hầm cho chắc ăn, nhưng lâu lâu
Việt cộng hay pháo kích về đêm. Những lúc đó cậu phải chui vào cái
hố cá nhân kia, vì cần hầm này rộng, dễ bị trúng đạn. Còn hố cá
nhân đường kính chỉ có một thước, khó trúng hơn.”
Tôi ngây thơ hỏi anh:
“Thế nhỡ hố cá nhân cũng trúng đạn
thì sao?”
Anh ta tỉnh bơ:
“Thì càng tiện chớ sao. Đỡ phải chôn
cất!”
Tối hôm đó căn hầm của tôi được thắp
bằng một ngọn đèn 12 volts chạy bằng pin, ánh sáng lờ mờ. Anh em
y tá thuộc bộ chỉ huy trung đoàn gồm mười mấy người được lệnh lên
trình diện người chỉ huy mới. Từ trước tới giờ tôi có chỉ huy ai
bao giờ đâu, nên tôi chỉ mời anh em ngồi chung quanh trong hầm,
để nói chuyện gẫu một lúc cho quen biết nhau thôi.
Tôi được biết anh em đa số là người
quê ở Đà nẵng, Quảng nam với giọng nói đặc biệt của địa phương họ.
Chỉ có hai người là Nghĩa và Tri là người Sài gòn. Cả hai đều mang
cấp bậc trung sĩ, còn độc thân và đã phục vụ trên ba năm ở ngôi
làng hẻo lành này. Nói là hẻo lánh chứ thực ra không xa thành phố
mấy; nó nằm cạnh con đường số một nối liền hai thành phố Hội an
và Đà nẵng. Nếu lái xe Jeep tới hai thành phố đó, mất khoảng hai
mươi phút. Thế nhưng đây là một vùng quê hoàn toàn. Chung quanh
là đồng ruộng với tiếng côn trùng, tiếng ếch nhái từ xa vọng về.
Tôi ưa những tiếng này lắm vì chúng
chính là tiếng ru tôi trong suốt cả thời thơ ấu. Chỉ đến khi vì
chiến tranh, gia đình tôi dọn lên thành thị, tôi mới mất những tiếng
ru ngọt ngào này.
Tôi hỏi anh em về gia cảnh từng người
nên câu chuyện càng thêm thân mật. Tôi được biết nhiều anh em đã
đi tác chiến lâu năm, vào sinh ra tử cũng nhiều, cậy cục mãi mới
được gởi đi học khóa CC1 quân y và được đổi về ban quân y của trung
đoàn nên rất mừng. Kể ra thì mới có CC1 quân y, coi như kiến thức
y khoa còn rất kém, chỉ biết băng bó sơ sài các vết thương không
nặng lắm. Ngay cả chích thuốc cũng còn chưa thạo lắm. Tôi hứa trong
thời gian ở trung đoàn, sẽ huấn luyện anh em thêm để sau này có
thể trở thành những y tá thông thạo. Tôi nói:
“Anh em cố gắng. Tôi cũng sẽ hết sức
chỉ dẫn anh em và hy vọng sau một năm, sẽ có một tay nghề vững chắc.
Sau này nếu quê hương thanh bình trở lại, anh em giải ngũ trở về
làm nghề y tá hoặc chích dạo cũng có thể nuôi nổi vợ con.”
Mọi người rất mừng rỡ. Thế là chỉ
sau có hơn một giờ, tình thầy trò đã trở nên thân mật hết sức. Tôi
đã biết mặt và tên của từng anh em y tá của tôi. Chỉ còn ông thượng
sĩ già tên là Tạo và trung sĩ Châu lo về hậu cứ và trông coi kho
thuốc ở Sơn chà, Đà nẵng là tôi chưa được gặp. Anh em gọi tôi bằng
bác, xưng em một cách thân mật. Chữ bác ở đây có nghĩa là bác sĩ,
nói vắn tắt.
Vài hôm sau bàn giao công việc xong,
tụi tôi làm một bữa tiệc tiễn người bạn tiền nhiệm của tôi. Trước
khi chia tay, anh còn dặn tôi một điều:
“Tụi sĩ quan ở trung đoàn này mang
lon từ đại uý tới trung tá. Thấy mình chỉ có trung uý thôi, nên
chúng rất sấc láo. Cậu phải cứng rắn với chúng mới được. Dù ở cấp
bậc nào, nếu đau ốm là phải xuống đây khám bệnh. Thuốc men cần thứ
gì cậu cho thứ đó. Họ không có quyền xỉn thuốc mà họ thích. Vợ con
họ cũng vậy. Đau ốm là phải tới bệnh xá, dù là trung đoàn trưởng
cũng vậy. Cậu không được dễ dãi!”
Tôi rất phục anh bạn về việc giữ nguyên
tắc của anh. Sau khi anh dời đơn vị, tôi gặp các sĩ quan và binh
sĩ trung đoàn thấy họ có vẻ dè dặt. Họ chưa biết ý tôi ra sao. Chỉ
sau một thời gian thấy tôi có vẻ cởi mở, họ mới lại tiếp xúc với
tôi nhiều hơn. Nhiều người buổi tối xuống nói chuyện với tôi tới
khuya. Nhiều người cuối tuần rủ tôi đi Đà nẵng hoặc Hội an chơi.
Có người còn đem tặng tôi một khẩu súng K54 mà anh ta tịch thu đuợc
của Việt công trong lúc đi hành quân. Tôi thấy tình cảm họ có nhiều
điều đáng quí, không có gì là “xấc láo” như anh bạn đã kết tội họ.
Một đại úy tên Đức thường xuống thăm
tôi nhiều lần. Anh thấy tôi có một bộ Dịch Kinh Tân khảo của Nguyễn
Mạnh Bảo và mấy cuốn sách của Krishna Murti nên thích lắm. Chờ tôi
đọc xong cuốn nào là anh mượn về đọc liền. Một buổi chiều, anh mang
xuống cho tôi mượn một cái áo giáp mà anh mới xin được của một sĩ
quan thủy quân lục chiến Mỹ đóng ở gần đó. Anh nói:
“Bác sĩ mặc chiếc áo này đi hành quân
là chắc ăn, đạn bắn không thủng.”
Sở dĩ anh cho tôi mượn áp giáp vì
có lẽ anh nghĩ các bác sĩ mới ra trường, chưa quen trận mạc nên
thường nhút nhát, sợ hãi đi hành quân. Anh có biết đâu tôi đã thực
hành lời dạy của Krishna Murti nên đâu có bao giờ để cho sự sợ hãi
xâm lấn tâm hồn. Tôi nói:
“Cám ơn đại úy. Chính đại úy mới cần
chiếc áo giáp này hơn tôi vì đại úy biết tụi nầy quân y toàn đi
đằng sau khi binh đoàn đã mở đường rồi thì đâu có nguy hiểm gì.”
Anh ta tưởng tôi không tin ở hiệu
quả của chiếc áo giáp nên treo nó lên một cành cây rồi rút khẩu
súng lục ra, định bắn thử cho tôi coi xem có thủng không, nhưng
tôi gạt đi:
“Đại uý khỏi cần thử. Vì tụi Mỹ làm
ra chiếc áo này chắc cũng đã thử rồi.”
Tôi đem áo xưống định trả lại nhưng
đại úy Đức nhất định không chịu. Anh nói:
“Vì tình bạn của chúng mình, xin anh
cứ giữ lấy, tôi sẽ xin tụi Mỹ một cái áo khác, dễ dàng.”
Thế là tôi đành phải nhận, vì khi
đã nói tới tình bạn, tôi làm sao có thể từ chối được.
Tôi giao chiếc áo cho Nghĩa cất đi,
định đến lúc nào cần thiết lắm mới dùng đến.
Bộ chỉ huy tiền phương của trung đoàn
đóng ở làng Bồ mưng thuộc quận Điện bàn tĩnh Quảng nam, trên một
khu đất rộng. Ngoài mấy lớp hàng rào dây kẽm gai phòng thủ, binh
sĩ còn đắp một bức thành bằng đất cao chừng hai thước có những lỗ
châu mai chĩa súng ra ngoài. Bên trong thành có một hầm lớn gọi
là hầm chỉ huy, nơi cư ngụ và làm việc của trung tá chỉ huy trưởng
và bộ tham mưu của ông với những máy vô tuyến có thể liên lạc với
các đơn vị bạn ở chung quanh. Hầm có nóc làm bằng những thanh sắt
cứng do Mỹ cung cấp, trên nóc xếp nhiều lớp bao cát nếu có bị pháo
kích trúng nóc hầm cũng không sao. Có hai cố vấn Mỹ cũng ở trong
hầm này.
Chung quanh hầm chỉ huy là những hầm
nhỏ và các lều của các ban tham mưu trung đoàn gồm có ban hành quân,
ban truyền tin, ban an ninh, ban tiếp liệu, ban quân y, ban chiến
tranh chánh trị v…v…
Một hệ thống giao thông hào nối liền
các hầm. Ban quân y của tôi được sử dụng một chiếc lều khá rộng
dùng làm bệnh xá, chung quanh là những lều nhỏ dùng làm nơi ăn chốn
ở của tôi và của anh em y tá. Tôi được sử dụng một xe jeep riêng
với tài xế. Ngoài ra còn có ba xe hồng thập tự để tản thương những
lúc cần thiết. Kể ra nếu một bác sĩ không sợ nguy hiểm, sợ hành
quân và không cần ở một nơi tỉnh tại để mở phòng mạch kiếm tiền
thì cuộc sống của một y sĩ trung đoàn có lẽ là sướng nhất. Tình
thầy trò thật là thắm thiết. Tôi rất quý mến các anh em y tá của
tôi và tận tình chỉ dẫn họ về các thiếu sót chuyên môn. Ngược lại
họ cũng kính trọng tôi hết sức. Buổi sáng tôi vừa thức dậy, một
người nào đó đã để sẵn cho tôi một nón sắt đựng đầy nước nóng để
rửa mặt. Buổi tối họ mắc mùng sẵn cho tôi. Biết tôi hay đọc sách
ban đêm, họ mắc luôn cho tôi một đèn pin ở đầu giường. Quần áo,
chăn mền của tôi họ đều giữ sạch sẽ. Một buổi chiều, tôi để lại
vài người trực bệnh xá, còn thì tất cả thầy trò nhẩy lên chiếc xe
jeep chạy ra bờ sông gần cầu Cẩm lệ cùng tắm và bơi lội thoả thích.
Khi nào có lệnh hành quân, anh em sắp xếp hết quần áo hành lý cho
tôi. Tùy theo mức độ quan trọng của cấp độ hành quân, tôi quyết
định số người cùng đi theo tôi. Thường thường thì nếu Nghĩa đi thì
Tri phải ở lại. Các y tá khác cũng chia thành hai toán để thay phiên
nhau đi theo tôi trong những cuộc hành quân như vậy.
Trong suốt mấy tháng, tôi đã tham
dự nhiều cuộc hành quân nhưng chưa có những trận đụng độ nào lớn
cả. Chỉ có những trận phục kích lẻ tẻ với số thương vong tương đối
ít. Còn các anh em quân y thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các tiểu
đoàn trực thuộc đều bình yên vô sự. Anh em cho tôi là một sĩ quan
không có “số sát lính”. Tôi không tin dị đoan nhưng mong rằng điều
đó là sự thực.
Trung đoàn 51 là một trung đoàn biệt
lập không thuộc sư đoàn nào, gồm có bốn tiểu đoàn đóng ở bốn nơi
xa nhau. Ngoài ra còn có tiểu đoàn 39 biệt động quân cũng đặt dưới
quyền chỉ huy của trung đoàn tôi. Mỗi tiểu đoàn có một sĩ quan trợ
y và một trung đội y tá lo về y tế cho tiểu đoàn đó. Họ cũng thuộc
ban quân y trung đoàn và nếu công việc của tiểu đoàn họ có nhiều
khó khăn thì tôi vẫn tới tăng cường cho họ. Mỗi lần như vậy phải
xử dụng máy bay trực thăng. Các sĩ quan của các tiểu đoàn ở xa ít
khi được đi phép về thăm nhà ở Hội an hơặc Đà nẵng nên nếu gia đình
họ có cần giúp đỡ gì về y tế, tôi sẵn sàng giúp đỡ họ; và các gia
đình binh sĩ ở trại gia binh cũng được tôi săn sóc đặc biệt.
Trường hợp họ không có phương tiện
để gặp tôi, tôi có thể dùng xe hồng thập tự tới tận nhà chở họ tới
bệnh xá. Những trường hợp khẩn cấp tôi sẵn sàng tới tận nơi khám
bệnh và chuyển những bệnh nặng đi tổng y viện Duy tân ở Đà nẵng
nếu cần thiết. Vì vậy khi tới đâu, tôi cũng có được sự tiếp đón
ân cần. Tôi nghĩ rằng sống cùng một đơn vị phải sống bằng tình cảm
mới là điều đáng quý chứ nếu cứ giữ nguyên tắc cứng nhắc như anh
bác sĩ trước tôi đã làm, thấy có vẻ nặng nề quá.
Một buổi tối tôi được điện thoại của
trung tá chì huy trưởng mời tôi tới dùng cơm tại nhà ông ở Hội an.
Tôi mang Tri và Nghĩa cùng đi. Bà trung tá khoảng hơn bốn mươi tưổi
ra đón chúng tôi. Có lẽ bà đã sửa soạn bữa ăn từ trước. Những món
ăn thiệt ngon. Lần đầu tiên tôi được thưởng thức món cơm hến và
món hến sào Quảng nam. Tôi thành thật ca ngợi tài nấu nướng của
bà. Bà nói:
“Bác sĩ ở Sài gòn mới ra đơn vị tác
chiến, bác sĩ thấy thế nào? Không hiểu sao chiến tranh cứ kéo dài
mải. Như nhà tôi đi lính đã mười mấy năm, toàn nằm bờ nằm bụi, rất
ít khi được về nhà. Tôi thấy thương những người đàn ông trong thời
chiến quá.”
Tôi nói:
“Kể ra thời chiến thì ai cũng đáng
thương cả. Nhưng có lẽ đàn bà đáng thương hơn. Vì đàn ông chúng
tôi tuy có vất vả nằm bờ nằm bụi thật, nhưng ít ra còn có bạn bè
với tình đồng đội thắm thiết bên nhau. Còn những người đàn bà cứ
phải chờ đợi trong cô quạnh. Bà không thấy có người đã chờ chồng
tới hóa đá đó sao? Rồi trong cuộc hành quân, nếu có một viên đạn
vô tình nào bắn trúng chúng tôi, thì chúng tôi chỉ bị đau đớn một
lúc thôi, rồi chết, chẳng biết gì nữa. Trái lại nỗi đau khổ sẽ dồn
lên hết đầu người đàn bà với cảnh góa bụa côi cút, với biết bao
nhiêu khó khăn chồng chất và nỗi đớn đau đó sẽ kéo dài mãi cho tới
suốt đời…”
Bà có vẻ cảm động. Trung tá chỉ huy
trưởng nói:
“Tôi được báo cáo cho biết bác sĩ
làm việc rất tận tình, lại được cảm tình của hầu hết anh em trong
đơn vị. Tôi rất hài lòng. Bác sĩ đã biết nhiều về vùng một chiến
thuật chưa? Nếu chưa, tôi sẵn sàng dành cho bác sĩ hai tuần lễ để
đi thăm cho biết. Khi nào bác sĩ đi cứ cho tôi hay, bất cứ lúc nào!”
Tôi cám ơn trung tá. Chúng tôi ăn
uống vui vẻ tới khuya. Trước khi chia tay, bà trung tá còn nói với
tôi:
“Tôi thấy bác sĩ ăn nói vui vẻ, nhiều
tình cảm dạt dào quá. Ở vùng một này có nhiều cô gái rất đa tình.
Coi chừng bác sĩ không về được Sài gòn nữa đâu!”
Một buổi chiều kia vừa đi tắm sông
về tới bệnh xá trung đoàn, tôi được thượng sĩ Tạo gọi máy từ hậu
cứ lên cho biết có một em bé con một hạ sĩ bị đau nặng, nóng tới
hơn 40 độ bách phân và cơ thể co giựt sùi cả bọt mép. Thế là tôi
nhảy lên xe jeep cùng hai y tá là Kim và Kế lái thẳng về Sơn chà.
Thượng sĩ Tạo và trung sĩ Châu đưa
tôi tới nhà em bé ngay. Sau khi kiểm soát không có triệu chứng đau
màng óc, tôi khám phá một ố nhiễm trùng ở cuống họng nên chích ngay
một mũi kháng sinh và một mũi gardenal. Đứa bé ngủ êm, hết co giựt
và chỉ mấy giờ sau nhiệt độ hạ dần. Tôi cho thuốc, dặn uống đủ mười
ngày và đêm đó ngủ ở hậu cứ trung đoàn.
Ngày hôm sau tôi có dịp đi thăm hết
cả bán đảo Sơn chà với hai bãi biển Mỹ khê và Tiên sa, với những
rửng cây cao vút trong đó có hàng trăm loài chim, loài vượn nhảy
nhót vui đùa. Thượng sĩ Tạo cho tôi biết những lúc rảnh rỗi, Châu
thường mang súng đi bắn chim về nhậu chơi, ông ta nói:
“Có một lần anh ta bắn trúng một con
vuợn đen khá lớn trên một cành cây cao. Con vượn mẹ trước khi rớt
xuống còn cố đưa con vượn con cho con vượn bố giữ rồi mới chịu lăn
xuống chết. Còn những con chim cu thịt ăn thiệt ngon. Chỉ cần bắn
trúng một con thôi là con kia cứ quanh quẩn ở chỗ đó mãi. Chỉ cần
lấy báng súng đập nó cũng chết. Tình nghĩa vợ chồng của loài chim
cu thật sâu đậm. Chúng sống chết có nhau, loài người cũng không
bằng!”
Nghe câu chuyện đó tôi cảm thấy không
vui. Lúc về bộ chỉ huy trung đoàn, tôi quyết định đưa Kế về giữ
kho thuốc và làm sổ sách kế toán, chuyển Châu lên bộ chỉ huy hành
quân cùng với tôi. Châu sẽ luôn luôn đi theo tôi trong các cuộc
hành quân. Lúc đó ở hậu cứ gần gia đình công việc nhàn, lúc rảnh
thì giờ còn có thể chích dạo kiếm thêm chút tiền phụ vào đồng lương
ít ỏi. Kế có vợ và một con ở Sơn chà, tôi tưởng hắn sẽ mừng rỡ,
ai ngờ hắn lừ chối:
“Em thấy bác sĩ thân mật quá nên muốn
xin ở gần bác sĩ thêm vài tháng nữa cho vững thêm tay nghề.”
Thế là tôi đành phải đưa Kim về hậu
cứ thế cho Châu, định bụng sau một năm, trước khi có bác sĩ quân
y ra thế tôi, tôi sẽ đưa Kế về hậu cứ cũng không muộn. Thế nhưng
không ngờ là muộn vì chỉ có mấy tuần sau Kế đã thiệt mạng trong
một cuộc pháo kích của Việt cộng vào bộ chỉ huy trung đoàn.
Tôi còn nhớ tối hôm đó tôi đọc sách
khá trể, tới mười hai giờ mới tắt đèn đi ngủ. Đang ngủ tôi bỗng
giật mình vì những tiếng nổ chát chúa ngay gần chỗ tôi nằm với những
ánh lửa lóe lên rất sáng và tiếng rào rào của những mảnh đạn và
mảnh cát sỏi bắn lên tung tóe. Nhớ lời anh bạn, tôi lao vào hố cá
nhân ngồi thu hình mặc cho đạn nổ ầm ĩ chung quanh.
Một lúc sau tôi nghe từ xa vọng lại
những tiếng hét “xung phong” cùng những tiếng đạn đại liên từ những
lỗ châu mai của trung đoàn bắn ra và tiếng súng nhỏ từ ngoài bắn
vào. Thì ra Việt cộng dùng chiến thuật tiền pháo hậu xung. Tôi không
biết quân số của họ là bao nhiêu nhưng nghe tiếng hô, có lẽ là đông
lắm, có cả tiếng đàn bà và tiếng của những người rất trẻ. Một lúc
sau, trung tá chỉ huy trưởng cử một binh sĩ tới đưa tôi theo đường
giao thông hào về hầm chì huy của ông. Ở đây an toàn hơn vì hầm
có nóc làm bằng bao cát nên nếu đạn pháo kích có trúng nóc hầm cũng
không sao.
Ở trong hầm, tôi nghe tiếng máy vô
tuyến gọi liên tục. Ban ba của trung đoàn liên lạc với căn cứ pháo
binh ở quận Điện bàn bắn yểm trợ chung quanh chỗ chúng tôi. Ngoài
ra còn có những dàn đại bác 105 ly của thủy quân lục chiến Mỹ đóng
ở gần đó cũng bắn yểm trợ. Những trái hoả châu được bắn lên soi
sáng cả một góc trời. Việt cộng vẫn hô xung phong có vẻ hăng lắm
nhưng tôi thấy tiếng hô vẫn còn xa như lúc đầu. Có lẽ họ chưa vượt
nổi mấy hàng kẽm gai bao quanh khu vực chúng tôi. Mà dù có qua được
những hàng rào này, họ còn phải vượt qua một bãi mìn khá rộng, đấy
là chưa kể họ sẽ phải đương đầu với làn mưa đạn từ bên trong bắn
ra. Tại sao họ phải cực khổ đến thế để cố tình vào đây giết chúng
tôi? Nếu chúng tôi chết họ sẽ được gì?
Khoảng hai tiếng sau, tiếng hô xung
phong nhạt dần, kể cả tiếng súng nổ cũng thưa dần. Việt cộng rút
lui lúc trời gần sáng, đúng lúc những phi cơ chiến đấu bắt đầu cất
cánh từ Phi trường Đà nẵng.
Tổng kết trung đoàn tôi có năm binh
sĩ chết vì pháo kích. Một số nữa bị thương. Bên ngoài, xác Việt
cộng rải rác ở bên bờ ruộng. Trò chơi chiến tranh thật là buồn thảm.
Có người chết là có những giọt nước mắt phải đổ ra. Một con mắt
phải mất bao nhiêu ngày mới tạo đủ số giọt nước mắt cho mỗi lần
bi thảm? Rồi sau khi hết những giọt nước đó, nó sẽ dự trữ bao nhiêu
giọt nữa?
Cuộc sống trở lại bình thường sau
cái đêm sôi động này. Tôi tiếp tục hàng ngày ngồi khám bệnh ở lều
bệnh xá của trung đoàn cho anh em binh sĩ và gia đình họ. Những
người dân ở các vùng chung quanh cũng được phép tới chữa bệnh nhưng
tôi thấy toàn những cụ già, đàn bà và trẻ con. Không bao giờ thấy
có người đàn ông nào tới khám bệnh cả. Y tá Nghĩa nói với tôi rằng
những người này đều là cha mẹ vợ con của Việt cộng cả và hắn khám
xét rất kỹ hành lý của họ trước khi cho vào bệnh xá.
Một hôm tôi thấy có một người đàn
bà cỡ hơn năm mươi tuổi cõng một người đàn bà khác tới bệnh xá.
Hỏi ra thì biết đó là một bà mẹ chồng cõng một người con dâu tới.
Một đứa cháu ngoại độ bảy tuổi ôm một bị quần áo theo sau. Bệnh
nhân ở trong tình trạng hấp hối, mắt trợn ngược, không còn nói được
nữa. Tôi hỏi han người mẹ thì biết bệnh nhân đã bị kiết lỵ, tiêu
chảy với đàm máu cả trăm lần trước khi được đưa tới đây. Mạch và
áp huyết của bệnh nhân rất yếu. Tôi bắt tay ngay vào việc cứu cấp
bằng cách chuyền nước biển và cả một bịch máu nữa, đồng thời tiêu
diệt vi trùng kiết lỵ bằng hai loại thước Émetine và Metronidazole.
Trong suốt hai mươi bốn giờ, bệnh
nhân ở tình trạng không rõ rệt. Chỉ hơn một ngày sau, tình trạng
mới khả quan. Tuy nhiên bệnh nhân còn phải ở lại bệnh xá thêm vài
ngày nữa mới bình phục hẳn. Tôi cho phép cả ba người ở lại bệnh
xá trong thời gian này. Các anh em trong ban quân y phải nấu ăn
cho họ, phải dọn dẹp những chỗ phóng uế rất dơ bẩn. Nghĩa có vẻ
khó chịu ra mặt. Hắn cho rằng người chồng của bệnh nhân chắc chắn
là một du kích Việt cộng nên mới không chịu đưa vợ tới. Hắn cho
rằng tôi cứu chữa cho vợ y, nhưng một tối nào đó y vẫn không ngần
ngại nã vào trại chúng tôi vài quả đại bác.
Lúc đưa bệnh nhân về, Nghĩa còn nói
với họ bằng một giọng mỉa mai:
“Nói với chồng chị đừng pháo kích
vào trại chúng tôi nữa nhé. Nhỡ bác sĩ chết thì ai chữa bệnh cho
chị?”
Nghĩa còn định nói thêm câu gì nữa,
nhưng thấy tôi có vẻ không tán thành lời mỉa mai đó nên hắn lặng
thinh. Hai người đàn bà và đứa nhỏ bẽn lẽn ra về. Tôi thấy họ cũng
rách rưới và lam lũ như biết bao người dân quê khác mà tôi đã gặp.
Nỗi khổ đau hằn lên nét mặt họ. Chồng con họ có thể là những binh
sĩ Việt cộng thật và họ có thù hằn gì chúng tôi đâu. Cũng như tôi
tới đây hoàn toàn chỉ có ý định giúp đỡ họ. Thế nhưng gưồng máy
chiến tranh đã đưa tôi và họ vào hai vị thế khác nhau. Trận chiến
tranh không phải do chúng tôi phát động và mong muốn.
Nếu tôi gặp một du kích Việt cộng
và hỏi tại sao anh chiến đấu, chắc chắn anh sẽ trả lời một cách
dễ dàng:
“Tôi chiến đấu để chống lại bọn đế
quốc đến cướp nước tôi dù dưới hình thức thực dân cũ hãy thực dân
mới.” Hoặc:
“Tôi chiến đấu để xây dựng một xã
hội công bằng trong đó không còn có cảnh người bóc lột người.”
Thật là một lý tưởng cao cả, không
thể chê vào đâu được, do đó anh mới bỏ cả mẹ già vợ dại để ra đi,
sẵn sàng hy sinh cả thân mình cho lý tưởng kể trên.
Thế nhưng lên tới những cấp chỉ huy
cao hơn của anh, những nhà lãnh đạo nằm ở thủ đô Hà nội thì họ biết
rõ lý tưởng đích thực của sự chiến đấu của anh. Đó là:
“Anh chiến đấu cho tham vọng của những
tên trùm đỏ nằm ở Bắc kinh, ở Mạc tư khoa. Chúng muốn mở rộng đế
quốc của chúng. Chúng muốn chinh phục cả thế giới.” Hoặc:
“Anh chiến đấu chỉ cho một giai cấp,
rồi nhân danh giai cấp đó, anh tàn sát những giai cấp khác dù họ
ở cùng một quốc gia, cùng là đồng bào ruột thịt của anh.”
Nhưng điều đó chẳng phù hợp gì với
quyền lợi của dân tộc Việt nam cả.
Nhưng tội nghiệp cho anh, chỉ vì anh
không biết nên cứ tham dự vào cái trò chơi làm hao mòn dân tộc và
gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho đồng bào.
Còn nếu tôi hỏi một binh sĩ của trung
đoàn tôi rằng tại sao anh chiến đấu, thì chắc anh cũng dễ dàng trả
lời:
“Tôi chiến đấu để chống lại độc tài
cộng sản.” Hoặc:
“Tôi chiến đấu để bảo vệ nền tự do
dân chủ.”
Cũng thật là một lý tưởng cao cả không
thể chê vào đâu được và nhiều người đã cũng như anh hy sinh cho
lý tưởng này.
Thế nhưng lên tới những cấp chỉ huy
cao hơn của anh, những nhà lãnh đạo nằm ở dinh Độc lập thì họ biết
đích thực mục đích của cuộc chiến đấu của anh. Đó là:
“Anh chiến đấu cho những bọn lái súng,
bọn tài phiệt. Chúng phè phỡn nằm ở mãi New York, ở Washington,
ở Paris. Chúng cho những chuyên viên sang Việt nam xem chúng sẽ
được những lợi lộc gì, Việt nam có dầu hỏa hay không, có mỏ vàng
bạc hay uranium gì không. Nều không có những cái đó thì dù Việt
nam có mất tự do dân chủ chúng cũng bất cần, và lúc đó chính anh
sẽ là nạn nhân của chúng.”
Những điều chúng tính toán chẳng có
lợi ích gì cho dân tộc Việt nam cả. Thế nhưng tôi nghiệp cho anh,
chỉ vì anh không biết nên vẫn tiếp tục tham dự vào cái trò chơi
đã gây ra biết bao nhiêu tang tóc đau thương cho dân tộc.
(Lúc đó tôi biết rằng nước Tây tạng
đã bị xâm lăng, mất hết tự do dân chủ nhưng chẳng có ai nhân danh
lý tưởng tự do để cứu dân Tây tạng cả. Sau này tôi được biết nước
Kuwait cũng bị xâm lăng, mất hết tự do dân chủ, và đã có rất nhiều
người nhân danh tự do để xông vào cứu dân Kuwait. Sự khác biệt chỉ
là Kuwait có nhiều mỏ dầu.)
Một dân tộc mà vì không biết, cứ thù
hận nhau mãi và cứ tuyên truyền cho sự thù hận đó mãi thì tới ngày
nào mới khá được. Tôi nhớ mang máng trước kia có đọc một câu chuyện
về sự hận thù của dân chúng thuộc hai thành phố Athens và Sparta.
Họ không bỏ lở cơ hội nào để hại nhau. Một ngày nào đó có một kịch
tác gia tài ba. Ông đã sáng tác một vở kịch hết sức cảm động. Khi
vở kịch đó được đem trình diễn ở một rạp hát lớn, dân chúng thuộc
cả hai thành phố đều tới coi và khi coi xong, họ ôm lấy nhau mà
khóc; những giọt nước mắt đã xóa sạch mối hận thù. Biết đến ngày
nào dân tộc Việt nam mới có được những giọt nước mắt như trên thay
vì những giọt nước mắt đổ xuống bên những vành khăn tang trắng với
hận thù thêm chồng chất.
Hồi đó có một cố vấn Mỹ buổi tối không
biết làm gì, thường xuống chỗ tôi chơi. Tôi dậy hắn đánh đàn guitar.
Người Mỹ có tinh thần thực tế nên khi họ nhờ mình việc gì là họ
đề nghị trả tiền liền. Tôi không lấy học phí của hắn nên mỗi lần
hắn đi mua đồ ở các P.X. Mỹ, hắn thường xách xe tới ban quân y rồi
hỏi có ai gởi mua gì không? Anh em y tá gởi mua nào là hộp quẹt
zippo, nào là rượu “Johnny đi bộ”, nào là các đồ trang sức và quần
áo. Riêng tôi chỉ nhờ hắn mua thật nhiều kẹo và nước ngọt, vì tôi
thường dùng những kẹo này để cho trẻ con mỗi khi đi dân sự vụ.
Mỗi khi đi dân sự vụ, trung đoàn cho
tôi một trung đội để giữ an ninh trật tự. Ban quân y chúng tôi thường
chọn một khu đất rộng hoặc trong một sân trường học hoặc sân đình,
chùa. Sau khi chuẩn bị xong, dân chúng được mời tới để khám bệnh
và phát thuốc. Họ tới rất đông nhưng cũng thật là lam lũ. Những
cụ già lưng còng tóc bạc, ốm yếu vì suy dinh dưỡng. Những phụ nữ
chân lấm tay bùn với nét khổ đau hiện trên từng nét mặt. Những trẻ
em bụng ỏng đầy giun sán và tay chân thường ghẻ lở. Tôi kiên nhẫn
coi kỹ từng người. Đám trẻ con thích nhất là sau khi khám bệnh xong,
được phát một, hai cái kẹo. Có những em nhỏ cần phải chích thuốc
đau, khóc la inh ỏi, nhưng mẹ chúng lại dỗ dành:
“Thôi nín đi con, kìa bác sĩ sẽ cho
kẹo kia.”
Thế là chúng nín bặt, mắt nhìn vào
đống kẹo để trên bàn. Nhìn chúng ăn kẹo hoặc uống nước ngọt, tôi
cảm thấy vô cùng sung sướng, nhớ tới thời thơ ấu của tôi, lần đầu
tiên được uống một chai nước ngọt hiệu “creme soda” sao nó ngon
làm sao! Cái cảm giác tê tê ở đầu lưỡi cho tới bây giờ tôi vẫn chưa
quên. Lúc đó là vào khoảng năm 1950, lúc tôi còn ở một vùng quê
miền Bắc.
Nhìn những đứa trẻ trần trụi và dơ
bẩn, tôi tìm thấy hình ảnh của chính tôi thời đó. Một lần có một
một bé trai độ mười tuổi được đưa tới cho tôi khám bệnh. Nó chỉ
mặc một chiếc quần xà lỏn màu đen đã rất cũ. Toàn thân nó đầy mụn
mủ, nhất là hai cánh tay. Tòi cầm tay nó lên lên xem, tay bám đầy
đất cát, có lẽ nó cũng ngượng khi đưa một cánh tay đen đúa như thế
cho tôi khám chăng? Nó muốn làm cho tay nó sạch hơn. Thế là không
ngần ngại, nó nhổ một bãi nước miếng lên cánh tay rồi lấy bàn tay
kia lau cánh tay đó cho đỡ đất cát!
Tôi lấy nước có pha thuốc sát trùng
rửa sạch các vết mụn, chỗ nào còn mủ, tôi nặn ra rồi cho thuốc erythromycin,
dặn dò cách uống. Tôi cho nó một cục sà bông, nguyên một bịch kẹo
và một chai nước ngọt. Nhìn mặt nó rạng rỡ, tôi thương nó quá. Nó
chính là tôi của thời thơ ấu. Tôi muốn ôm lấy nó với tất cả tình
thương, giống như những người ở Athens và Sparta đã ôm lấy nhau
mà khóc thuở nào.
Mấy tháng sau, cả trung đoàn vui vẻ
khi nghe tin trung tá chỉ huy trưởng trung đoàn được chỉ định kiêm
luôn chức vụ tiểu khu trưởng tiểu khu Quảng nam. Bộ chỉ huy trung
đoàn dọn về tỉnh lỵ Hội an, nghang bộ chỉ huy tiểu khu. Riêng ban
quân y chúng tôi được bác sĩ trưởng ty y tế Hội an cho mượn trụ
sở đóng quân ở ngay ty y tế. Tôi được ở một phòng riêng có giường
chiếu hẳn hoi, không phải ngủ nên băng ca trong hầm nữa. Các anh
em y tá cũng tìm được chỗ chung quanh phòng tôi.
Từ ngày về Hội an, ít có vấn đề hành
quân. Tôi chỉ lâu lâu đi dân sự vụ ở các quận chung quanh như Hiếu
nhơn, Duy xuyên, Điện bàn. Những lúc rảnh rỗi, tôi đọc sách, chơi
đàn hoặc đi thăm một vài nơi trong thành phố. Thành phố Hội an đẹp,
cổ kính và êm đềm, không như Đà nẵng là nơi ồn ào tranh đua. Con
sông Thu bồn chảy qua thành phố rồi suôi về cửa Đại. Nước sông chảy
chậm, lặng lờ như một bà mẹ thương con và chịu đựng. Bên kia sông
là Hội an với những rặng dừa soi bóng trên sông. Nhiều buổi tối,
tôi đi bách bộ qua khu Chùa Cầu rồi vòng qua một vài con đường vắng
trước khi trở về đi ngủ. Hôm nào không đi, tôi vác cây đàn ra chơi
vài bản. Đêm Hội an thật đẹp vô cùng.
Một buổi tối kia, đại úy Đức tới chỗ
tôi cùng với một người con gái. Anh giới thiệu:
“Đây là cô Hiền, em gái họ. Mẹ Hiền
mình gọi là cô ruột. Bà cô mấy hôm nay đau, anh có thể coi dùm một
chút được không?”
Tôi hỏi Hiền sơ qua về bệnh của bà
cụ rồi trở vào kéo theo Tri và Nghĩa cùng đi. Nhà Hiền ở một phố
vắng. Bà cụ nằm trên giường, người nóng, hơi rên nho nhỏ vì đau
bụng. Tôi mới đụng tay vô bụng cụ bà đã giựt lên vì đau đớn, bụng
cứng nhắc. Theo sự khám xét thì chắc đây là một trường hợp lủng
ruột hoặc bao tử. Tôi hỏi thêm thì được biết cụ đã bị ói ra máu
mấy lần. Tôi nói:
“Đây là một trường hợp khẩn cấp, cụ
phải đi nhà thương để chụp hình và giải phẩu ngay trước khi quá
muộn.”
Hiền nói:
“Thế mà má em cứ đòi đi mời ông lang!”
Nàng sửa soạn nhanh chóng trong khi
Tri và Nghĩa lái chiếc xe của tôi về, mang chiếc xe hồng thập tự
tới chở cụ đi nhà thương.
Hình chụp quang tuyến xác nhận sự
chẩn đoán của tôi. Cụ được giải phẫu ngay tối hôm đó. Ổ bụng được
rửa sạch sẽ. Vết loét bao tử lâu ngày được kiểm soát kỹ xem có sự
suy thoái ung thư không, sau đó được may lại cẩn thận. Cụ phải nằm
nhà thương hơn một tuần mới được về nhà.
Vì cụ mất máu nhiều nên thời kỳ phục
hồi hơi chậm mặc dù có tiếp máu trong khi giải phẫu. Mỗi tối tôi
ghé thăm cụ và vô cho cụ một chai nước biền protêin. Như vậy tôi
phải coi sóc cụ khoảng hai giờ đồng hồ. Hiền rất sung sướng. Nàng
làm các món ăn nọ món ăn kia ra mời tôi ăn. Khoảng mười một giờ
đêm khi tôi ra về, Hiền đưa tôi ra tận xe. Nàng dùng cả hai tay
nắm chặt tay tôi để tỏ sự biết ơn người đã giúp đỡ mẹ nàng. Hai
tối liền tôi về trễ, Nghĩa tỏ ra một người thành thạo, hắn nói với
tôi:
“Bác sĩ có biết tại sao cô Hiền đẹp
như vậy mà không có ai dám tới gần hoặc tán tỉnh cô ta không?”
Tôi im lặng không hiểu ra sao thì
hắn tiếp:
“Vì cô ấy là bồ ông tướng vùng!”
Có lẽ Nghĩa muốn khuyên tôi nên tránh
xa Hiền để đỡ gặp những rắc rối.
Đêm hôm sau, trong khi vô chai nước
biển chót cho bà cụ, Hiền tới ngồi gần tôi hơn, nói chuyện nhiều
hơn. Lúc ra về, thay vì nắm tay tôi như mọi lần, nàng áp má vào
tôi để tỏ sự biết ơn. Tôi thấy hai tay nàng ôm chặt và miệng nàng
nói nhỏ bên tai tôi:
“Thế tối mai anh nhất định không tới
nhà em nữa sao?”
Tôi nói:
“Anh sẽ tới khi nào em cần tới anh.”
Một lúc nàng buông tôi ra. Tôi ra
xe, leo lên định lái về nhưng vì xe jeep không có cửa, nên mới khi
nổ máy xong, tôi đã thấy nàng leo lên ngồi vào ghế bên cạnh từ lúc
nào. Nàng mỉm cười ra hiệu cho tôi cứ lái xe chạy.
Tôi cho xe chậm vòng vèo qua các khu
phố hẹp. Vì Hiền đi bất ngờ nên nàng không kịp sửa soạn gì cả, vẫn
ăn bận như lúc ở nhà. Thành phố quá nhỏ nên chỉ đi độ mười lăm phút
là đã qua hết các đường phố. Tôi cho xe chạy về phía Cẩm hà để tìm
một khoảng trời cao rộng lúc mặt trăng bắt đầu lên cao. Hiền nói
nhỏ:
“Anh có dám dành riêng cho em hẳn
một đêm hay không? Vì em có thể mượn một chiếc thuyền.”
Chúng tôi chèo thuyền chơi vơi ra
giữa giòng sông. Con sông Thu bồn về mủa thu nghe như thu buồn.
Một vài cơn gió lạnh làm chúng tôi ngồi gần nhau hơn. Nước sông
chảy chậm, không có sóng nên bóng những ngôi sao nằm sâu dưới đáy
nước trong im lìm cô đơn. Tôi nhìn vào mắt Hiền và tìm thấy nỗi
cô đơn cũng nằm trong đó không biết tự bao giờ. Hiền nói nhỏ:
“Em có đi qua ty y tế nhiều lần vào
buổi tối, thấy anh đang ngồi đánh đàn. Ở trong ánh mắt của anh em
nhìn thấy sự bao dung và một tâm hồn hết sức phong phú và kỳ lạ.
Một người như anh nếu không nắm giữ được thì cái cơ hội ngàn năm
một thuở đó chẳng bao giờ đến lần thứ hai. Em biết em chẳng thể
nào nắm giữ được anh mải đâu nhưng ít nhất ngày nào em có anh, em
sẽ sống những ngày sung sướng nhất của cuộc đời em. Rồi sau này
nếu vì hoàn cảnh mỗi người một ngả thì em cũng còn lại một kỷ niệm.
Kỷ niệm đó dù có thế nào, nó vẫn đẹp mãi và sẽ sưởi ấm em mãi mãi.
Em cho rằng người nào không có kỷ niệm trong lòng là người bất hạnh
nhất lên đời.”
Rồi nàng khẻ hát:
Ngày nào mình còn có nhau, xin cho
dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau, xin người biết đau
Tôi nói:
“Chúng mình sanh ra trong thời chiến.
Sở dĩ chiến tranh kéo dài là vì người Việt nam đã thiếu sự bao dung
lẫn nhau. Giòng sông này đêm nay êm đềm chảy suôi ra biển nhưng
cũng chính trên sông này, anh đã chứng kiến những trận giao tranh.
Mỗi quả đạn rớt xuống giòng sông, nước bắn lên tung tóe trông như
nỗi quặn đau của bà mẹ khi thấy lũ con ngỗ nghịch sát hại lẫn nhau.
Xin hãy cầu nguyện để một mai người Việt nam sẽ nhìn thấy sự bao
dung trong ánh mắt của tất cả mọi người.”
Đêm thu xưống dần. Những đám sương
mù bao phủ lên những rặng cây ở ven sông. Chúng tôi vào trong khoang
thuyền nằm kề bên nhau. Tôi cởi chiếc áo jacket ra làm mền đắp cho
hai người. Đêm đó Hiền đã gối đầu lên cánh tay tôi. Giấc ngủ của
nàng nghe hồn nhiên nhưng những lúc thức giấc, nàng ngơ ngác như
vừa qua một giấc mộng đầy hư ảo. Nàng ôm chặt lấy tôi làm như tôi
sắp sửa tan biến theo giòng nước lung linh đang đẩy con thuyền không
biết đã trôi tới đâu.
Ngày hôm sau, nhớ lời trung tá chỉ
huy trưởng cho phép tôi được hai tuần nghỉ phép để đi thăm các thành
phố của miền Trung, tôi quyết định xin phép rồi đem Hiền cùng đi.
Hiền sung sướng quá. Nàng nói chuyện thật vui vẻ với tất cả những
y tá của tôi. Nàng sửa soạn hành trang thật đầy đủ. Trông Hiền có
dáng dấp của một cô dâu đang sửa soạn đi tuần trăng mật.
Tôi dặn dò Nghĩa, Tri và Châu lo các
công việc ở nhà rồi lái xe về hướng bắc. Qua vùng “cây số sáu” tôi
phóng khá nhanh. Nguyên ở vùng này Việt cộng thường hay bắn lén.
Nhiều sĩ quan trung đoàn của tôi đã bị thiệt mạng khi lái xe qua
đây. Tên bắn lén có lẽ là một nhà thiện xạ, vì mặc dầu ngồi trên
xe đang di động, những người chết đều bị đạn bắn trúng đầu ở vùng
thái dương. Trung đoàn tôi đã hành quân nhiều lần, định bắt cho
kỳ được tên bắn lén này nhưng vô hiệu. Thỉnh thoảng lại vẫn có một
người bị chết. Tôi hỏi Hiền:
“Em có thấy sợ không? Ở đây có một
nhà thiện xạ dùng chúng mình làm mục tiêu của hắn. Xe lại không
thể phóng quá nhanh được vì đường xấu.”
Hiền đáp:
“Nếu em là nhà thiện xạ thì em đã
đi dự thế vận hội. Lấy được một huy chương vàng ít ra cũng mang
là vinh dự cho quê hương. Chớ đem tài ra để bắn lén người khác thì
vinh dự gì? Vả lại nếu hắn có giỏi hắn bắn xuyên qua hai cái đầu
của em và anh thì em mới phục. Chúng mình sẽ cùng chết và sẽ là
của nhau mãi mãi. Còn nếu chỉ bắn trúng có một cái thôi thì em khinh
bỉ tài thiện xa của hắn lắm.”
Nói rồi nàng nghiêng người hôn lên
vành tai tôi. Lúc đó nếu quả tên bắn lén có ra tay thì chắc viên
đạn sẽ xuyên qua đầu tôi và trúng đôi môi mọng đỏ của nàng.
Xe qua khỏi quận Điện bàn, tới khu
vực làng Bồ mưng. Tôi chỉ cho Hiền căn hầm khi trước tôi đã nằm
ở đó suốt mấy tháng. Hiền có vẻ ái ngại thấy cảnh đất cát ngổn ngang.
Nàng nói:
“Nếu chiến tranh còn kéo dài, chúng
mình sẽ lên núi đào một cái hầm rồi hai đứa sẽ sống như người tiền
sử, anh có chịu không?”
Tôi mỉm cười thấy Hiền có những ý
tưởng ngộ nghĩnh đầy lãng mạn. Thì ra trong lòng nàng đang nở những
bông hoa của tình yêu. Và khi con người có tình yêu trong lòng thì
mọi hình ảnh đều trở thành đẹp cả: một tên bắn lén, một đường nhựa
gồ ghề đầy ổ gà, một căn hầm đầy đất cát cũng có thể tạo nên những
hình ảnh đầy lãng mạn. Tôi nhìn xuống hai bên bờ ruộng. Những người
đàn hà chân lấm tay bùn đang khom lưng cấy lúa trên những thửa rộng
ngập nước. Nếu trong lòng họ cũng có một tình yêu như Hiền thì có
lẽ cảnh chân lấm tay bùn cũng là những hình ảnh đẹp đầy lãng mạn,
đầy cao đẹp. Họ sẽ không cảm thấy vất vả cực nhọc nữa. Và tôi nghĩ
rằng nếu mọi người trên thế gian này đều có trong lòng một tình
yêu thi mọi khổ đau của thế gian sẽ bị tiêu tan nhanh chóng.
Tới cầu Cẩm lệ, tôi lại nhớ tới quãng
sông tôi đã tắm rửa bơi lội mỗi chiều. Làng Cẩm lệ nổi tiếng trồng
được một loại thưốc lá rất ngon. Người dân ở đây thật là phóng khoáng.
Họ có thế dùng bất cứ loại giấy nào để quấn thuốc lá trông như những
cái kén của một con sâu. Người ta gọi là thuốc lá bọ kèn. Hầu như
người nào cũng hút. Răng họ đen thui nhưng tâm hồn họ thật trong
sáng. Tôi đã tiếp xúc với họ nhiều lần nên biết rõ điều đó.
Qua khỏi quận lỵ Hoà vang thì đã thấy
dáng dấp của thành phố Đà nẵng vì quận này nằm sát thành phố. Tôi
và Hiền quyết đinh ở lại Đà nẵng vài ngày để vui đùa với nhau ở
hai bãi biển Mỹ khê và Tiên sa. Trời vào thu, không khí đã hơi lạnh
nên bãi biển không còn ồn ào như những ngày hè nữa. Tuy nhiên cảnh
biển thật đẹp và thật trong xanh. Biết ngày nào quê hương mới thanh
bình để những nơi này trở thành những trung tâm du lịch thu hút
khách ngoại quốc mang lại nguồn ngoại tệ và sự giầu có cho quê hương.
Trông Hiền mặc đồ tắm nhẹ bơi trên giòng nước trong như ngọc lưu
ly, tôi cảm phục người nào đó đã đặt cái tên cho bãi biển này là
Tiên sa quả thật không sai.
Bỏ ra một buổi chiều thăm Ngũ hành
sơn, sáng hôm sau tôi lái xe đi Huế. Trên đèo Hải vân phong cảnh
thật là kỳ thú. Chúng tôi được thưởng thức những đĩa bánh bèo, bánh
khoai thật ngon miệng. Đứng trên đỉnh đèo nhìn xưống phía đưới tôi
bỗng nhớ tới mấy câu thơ của Huy Cận:
Bỗng đưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao, gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi dạt dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hưu quạnh với lòng quạnh hưu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian nghe cũng tiêu điều dưới kia
Hiền rủ tôi ở lại một đêm trên đỉnh
đèo và đêm đó chúng tôi đã sống như những người tiền sử thật.
Thành phố Huế với những lăng tẩm cổ
kính, những chùa chiền trang nghiêm, những bến sông thơ mộng. Hiền
đã từng ở Huế nhiều năm lúc nàng cỏn là một nữ sinh tóc xõa ngang
vai nên nàng đã biết rõ thành phố này. Nàng trở thành người hướng
dẫn tôi như hướng dẫn một du khách. Thành phố thật là êm đềm. Lúc
đó chúng tôi không thể tưởng tượng rằng chỉ hơn hai năm sau, cả
thành phố đã tan hoang trong trận tổng công kích tết Mậu thân 1968.
Nhìn cành hàng ngàn người bi trói mang đi thủ tiêu, chôn tập thể,
nhìn cảnh những người vợ vẻ khóc chồng được chiếu trên các đài truyền
hình mới hay nỗi điêu linh mà những người dân phải chịu đựng trong
cảnh chiến tranh.
Ở Huế vài ngày rồi tôi lái đưa Hiền
đi Quãng trị. Thành phố này thật đìu hiu, gần vùng giới tuyến.
Hiền muốn trở về sau khi thăm Quảng
trị nhưng tôi quyết định chúng tôi sẽ đi thăm cả cầu Hiền lương
và chụp hình trên cầu. Cây cầu có cái tên đẹp và thánh thiện đến
như thế, nào ngờ nó lại là biểu tượng của sự ngăn cách chia ly,
của hận thù, của tàn phá và của biết bao nỗi thống khổ mà dân tộc
Việc nam đã phải chịu đựng trong suốt bao nhiêu năm qua.
Lúc trở về chúng tôi ghé thăm quận
Gio linh và ở lại một đêm. Đây là một vùng mà sự nghèo nàn có thề
nhìn thấy ngay trên các thửa ruộng bên đường. Đất cứng như đá với
những nguồn rạch thường khô cạn. Những người dân rách rưới với nét
mặt khắc khổ và ít nói. Đêm Gio linh thật là buồn thảm. Bên ngoài
trời lạnh. Tôi đốt lò than lên rồi lấy cây đàn guitar vừa đánh vừa
hát cho Hiền nghe bài Bà mẹ Gio linh của Phạm duy, bài hát tôi đã
nghe từ lúc còn nhỏ tuổi:
Mẹ già nấu nước chờ ai
Đêm đêm súng nổ vang trời
Giật mình em bé mồ côi
Khăn tang cũng hoen tiếng cười.
Hò hò hò ơi hỡi hò
Hò hò hò ơi hỡi hò...
Tiết điệu trầm buồn của bài ca làm
Hiền xúc động. Nàng nói:
“Bài hát này em đã nghe từ ngày xưa
còn bé. Không ngờ hôm nay lại được nghe anh hát lại. Em nhớ mãi
bài này cùng với bài Buồn tàn Thu của Văn Cao. Lúc đó ba em mới
bỏ đi theo Việt nam Quốc dân đảng được mấy năm. Mẹ em ở nhà một
mình. Lúc đó mẹ em mới hai mươi lăm tuổi. Đêm nào có người chơi
đàn từ xa vọng lại, mỗi lần nghe tới bản này, mẹ em lại khóc.”
Quận Gio linh có một thổ sản: đó là
mít. Những trái mít thật thơm ngon. Tội nghiệp những người dân nghèo.
Họ trồng mít nhưng họ không được ăn mít. Họ phải bán đi để lấy tiền
mua gạo.
Tôi lái xe rời khỏi quận này với lòng
bâng khuâng thương mến.
Tôi còn định đưa Hiền đi thăm Khe
sanh, Cam lộ, Đông hà và Cùa nữa, nhưng vì đường đi khó khăn nên
rút cưộc chỉ thăm được Cam lộ và Đông hà.
Trên đường về tôi có ghé thăm Trà
kiệu, hình như là kinh đô cũ của người Hồỉ. Tôi hi vọng sẽ tìm được
những vết tích của kinh đô này, nơi đã diễn ra mối tình đầy bi đát
của nàng công chúa Huyền Trân, người đã hy sinh hạnh phúc cá nhân
mình cho quyền lợi của quốc gia dân tộc. Nhưng tới nơi chỉ còn là
những đồi trọc với xa xa một vài tháp Chàm đổ nát rêu phong.
Ngày về Hội an trông Hiền không biết
có gì khác không mà Nghĩa nhìn nàng một cách soi mói. Hắn nói như
một thi sĩ:
“Trông mặt cô Hiền sáng lên một niềm
hạnh phúc.”
Hiền hầu như ở luôn trong căn phòng
của tôi. Nàng dành cả công việc của ông hạ sĩ Hợp là người vẫn nấu
ăn cho tôi. Thỉnh thoảng nàng có công việc phải đi xa tôi vài ngày
thì lúc về nàng lại làm cho tôi những món ăn đặc biệt hơn, săn sóc
tôi ân cần hơn, làm như để đền bù cho tôi những ngày nàng vắng mặt.
Một buổi tối kia, nàng mang tới phòng
một máy thu băng hiệu Akai. Tôi có thể đoán người nào đã tặng nàng
chiếc máy này nhưng tôi không quan tâm. Tôi vặn máy lên rồi dìu
nàng vào trong những bản tango bồng bềnh và những bản slow đằm thắm.
Hiền lim dim đôi mắt, nhẹ bước theo những âm ba dập dìu. Nàng muốn
được tắt hết đèn để thưởng thức được trọn ven những cảm giác lâng
lâng dâng lên theo từng bước chân. Tay nàng xiết chặt và môi nàng
tìm tòi. Rồi sau đó chỉ còn là những cơn mê đắm kéo dài…
Tôi nhìn qua cửa sổ. Trời chưa sáng
hẳn nhưng những hàng cây trồng ở phía trước đã lờ mờ xuất hiện trong
sương mù. Những cành cây khẳng khiu lá đã rụng hết khi mùa thu qua.
Những giọt sương đọng trên cành có khi thành từng hạt rõ rệt, có
khi những hạt nặng trĩu chảy xuống hoà cùng với nhau thành một giòng
nước nhỏ. Cành cây run rẩy mỗi khi có một trận gió thổi tới trông
thật đáng thương, khác hẳn sự run rẩy của Hiền trong vòng tay của
tôi.
Tôi đập nhẹ lên má Hiền:
“Dậy đi em. Hôm nay anh sẽ đưa em
đi thăm Cửa Đại, rồi chiều về chúng mình sẽ đi dạo phố, anh sẽ tìm
mua cho em một kỷ vật có giá tri lâu dài.”
Nàng nũng nịu:
“Hôm nay chúa nhựt, nằm trễ một chút
đi anh. Em muốn cứ được như thế này mãi mãi, không cần đi đâu cả.
Và xin thời gian cũng đừng trôi nữa. Vả lại đường từ đây ra Cứa
Đại tuy không xa lắm nhưng rất kém an ninh nên chẳng có ai đi cả,
bãi biển trở thành hoang vắng.”
Những hình ảnh của hai đứa chúng tôi
giắt tay nhau đi trên một bãi biển hoang vắng lại là một hình ảnh
đầy lãng mạn nên cuối cùng tôi đã thuyết phục được nàng. Chúng tôi
dìu nhau lên những mỏm đá nhìn ra những lượn sóng nhấp nhô. Chúng
tôi tìm được một chỗ ngồi kín đáo nhìn ra đại dương bao la. Không
hiểu sao từ nhỏ, tôi vẫn có lòng say mê biển cả. Hiền ngồi sát bên
tôi, mắt mơ màng nhìn ra thật xa. Những chiếc tầu đánh cá trông
chỉ như những cái chấm. Những con chim hải âu bay lượn thoái mái.
Bầu trời thật cao thật rộng.
“Hiền thấy không? Bây giờ là mùa đông
mà biển đâu có lạnh. Về mùa hè nó lại cũng không nóng. Các nhà máy
đã đổ ra biết bau nhiêu cặn bã mà biển có dơ bẩn thêm chút nào đâu?
Nếu anh có mua tất cả các loại nước hoa trên thế gian này để tặng
em và em đổ hết xuống biển thì biển cũng vẫn như cũ, chẳng có gì
thay đối cả. Biển chấp nhận tất cả. Biển bao dung tất cả. Nếu tất
cả mọi người đều có một tấm lòng rộng như biển cả, thì thế giới
này đã là một thiên đàng từ lâu rồi.”
“Còn em thì nghĩ rằng cái tính chất
vĩnh viễn của biển chính là biểu tượng của tình yêu em trao cho
anh.”
Chúng tôi đã qua một ngày chúa nhật
đầy kỳ thú. Tình yêu đã mang đầy tính chất sáng tạo nên mỗi ngày
chúng tôi lại tìm được những kỳ thú mới. Thật là lạ lùng thế giới
của tình yêu.Và dù có óc sáng tạo cách mấy chúng tôi cũng không
thể nào khám phá được hết sự mầu nhiệm của thế giới này. Bởi vì
càng đi sâu vào, nó càng mở ra những chân trời mới không thể nào
diễn tả ra hết được.
Cuộc sống cứ như thế kéo dài tới mấy
tháng. Cho đến khi có khóa bác sĩ khác ra trường. Hiền có công chuyện
phải đi Đà nẵng mấy ngày. Ngày hôm sau tôi nhận được lệnh của Cục
quân y thuyên chuyển tôi về phục vụ ở quân y viện Tây ninh. Trong
vòng hai tuần lễ nữa sẽ có một đồng nghiệp ra thay thế tôi.
Tôi phân vân chưa biết phải báo tin
này cho Hiền bằng cách nào thì ngay chiều hôm ấy một lệnh hành quân
được ban ra với tin chiến trường sôi động.
Tiểu đoàn 3 của trung đoàn tôi đóng
ở gần mỏ than Nông sơn đụng trận mạnh với địch. Trung đoàn trưởng
quyết định gởi lên đó thêm một tiểu đoàn phối hợp với hai trung
đội biệt kích để giải tỏa áp lực cho tiểu đoàn 3. Nghĩa nói với
tôi:
“Bác sắp thuyên chuyển rồi, để tụi
em đi cũng được.”
Nhưng tôi nghĩ nếu tôi không đi, người
ta sẽ nghĩ tôi vì đợi Hiền mà cố tình ở lại, quên cả đồng đội đang
cần đến sự giúp đỡ của mình. Do đó tôi điểm danh mang theo bẩy anh
em cùng đi. Nghĩa, Tri và Châu cũng xung phong đi theo tôi mặc dù
tôi muốn để ít nhất một trong ba người có cấp bậc cao nhất ở nhà.
Nhưng bộ chỉ huy trung đoàn đã đi gần hết rồi nên công việc ở nhà
cũng không quan trọng nữa. Nếu cần còn có thượng sĩ Tạo và Kim cùng
ba y tá nữa có thể lo được.
Thế là ngay chiều hôm đó chúng tôi
cùng leo lên một chiếc máy bay trực thăng hình quả chuối. Lần này
y cụ và thuốc men được đem đi một cách khá dồi dào. Nghĩa còn rủ
Tri nhét theo mấy chai rượu whisky và một ít đồ nhậu mà hắn đã cất
kỹ trong những chai hắn rửa sạch.
Chúng tôi đáp xuống lưng chừng một
ngọn đồi sát với mỏ than. Phía dưới là một sân vận động. Tri tìm
được căn nhà của một người thợ mỏ khá rộng. Cách chỗ chúng tôi không
xa là bộ chỉ huy tiền phương của trung đoàn với thiếu tá chỉ huy
phó và các sĩ quan tham mưu của ông. Trung tá chỉ huy trưởng vẫn
ở tiểu khu Hội an, nhưng ông liên lạc vô tuyến thường xuyên và theo
dõi từng bước cuộc hành quân.
Người thợ mỏ tên Hòa có vẻ dễ thương
và hiếu khách. Nhân có tôi đến, anh nhờ tôi coi dùm bệnh của mẹ
anh. Bà cụ bị sốt rét với gan và lá lách sưng lớn, da vàng ủng.
Cụ sốt cao độ và đã gần như hôn mê. Tôi tính toán có lẽ chỉ còn
cách truyền nước biển có pha quinine may ra mới đủ sức chống lại
loại vi trùng ác tính này. Phương pháp đó trị khá mạnh nhưng cũng
có khi nhiều rủi ro. Tuy nhiên không còn cách nào tốt hơn. Quả nhiên
chiều hôm sau tình trạng bà cụ khá hơn nhiều. Tôi tiếp tục và hi
vọng bà cụ sẽ khỏi một cách nhanh chóng.
Đã hai ngày qua chưa thẩy có những
trận đụng độ nào đáng kể ngoài những trường hợp lẻ tẻ. Tôi hy vọng
cũng như nhiều lần trước khi mang lực lượng mạnh tới thì Việt cộng
đã rút lui. Rút cục ta bình yên và địch vô sự. Những cuộc hành quân
như vậy thật là dễ thương.
Buổi chiều, Nghĩa bày ra mấy chai
rượu và đồ nhậu khá ngon. Chúng tôi mời Hoà cùng nhậu cho vui.
Được một lúc, tôi được báo cáo có
thượng sĩ Tạo ở Sơn chà gọi máy siêu tần số lên cần nói chuyện với
tôi. Tôi cầm ống nghe, bên kia, tiếng thượng sĩ Tạo:
“Thưa bác sĩ, có cô Hiền muốn được
nói chuyện với bác sĩ. Cô ấy muốn được lên chỗ hành quân của bác
sĩ. Em không biết quyết định ra sao. Xin bác sĩ cho lệnh.”
Tôi bảo thượng sĩ Tạo nhường máy cho
Hiền và nói:
“Hành quân sắp xong rồi, chỉ độ hai
ngày nữa là anh sẽ về. Hiền lên đây không tiện đâu em.”
Nhưng nàng không chịu:
“Em lo lắm anh ạ. Theo tin tình báo
thì Việt cộng tập trung tới mấy sư đoàn ở quanh vùng đó. Các phi
cơ trinh sát của Mỹ cũng đang ráo riết tìm kiếm, anh không thấy
sao?”
Tôi cười:
“Tin tình báo mà em cũng biết và nói
tùm lum ra như vậy thì đâu còn gọi là tin tình báo nữa! Cứ yên trí
ở nhà đi, hai ngày nữa anh về.”
Hiền có vẻ giận:
“Anh sắp xa em rồi mà còn không cho
em lên đó nữa sao?”
Thì ra có lẽ thượng sĩ Tạo cho nàng
biết về lệnh thuyên chuyển của tôi. Hiền đang buồn, nàng cần sự
an ủi. Tôi nghĩ dù nàng có lên đây rồi hai ngày sau về cùng với
tôi cũng không có gì là phiền phức cả, do đó tôi nói:
“ Vậy thì em nói với thượng sĩ Tạo
gởi em theo chuyến trực thăng tiếp liệu của trung đoàn vậy.”
Chỉ hơn một giờ sau, tôi đã thấy nàng
nhanh nhẹn đi vào với chiếc áo dài màu tím. Anh em đứng dậy chào
Hiền rồi nhường cho nàng một cái ghế cạnh tôi. Cuộc ăn nhậu vẫn
tiếp tục hết chai rượu này tới chai rượu khác. Chung quanh màn đêm
xuống dần, những trái hỏa châu được bắn lên sáng thay cho ánh trăng.
Nghĩa khề khà nói với Châu:
“Hôm nay Tri đi hành quân, chắc các
bà ở Hội an nhớ hắn lắm vì không có người chích thuốc.”
Tri càu nhàu trong hơi rượu:
“Đâu phải một mình tao biết chích.”
Nghĩa nói:
“Thì đành rằng như vậy nhưng mày chích
không đau. Mày lại có món võ ba giọt alcol làm các bà chịu quá!”
Lúc đó trong số thuốc viện trợ Mỹ
có một loại gọi là “Liver extract” làm bằng nước cốt gan bò tươi
vừa bồ máu, vừa làm da đẻ hồng hào. Chích thuốc này sẽ ăn ngon ngủ
khỏe nên các bà sĩ quan thích lắm, thường xin tôi một, hai lọ để
dành chích dần. Tri thường đi chích cho họ tận nhà.
Tôi biết nghệ thuật chích thuốc của
Tri kể ra khá cao thật. Hắn thường cầm cây kim gọn trong lòng bàn
tay không ai thấy. Sau khi sát trùng ở vùng liên hệ, hắn đập bàn
tay đến “bốp” một cái. Người bệnh chỉ thấy cái đập của bàn tay hắn
thôi nhưng cây kim đã cắm sâu vào thịt rồi. Sau đó hắn mới ráp ống
chích và từ từ bơm thuốc, vừa bơm hắn vừa dùng ngón tay trỏ gãi
gãi ở chung quanh. Người bệnh chỉ cảm thấy tê tê và đả ngứa không
thấy đau đớn gì cả.
Còn món võ ba giọt alcol của hắn thì
tôi chưa hiểu ra sao. Nghĩa giải thích:
“Khi nào hắn đang nhậu mà bị gọi đi
chích thuốc là hắn tức lắm. Các bà sẽ bị hắn bắt nằm sấp xuống như
sắp đánh đòn. Thay vì chỉ kéo quần xuống vừa đủ để chích thuốc thôi,
hắn kéo sâu xương phía dưới, rồi trong lúc lấy alcol để sát trùng,
hắn giả vờ đánh rớt ba giọt ở giữa hai mông *** cho từ từ chạy về
phía trước. Giọt alcol bốc hơi làm các bà đê mê!”
Cả bọn cười xòa. Hiền đỏ mặt. Nàng
nắm chặt tay tôi. Một lúc nàng nói:
“Sao tôi thấy cây kim chích là tôi
sợ thế. Thế mà có người đòi chích mỗi ngày thì lạ thật. Hồi nhỏ
chỉ có trồng trái thôi mà tôi cũng phải trốn học mấy ngày!”
Nghĩa lại khề khà:
“Chích thuốc không đau đâu cô Hiền
đừng có sợ. Vả lại nếu cô đau ốm gì thì đã có bác sĩ tự tay săn
sóc. Bác sĩ chích tất nhiên phải hay hơn y tá, không có đau đâu
cô.”
Rồi trong lúc cao hứng với hơi rượu,
Nghĩa ngâm hai câu thơ không biết hắn lấy ở đâu:
Kim đâm vào thịt thì đau
Thịt đâm vào thịt thương nhau suốt đời!
Cả bọn lại cười lớn. Hiền mắc cỡ ôm
chặt lấy tôi, vừa quay lại mắng:
“Đồ quỷ!”
Tôi biết bọn họ đã bị hơi rượu điều
khiển, nhưng lâu lâu anh em được vui một lần, tôi không thể làm
mặt nghiêm để anh em bị cụt hứng. Thế là họ tiếp tục đùa rỡn tới
khuya.
Bên ngoài, rừng khuya bát ngát. Thỉnh
thoảng một trái hỏa châu được bắn lên trông như ánh lửa ma trơi.
Một vài tiếng súng lè tẻ từ xa vọng lại.
Đêm hôm đó vì có Hiền nên Hòa đã đọn
cho tôi một phòng riêng biệt trong nhà hắn có giường chiếu đàng
hoàng. Cỏn hắn ra ngoài ngủ chung với đám Nghĩa, Tri và Châu.
Tôi mệt mỏi nằm xuống giường. Hiền
áp má vào tôi như ngày nào chứng tôi mới quen nhau. Nàng không nói
gì nhưng những giọt nước mắt từ từ chảy xuống má tôi. Chì còn mấy
ngày nữa tôi sẽ ra đi. Biết ngày nào mới lại gặp nhau.
Tới khoảng hai giờ khuya, trời đổ
xuống một cơn mưa rào rào. Những giọt mưa đổ trên mái tôn trước
kia ru tôi vào cõi mộng, nay ru hai đứa vào trong cảnh ngậm ngùi.
Tôi nằm lim dim mắt, không sao ngủ được. Hiền tuy nằm yên nhưng
tôi biết nàng cũng chưa ngủ. Nàng không đòi hỏi tôi như những lần
trước. Thỉnh thoảng tôi nghe có tiếng thở dài.
Tới bốn giờ sáng, màn đêm dầy đặc
bỗng nhiên bị xé tan bởi những tiếng nổ chát chúa với những sẹt
lửa trông như ánh chớp. Mọi người lao ra các hố cá nhân. Tôi uể
oải ngồi dậy. Tôi biết rằng Việt cộng đã đụng các đơn vị tiền sát
của chúng tôi, vì họ đã pháo kích vào bộ chỉ huy nhưng chưa có trái
nào trúng đích. Từ phía căn nhà bên cạnh, tôi nghe tiếng máy truyền
tin hoạt động liên tục:
“Báo cáo đại bàng, hai đại đội của
tiểu đoàn ba đã bị tràn ngập. Việt cộng ở trong rừng xông ra với
quân số hết sức đông đảo. Đại đội ba của tiểu đoàn vừa chiến đấu
vừa rút dần lên các điểm cao của đồi 32. Xin được tăng viện gấp.”
Tiếng nổ ròn tan của những tràng đại
liên nghe rất rõ hòa cùng tiếng nổ của những trái lựu đạn giống
như một tràng pháo trong đó thỉnh thoảng người ta gắn thêm một trái
pháo đùng.
Trận mưa vẫn tiếp tục. Đồi 32 còn
cách chúng tôi một khoảng khá xa nên tôi không nghe được những tiếng
hô xung phong của địch.
Tiếng máy truyền tin vẫn rè rè:
“Alô Alô, anh nghe được tôi rõ không?
4 trên 5 hả. Anh cố gắng cầm cự tới sáng sẽ có tăng viện, ngoài
ra sẽ có sự yểm trợ và tiếp tế của phi cơ.”
Tôi bước sang nhà bên cạnh gặp thiếu
tá Bá thuộc ban ba trung đoàn. Anh cho biết trung tá chỉ huy trưởnng
đã quyết định đưa tiểu đoàn hai lên tăng viện. Ngoài ra chúng tôi
còn dự trữ được hai đại đội của tiểu đoàn 39 biệt động quân để dùng
khi cần thiết. Trung tá trung đoàn trưởng đã báo cáo lên quân đoàn
xin tăng viện vì quân số của Việt cộng đông hơn của chúng ta gấp
bội.
Như vậy là tiểu đoàn 2 sẽ được đưa
lên đây sáng nay. Đại úy Đức bạn tôi, và là anh họ của Hiền, chính
là tiểu đoàn phó của tiểu đoàn này. Tôi lại nghĩ đến chiếc áo giáp
của anh. Cầu mong nó sẽ che chở cho anh được phần nào.
Trời đã sáng nhưng chưa thấy có phi
cơ nào cất cánh được cả có lẽ vì thời tiết xấu. Thiếu tá Bá cho
biết tiều đoàn 4 của trung đoàn đóng ở khu kỹ nghệ An hòa gần đó
cũng đã đụng mạnh với địch. Tiểu đoàn có nhiệm vụ vừa chiến đấu
vừa sửa soạn một bãi đáp cho tiểu đoàn 2 được gởi lên khoảng một
giờ nữa.
Tôi trở lại nhà Hòa, đưa Hiền vào
phòng bà cụ mẹ Hòa rồi ra ngoài xem tình hình ra sao, đã có thương
binh nào được chở về chưa? Tôi quyết định căng một cái lều ở dưới
chân đồi, gần sân vận động làm chỗ cấp cứu cấp thời cho các thương
binh. Sân vận động có thể dùng làm bãi đáp cho các trực thăng tản
thương.Tri và Châu đã sửa soạn sẵn những quả lựu đạn khói màu vàng
đế làm hiệu cho các trực thăng đáp xuống lúc cần thiết. Đại đội
biệt kích của trung đoàn phòng thủ chung quanh sân vận động, vừa
để bảo vệ cho bộ chỉ huy, vừa giữ an ninh cho các trực thăng đáp
xuống. Tri và Nghĩa rất thành thạo, đã căng xong lều một cách nhanh
chóng. Y cụ và thuốc men chúng tôi còn đầy đủ.
Đến tận trưa, trời mưa mới hơi ngớt
một chút. Tôi nghe có tiếng phi cơ ầm ỉ và vài quả bom được thả
xưống quanh đồi 32. Một chiếc dù màu cam thả xuống một thùng gì
khá nặng để tiếp tế cho những người chiến đấu trên đỉnh đồi. Trời
chưa quang đãng lắm nhưng súng cao xạ của Việt cộng bắn lên tạo
những đám khói trên bầu trời trông đã khá rõ.
Thiếu tá Bá cho tôi biết tiểu đoàn
2 đã được chở tới nhưng không may đã đáp phải “ổ kiến lửa”. Anh
em đã phải dùng chiến thuật “xung phong cấp thời” để bắt liên lạc
với cánh quân còn đang chiến đấu trên đồi 32. “Xung phong cấp thời”
là một biện pháp cuối cùng phải áp dụng khi bị lọt vào ổ phục kích
của địch. Thay vì nằm chết ở một chỗ cho địch bắn trả tử bốn phía
thì tất cả dồn về một phía, tập trung tất cả hỏa lực vào phía đó
để mở một đường thoát thân. Làm như vậy tuy tổn thất nặng nhưng
không còn cách nào khác hơn.
Buổi chiều, tôi nghe tin quân đoàn
cho tăng viện thêm hai chi đội kỵ binh thiết giáp, hai tiểu đoàn
thủy quân lục chiến và một số đơn vi thuộc sư đoàn 2 ở Quảng ngãi
cũng được điều động ra để tiếp viện. Tuy nhiên quân tiếp viện có
thể trễ một chút vì ban 2 quân đoàn khuyên dè dặt và cho biết Việt
cộng còn dự trữ tới hai sư đoàn nữa. Có thể chúng nhử cho lực lượng
của ta tới đây rồi thừa cơ đánh úp hai thành phố Quảng nam và Quảng
ngãi. Dù sao chúng ta phải chuẩn bị cho những cuộc đụng độ lớn và
kéo dài.
Chúng tôi theo dõi chặt chẽ cuộc chiến
ở đồi 32. Theo các báo cáo vô tuyến nhận được, thì Việt cộng đã
áp đảo bằng những trận mưa pháo rồi sau đó họ xung phong hàng loạt,
quân số đông hơn chúng tôi gấp bội. Họ được lợi thế là có thể đào
những địa đạo một cách dễ dàng vì đất mềm do những trận mưa, Còn
chúng tôi lợi thế vì ở trên cao nã xuống. Đến chiều thì hai phe
đã tiến gấn sát nhau. Phi cơ thả đồ tiếp liệu xuống nhưng phần nhiều
lọt vào tay địch và những trận đánh xáp lá cà chắc khó có thể tránh
được. Tôi nghĩ đến những đoàn người lăn xả vào chém giết nhau mà
cảm thấy ghê sợ. Còn hai đại đội thuộc tiểu đoàn 39 biệt động quân,
lực lượng cuối cùng còn sử dụng được của trung đoàn tôi cũng được
mang lên nốt để cố giải toả cho đồi 32. Như vậy thì kịch chiến sẽ
diễn ra ác liệt suốt đêm.
Suốt đêm tôi ngồi bên cạnh máy truyền
tin của thiếu tá Bá để theo rõi. Một trận mưa hết sức nặng hạt lại
đổ xuống làm mù mịt đất trời. Trong những tiếng nổ của tất cả các
loại súng từ xa vọng về, tôi đoán chắc chắn số thương vong sẽ lên
rất cao. Nhưng không thấy có thương binh nào được khiêng về. Những
người khiêng cáng do ban quân y đặt ở các tiểu đoàn hiện cũng không
biết sống chết ra sao?
Cho tới sáng hôm sau thì thiếu tá
Bá cho biết tình trạng ở đồi 32 kể như đã tuyệt vọng. Máy truyền
tin gọi tới không có người trả lời nữa, Việt cộng đã tràn ngập.
Thiếu tá dùng ống nhòm quan sát đỉnh đồi nhưng ông nói vì mưa to
quá nên không nhìn rõ, chỉ thấy một vài bóng người đang di chuyển
trên đỉnh đồi mà ông nghĩ có lẽ là lính chính quy Bắc Việt.
Mất đồi 32, tình trạng của chúng tôi
trở thành nguy hiểm. Việt cộng có thể bao vây chúng tôi một cách
dễ dàng. Trên đồi gần cửa mỏ than chỉ còn một số binh sĩ chuyên
môn như quân y, truyền tin, tiếp liệu, chiến tranh chính trị… Đại
đội biệt kích đóng ở chân đồi khó có thể bảo vệ được bộ chỉ huy
hành quân. Chúng tôi được lệnh chuẩn bị cho một trận tử thủ cuối
cùng trong khi chờ quân tiếp viện.
Khoảng hai giờ chiều, quả như chúng
tôi dự đoán, Việt cộng đã xuất hiện ở chân đồi và đụng chạm với
biệt kích. Họ có vẻ như ăn chắc nên không cần vội vã nữa. Họ đào
những địa đạo một cách nhanh chóng, kéo tới thật đông và áp đảo
tinh thần chúng tôi không phải bằng những trận mưa pháo nữa mà bằng
những tiếng hô nghe rùng rợn:
“Hàng sống, chống chết! Hàng sống,
chống chết! Hàng sống, chống chết!”
Hàng trăm cái miệng cùng hô lớn lấn
áp cả liếng gió rít mưa rào. Anh em biệt kích rút lên lưng chừng
đồi để có lợi thế từ cao bắn xuống. Việt cộng chưa mở những đợt
xung phong. Họ hy vọng chúng tôi có thể đầu hàng để họ đỡ phải vất
vả chăng?
Thiếu tá Bá vẫn bình tỉnh. Ông liên
lạc với tiểu khu Hội an và xin lịnh nếu không thể cố thủ được ở
đồi này, chúng tôi sẽ rút vào trong mỏ than và phân ra từng ổ chiến
đấu nhỏ một. Việt cộng không thể dể dàng nuốt sống chúng tôi.
“Hàng sống, chống chết! Hàng sống,
chống chết!”
Vẫn những tiếng hô đầy sắt máu. Tôi
nghe rõ tiếng trung tá trung đoàn trưởng trong máy truyền tin:
“Anh có chắc không còn hy vọng gì
ở đồi 32 nữa không?”
“Thưa trung tá, không còn hy vọng
gì. Họ đã hy sinh đến nguời cuối cùng. Có thể chỉ còn vài người
bi thương bị chúng bắt làm tù binh. Nếu phải dùng tới biện pháp
cuối cùng, chúng ta cũng ân hận đã phải hy sinh cả những anh em
còn sống sót. Nhưng không còn cách nào khác hơn.”
Tôi trở lại nhà Hoà để cùng Nghĩa,
Tri và Châu chuẩn bị nếu có lệnh rút và trong mỏ than. Hoà nói với
tôi:
“Em làm thợ mỏ đã lâu năm. Trong mỏ
than có những ngõ ngách nào là em biết hết. Nếu cần em sẽ đưa bác
sĩ và anh em vào trong đó thì có trời kiếm cũng không ra. Chỉ cần
chuẩn bị thực phẩm độ một tuần lễ. Sau khi Việt cộng rút đi, mình
sẽ lại ra.”
Đêm hôm đó chúng tôi chuẩn bị đi theo
Hòa nếu Việt cộng tấn công lên. Tôi ngạc nhiên thầy Hiền có vẻ bình
tĩnh không sợ hãi. Nàng cũng sẵn sàng đi vào mỏ than với chúng tôi.
Nhưng đêm hôm đó Việt cộng đã không tấn công lên. Họ biết bộ chỉ
huy trung đoàn chẳng còn hao nhiêu người nhưng nếu tấn công lên
họ cũng phải chịu những tổn thất không ít.
Tới sáng, cơn mưa đã tạnh nhưng Việt
cộng chỉ mở những trận tấn công lẻ tẻ hy vọng chúng tôi bắn hết
đạm, không tiếp tế được, lúc đó sẽ phải đầu hàng. Lần đầu tiên tôi
nhìn thấy những binh sĩ chính qui Bắc Việt với quần áo mầu xanh
lá cây. Họ đã xuất hiện ở gần sân vận động.
Đại đội biệt kích được lệnh rút lên
cao hơn nữa và sau đó ban hành quân ra lệnh cho chúng tôi tung hết
những quả lựu đạn khói ra để phân biệt rõ ràng ranh giới giữa ta
và địch. Tôi biết rằng lệnh ra như vậy có nghĩa là chúng tôi sắp
được yểm trợ mạnh mẽ của không quân.
Thực vậy, chỉ không đầy năm phút sau,
những tiếng nổ đinh tai nhức óc không thể tưởng tượng nổi làm tôi
tưởng chừng như đã đến ngày tận thế. Những thảm bom do B52 của không
lực Hoa kỳ được gọi tới được trải ra chung quanh đồi của chúng tôi.
Sau một lúc hốt hoảng, tôi cố thò đầu ra khỏi hố cá nhân nhìn xuống.
Đất cát bắn lên tung toé hoà cùng với lửa và khói. Những thân cây,
cành cây bị cắt đứt văng lên có khi tới mấy chục thước. Mặc dầu
mặt đất còn ướt át nhưng nhiều nơi tôi thấy lửa cháy ngút trời và
từng cuộn khói đen bốc lên sặc sụa. Chung quanh ngọn đồi của chúng
tôi chắc không còn sinh vật nào sống sót. Ngọn đồi 32 ở phía nam,
nơi hôm trước đã diễn ra những trận giao tranh ác liệt, nay cũng
là mục tiêu của B52. Tất cả kẻ thắng cũng như người bại nay đều
trở thành bình đẳng. Trông cả ngọn đồi tan tành dưới trận mưa bom,
tôi xót xa nghĩ đến bạn tôi, đại uý Đức. Chiếc áo giáp anh cho tôi
mượn, tôi chưa dùng tới. Chiếc áo giáp của anh, nếu anh còn sống,
cũng không thể che chở cho anh dưới những trái bom nặng tới năm
trăm kí.
Phi cơ B52 tấn công từng đợt một.
Những khu rừng chung quanh cũng lần lượt sụp đổ tan tành. Không
biết Việt cộng đã tập trung bao nhiêu người trong những khu rừng
đó. Chỉ biết rằng sau hơn một tiếng đồng hồ, chung quanh tôi rõ
ràng chỉ còn là khung cảnh của một hành tinh chết.
Có tiếng nói của thiếu tá Bá qua máy
truyền tin:
“Báo cáo đại bàng, chiến trường đã
được dọn sạch. Chúng tôi được bình yên. Xin đợi lệnh.”
Tôi trở lại nhà Hòa cùng anh em mở
đồ hộp ra chuẩn bị cho bữa ăn trưa. Toán biệt kích ở chung quanh
cũng có vẻ thoải mái. Họ ra khỏi hố cá nhân, nói chuyện, ăn uống
với nhau một cách vui vẻ. Nhiều người mệt mỏi nằm dài trên bãi cỏ.
Buổi chiều tôi định xuống đi thăm
những vùng chung quanh xem có phép lạ nào còn người cỏn sống hay
không nhưng Nghĩa thận trọng nói tôi hãy chờ cho anh em biệt kích
đi trước đã.
Thế là đến năm giờ chiều tôi mới đi
xuống. Cả Nghĩa, Tri và Châu cùng xuống với tôi, súng lăm lăm trên
tay. Hiền cũng không rời tôi nửa bước. Leo lên đồi 32, tôi thấy
những hố bom ở khắp nơi, tạo thành những vũng nước. Những xác người
không thể đếm sao cho hết được, đa số đều không còn nguyên vẹn.
Chỗ này một cánh tay, chỗ kia một thân mình đã mất cả đầu. Tôi nhìn
thấy những đầu người bê bết máu nhưng mắt vẫn mở thao láo với nét
kinh hoàng của nạn nhân trước khi chết. Trong các địa đạo của Việt
cộng đào, những xác người nằm vắt vẻo nửa trên thành, nửa đưới hố,
nhiều xác đứt làm đôi, nhiều xác banh hết bụng. Vũ khí la liệt khắp
nơi. Những chiếc nón cối tanh bành ra như cái giẻ rách, quần áo
của binh sĩ văng tứ tung đầy đất cát nhiều khi không nhận ra là
màu áo của binh sĩ Bắc Việt hay binh sĩ của trung đoàn tôi. Trên
đỉnh đồi, tôi còn thấy có những mảnh vải màu vàng màu đỏ không biết
bị xé rách từ những lá cờ đỏ sao vàng hay những lá cờ vàng ba sọc
đỏ.
Những đám cỏ non bị cháy xém đen từng
mảng. Một số cành cây bị cháy còn chưa tắt hẳn vẫn còn tỏa ra những
cột khói nhỏ. Lên tới đỉnh đồi, những hố bom vẫn còn rải rác khắp
nơi, hố nào cũng có nước. Có những xác người đầu ngâm dưới nước,
mình và chân thò ra ngoài. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy số xác chết
nhiều đến thế. Tôi đã từng học y khoa, đã từng mổ xác chết, đã từng
tham dự nhiều cuộc hành quân thì xác chết đối với tôi đâu phải là
điều xa lạ. Nhưng sao lần này tôi cảm thấy vô vùng xúc động và cả
sự sợ hãi nữa. Tôi nhìn ra chung quanh, có lẻ định tìm xem có dấu
tích nào của bạn bè tôi không, kể cả đại úy Đức nữa, nhưng không
có hy vọng gì tìm được. Hiền cố gắng theo tôi, mắt nàng đỏ hoe,
tay chân run rẩy, cố nắm chặt tay tôi. Nàng chưa bao giờ nhìn thấy
cảnh này. Một lúc Hiền như không còn đứng vững được nữa, nàng ôm
chặt lấy tôi, đầu gục vào vai tôi và khóc như mưa như gió.
Tôi cố gắng trấn tĩnh ôm chặt lấy
nàng và an ủi nàng nhưng thực ra để an ủi chính tôi. Cả một quê
hương tôi đang đổ vỡ, cái quê hương tôi đã yêu kể từ khi mới lọt
lòng mẹ cho tới ngày nay và sẽ còn yêu mãi cho tới ngày nhắm mắt
nay đang sụp đổ dần dần. Trong cơn xúc động mãnh liệt, tôi đã tìm
thấy cái định nghĩa đích thực của chiến tranh. Đó là:
Chiến tranh là sự lăn xả vào chém
giết nhau của những người không hề biết nhau, không hề ghét nhau,
không hề thù hận nhau, không tranh giành quyền lợi của nhau để làm
vừa lòng cho một số nhỏ người. Chúng biết nhau rất rõ, chúng rất
ghét nhau, rất thù hận nhau. Chúng tranh giành quyền lợi của nhau,
nhưng chúng lại không bao giờ lăn xả vào giết nhau cả.
Một lúc tôi buông Hiền ra vì tôi mới
nhìn thấy một người còn nguyên vẹn. Tôi chạy xuống phía dưới, tới
gần xem hy vọng anh ta còn thoi thóp chăng. Nhưng vô ích. Anh ta
đã chết, có lẽ vì sức ép của bom, trên thân thể không có vết thương
nào.
Hoàng hôn xuống dần. Tôi nhìn lên
đỉnh đồi. Hiền vẫn đứng bất động trên đó. Hình dáng nàng in trên
nền trời. Tôi nhìn nàng mà cảm thấy sót xa. Chỉ vài ngày nữa tôi
sẽ ra đi. Giã từ vùng đất tôi đã phục vụ đầu tiên trong cuộc đời
chữa bệnh của tôi. Giã từ con sông Thu bồn đã lần đầu tiên dậy tôi
những bài học của sự bao dung. Giã từ những biến động làm se lòng
tôi và tôi cũng phải cám ơn những cộng sự viên của tôi, những người
còn sống hay đã nằm xuống, cám ơn thành phố Hội an hiền hòa đã cho
tôi một tình yêu kỳ ảo lồng trong một khung cảnh chinh chiến đau
thương.
Tôi sẽ ra đi. Hành trang tôi chẳng
có gì nhưng tâm tư tôi thật là nặng trĩu. Tâm tư đó được khắc sâu
bởi nỗi đớn đau của cả một dân tộc. Nỗi đớn đau đó ngày nào mới
chấm dứt? Nỗi đớn đau đó nay được tượng trưng bởi hình ảnh của Hiền.
Nàng đứng sững trên đỉnh đồi. Tóc nàng rối bời, tà áo tung bay.
Nàng đang úp mặt vào hai bàn tay, khóc nức nở bên những hố bom còn
loang bóng nước.
|