|
Tình Thơ
Nguyễn Hoàng Diệu
Giành giật với thời
gian thoăn thoắt, tôi lại viết, viết sau những phút giây tất bật,
viết trong hối hả của cuộc đời, viết như để thêm calories cho thực
phẩm buổi trưa, cho đắng thêm ly cafe buổi sáng. Viết để thỏa những
ước mơ của thời trẻ không thành. Tôi lại viết, viết với bằng hết
cả đam mê, viết với cả tấm lòng. Không dám nghĩ bất cứ điều gì về
sự thành đạt nhưng hy vọng sẽ không hoài công bởi chính nó là thực
phẩm của đời tôi. Cảm ơn cuộc đời đã cho tôi thời gian để viết,
đã cho tôi chút riêng tư để chiêm nghiệm, và rồi một cõi riêng để
đắm say. Cũng xin cảm ơn “người” đã đảm đang chia sẻ nhọc nhằn,
và vài mụn “trẻ thơ” cho đời tôi bận rộn. Cảm
ơn đời sống đã trở nên thật dễ thương sau thời gian dài đầy sóng
gió, bởi chính cái sóng gió đã cho tôi cảm xúc, cho tôi nguồn hứng
khởi để có được đề tài.
BẠN THƠ
Trời thật trong, gió nhè nhẹ lướt
qua trên từng cánh bông hồng trong sương sớm, Mặt trời vừa ló dạng
sau hàng cây đầu ngõ, mang cái không khí trong lành về lại trong
vườn hoa nhà ông Trợ. Vẫn chiếc cầu vồng bảy màu ẩn hiện mỗi lúc
nắng về choàng lên cụm sứ già nơi góc vườn bên hàng dừa cao vút
cùng một vài giọt sương đêm còn sót lại càng tôn thêm cái kỹ thuật
chơi hoa lão luyện của ông Trợ, người chủ mảnh vườn hoa trong căn
nhà gần cuối phố.
Cửa nhà mở, ông Trợ bước ra, con chó vàng đi theo ve vẩy như mừng
người bạn già buổi sáng. Ông Trợ thong thả bước về phiá cuối vườn,
nơi ông ngồi đó hằng giờ bên chiếc bàn nhỏ mỗi ngày để tắm mình
trong nắng sớm, để ngắm cái nụ hồng nở chậm ngâm vài ba câu lục
bát, uống trà, hút thuốc, thư thả chờ bạn thơ.
“Hôm nay ông uống trà sớm vậy”- tiếng bà Lâm ở vườn bên cạnh đưa
ông Trợ về lại với thực tại.
“Ờ thì lúc nào thức thì uống trà rồi đọc vài ba câu thơ cũ, chờ
ông Thạnh họa lại cho vui”. Ông Trợ tiếp:
“Mà này, mấy câu hôm qua bà đọc nghe mà thấm lắm đó. Có bài nào
mới nữa không? Ồ mà sao ta cũng cứ thơ thẩn nửa chừng, không định
được cái tâm cho chuẩn mực hầu cuộc sống bằng an hơn”.
“Ở cái tuổi của mình, tâm hồn đôi khi cũng chùng lại”, bà Lâm trả
lời.
“Thơ cũng vậy, nó chợt đến, chợt đi như cõi đời tạm bợ, bắt được
nó thì giữ lại chia cho nhau, bèn không lại tan loãng vào hư không
mất. Thôi mà cái tuổi “lực bất tòng tâm”. Có gì đâu mà chuẩn với
mực.
“Bà nói gì kỳ vậy, thể xác thì là “Thất thập cổ lai hy” còn như
tâm hồn thì không thể là vậy được, nhất là tâm hồn của thi ca, “cái
tâm hồn chỉ để đọc, để viết, và để làm thơ mà không hề vướng bận
…”
Năm ba mẩu đối thoại lại qua, bà Lâm đã đến bên hàng rào khi nào
không biết, nơi cũng kê một chiếc bàn nhỏ cho những buổi đàm thơ.
Họ đã qua lại như láng giềng từ thuở nhỏ cùng tắm mưa, rồi ngày
tháng, rồi tháng ngày, họ lớn lên theo thời gian, theo cuộc đời
lận đận. Ông Trợ về nhận việc tại một trường trung học, nơi bà Lâm
là thư ký văn phòng. Cuộc đời run rủi, mỗi người một cuộc sống riêng
với gia đình, với con cái, lại phải tất bật riêng với những chuyện
cơm áo đời thường …
Rồi cũng chính cái vô thường của đời thường đó đã cướp đi người
chồng thân yêu, để lại cho bà Lâm bé Hoàng và cu Thịnh lúc bà vừa
tròn ba mươi tuổi. Gánh nặng cuộc đời như oằn xuống trên đôi vai
gầy của cô thư ký nhỏ. Rồi ngày ngày qua, cu Thịnh bây giờ đã là
ông hiệu trưởng chính cái trường mà bà Lâm là thư ký thuở nào, còn
bé Hoàng đã là mệnh phụ của ông tỉnh trưởng miền trong. Bà Lâm bây
giờ sống với vợ chồng “cu Thịnh” trong căn nhà cũ, nơi mà bà đã
lớn lên từ thuở lọt lòng.
“Ồ có trà Mai Hạc của cậu Luân Hoán đem tới hôm qua ngon lắm”, tiếng
ông Trợ.
“Ngồi xuống đây uống một chút cho vui”, ông tiếp,
“Sáng nay dậy sớm, cũng chẳng biết làm gì. Cái tuổi già sao trống
vắng quá, ở không suốt ngày cũng thấy buồn, mà làm gì thì làm không
nỗi, đành vậy để dỗ dành ngày tháng qua”.
Bà Lâm ngồi xuống ghế, đưa tay đỡ tách trà, hớp một ngụm, mùi hương
thoảng nhè nhẹ trong giọng ngâm trầm trầm của ông Trợ về một bài
thơ ngày nọ, rồi nữa, một bài thơ Đường …
Lúc ông đọc, lúc bà ngâm, họ chìm trong cái không khí như vậy đã
bao lâu rồi có lẽ họ cũng không hề để ý. Đối với họ, ngày không
qua, tháng không trôi, và năm cũng dừng lại. Đơn vị thời gian không
còn ý nghĩa trong cuộc đời nầy nữa, kể từ ngày họ trở thành đơn
chiếc, bơ vơ giữa những nhọc nhằn của cuộc đời. Tâm hồn họ lang
thang trong vườn thơ lạ, đôi lúc họ bắt gặp nhau đâu đó trong vài
vần thơ, trong một suy nghĩ và họ thú vị với sự phùng ngộ nầy. Và
rồi chỉ trong khoảnh khắc, họ lại trở về với nỗi cô đơn cố hữu,
với sự bó khung của cuộc sống. Dường như họ dùng thơ để đếm nốt
thời gian cho khoảng đời còn lại, thơ như thực phẩm hằng ngày và
thơ là tri kỷ, tri âm.
“Tuổi trẻ bây giờ vươn xa lắm đó bà ạ”_ bất chợt ông Trợ lên tiếng.
“Bà đã đọc thơ của Luân Hoán chưa, rồi Vương Trùng Dương nữa, à
mà còn có cả Cung Tích Biền…chỉ nghe cái bút hiệu của bọn chúng
thôi cũng thấy có cái gì đó khác lạ của tuổi trẻ ngày nay rồi. Bọn
nhỏ bây giờ hay lắm, sinh động lắm, biết đâu ở cái nơi mình muốn
tới, bọn nó đã bày tiệc uống rượu, thơ ngâm, ca họa lâu rồi.”
“Ông à, tôi thật sự hạnh phúc thấy bọn trẻ sau nầy vượt hơn mình,
phải vậy chứ. Chữ nghĩa sẽ được khai thác đúng mức để hiểu, để thưởng
thức. Tâm tưởng phải nở rộ như hoa mùa xuân cho người đời chiêm
nghiệm, và đau thương phải trải ra cùng thế nhân, hạnh phúc phải
được chia sẻ, cho cuộc đời còn mãi nụ cười thì mới đáng nghĩa cuộc
đời chứ”.
“Con hơn cha là nhà có phúc. Ông bà mình đã nói vậy mà.”
“Đúng, bà nói đúng. Phải thấy rằng lớp trẻ sau nầy vượt xa lắm,
họ đúng là sống với, và vị nghệ thuật. Sáng đớp tô không khí để
làm thơ, chiều húp chén cháo lỏng lừa phỉnh dạ dày để viết, làm
được bao nhiêu đồng thì chỉ để thả khói thuốc bay đi, và rồi thu
lại cái gì đâu không tưởng, bởi cái giá của văn chương – văn chương
hạ giới rẻ như bèo – cái giá văn chương thời cụ Tản Đà lưu lại và
cái giá nầy cũng không biết sẽ ở lại trần gian nầy cho đến bao giờ
mới hết.
Biết vậy mà họ vẫn chọn nó như cái nghiệp cho cuộc đời của họ, chọn
nó để giải thoát những riêng tư, chọn nó để dâng tặng…, không đắn
đo, không cần nhận lại, và chẳng cần biết cái nhận lại có đủ để
nuôi chính bản thân không. Họ đã sống như vậy và còn tiếp tục như
vậy như một sự tự nguyện. Tự nguyện như vậy cho đến bao giờ, họ
cũng không cần phải để ý bởi họ đã chọn nó bằng chính suy nghĩ của
mình”
...
“Ông nội ơi”, tiếng thằng cu Tý phá ngang cái không khí gần như
đỉnh tuyệt của hai người bạn già, “mời ông nội vào ăn cơm trưa”.
“Ô, ông vào liền đó con”, ông trả lời thằng bé.
Với tay cầm lấy cây gậy bên bàn, đứng lên, nhìn người bạn già rồi
buột miệng:
“Khi nào cơm nước không còn là cần thiết, chắc mình sẽ thanh thản
lắm”, ông nói vậy như lời chào từ biệt bà Lâm, rồi chậm bước theo
đứa cháu nhỏ vào trong.
Có lẽ sớm hơn mọi ngày, ông Trợ ra vườn, đưa tay nhẹ nâng đóa hồng
đỏ tuyết, con chim sâu nhỏ đứng yên trong không gian tĩnh mịch của
tinh mai, cụm lài phơi sắc, một chút hương thơm thật dịu thoang
thoảng đâu đây, ông chầm chậm bước dọc theo hàng tigon sắc hồng,
cái chậm chạp của tuổi xế chiều, và rồi lại ngồi xuống nơi chiếc
bàn nhỏ.
“Chào ông qua chơi ạ”, tiếng con Út nhà bà Lâm làm ông chợt tỉnh.
Bây giờ ông mới biết là mình đã băng qua cái hàng rào hoa tigon
giữa hai nhà. Bây giờ Ông mới biết mình đã đi trong tâm tưởng của
đời sống, và hình như cũng bắt đầu vượt qua cái lằn mức đời thường,
cái lằn mức mà bao đời rồi chưa ai dám vượt.
“Bà đâu con”, ông đáp lời con bé như một phản ứng tự nhiên.
“Dạ, bà con đang ra đó, để con pha trà mời ông nhé”.
Dường như không nghe tiếng con bé ông lại chìm vào trong những suy
nghĩ riêng tư, phà một hơi thuốc, mắt lim dim, một dòng suy nghĩ
chợt đến. Có lẽ ông phải băng qua tất cả những hàng rào của tư tưởng,
băng qua tất cả những bình thường của đời sống để đạt tới cái tuyệt
mỹ trong thi ca mà theo ông, chỉ có thi ca mới có chỗ đứng cho những
tâm hồn trinh bạch. Ông tin rằng đó là sự thật, một sự thật mà ông
muốn đạt tới hôm nay.
Miên man trong những tâm trạng riêng tư, bà Lâm đã ngồi đó tự bao
giờ mà ông không hay biết. Bà cũng không nỡ phá đi cái riêng tư
của ông, nhưng rồi cũng đành bởi không đủ kiên nhẫn chờ đợi nữa.
“Gớm, làm gì mà ông lặng cả người vậy”, tiếng bà Lâm một lần nữa
đưa ông về với thực tại.
Không trả lời bà, và như cướp lấy thời gian, ông cầm lấy tay bà
một cách vội vã và nói…
Ông Trợ đã nói với bà thật nhiều, thật nhiều những suy nghĩ, những
trăn trở tưởng như là những ước mơ cho đoạn cuối của cuộc đời, những
đề nghị táo bạo, vượt xa cái suy nghĩ bình thường của xã hội, của
con người hiện tại, đề nghị của ông như một bứt phá mới của cuộc
đời, một cuộc phiêu lưu đi tìm vùng đất lạ, vùng đất để cho những
tâm hồn thanh khiết lên ngôi.
Ông đã đề nghị bà về với ông, về cái nơi mà ông đã tìm được sau
bao nổi truân chuyên, về với mảnh vườn mà ông đã dọn sẵn, để ở đó
họ sẽ sống cho hết những ngày còn lại, nơi có nhiều hoa thơm, cỏ
lạ; rồi nữa thơ của họ sẽ tưới cho vườn hoa đơm sắc, cho ngày tháng
không còn và rồi bạn bè sẽ đến cho rộn ràng những buổi chiều, tươi
mát cho những buổi mai. Ở đó, thời gian không còn là cái mốc của
cuộc đời họ nữa… Họ sẽ sống và sẽ sống như đang sống trong cái thế
giới vô thường.
Cảm được điều ông nói, bà Lâm vẫn để yên tay mình. Thấm được ngôn
từ ông dùng, bà lặng người sung sướng, tin rằng hiểu được đúng nghĩa
về những đề nghị của ông, nó không phải là những đề nghị cho cái
thân xác rã rời này, mà nó phải có một giá trị khác hơn, một giá
trị vượt ra khỏi những toan tính bình thường của đời sống. Tuy vậy,
bà biết cái nghiệt ngã của cái đời sống hiện tại, vốn đã không buông
tha bà từ khi ông Lâm còn sống, rồi sau đó và mãi đến bây giờ. Bà
biết nó không đơn giản như chỉ một cái hàng rào hoa tigon và một
tấm lòng trải mở, để dể dàng băng qua như ông Trợ đã lạc bước sáng
nay, mà bà phải vượt qua thật nhiều gian nan nữa bà mới đến được
cái nơi mà ông vừa đề nghị…
Bà phải băng qua những “đạo lý”, “luân thường” từ sách vở, “lời
chì, tiếng bấc” từ người đời và… Nhất là địa vị xã hội hiện tại
của đứa con trai, rồi đứa con gái – bà Tỉnh trưởng phu nhân trong
kia nữa… Một suy nghĩ chợt đến làm bà rùng mình, rồi một thoáng
tâm tư khác củng cố cho bà vững tin:
“Cái quan định luận”
“Ông đúng”, bà Lâm buột miệng “chúng ta không còn trẻ để nói chuyện
cưới xin, cho hai cái thể xác “lực bất phược kê” này nữa. Nhưng
trong thơ, ông và tôi vẫn còn trẻ, ta vẫn còn đủ để nồng thắm, để
ái ân với những vần thơ ta viết, để thăng hoa trong ý nghĩa của
thi ca. Rồi “Đời” sẽ thưởng thức nó, nâng niu nó, và “Người” cũng
sẽ biết và họ phải biết thật rõ ràng là bên cạnh cái cõi đời tạm
bợ nầy, vẫn còn có nơi chốn để làm tổ cho những tâm hồn thanh khiết
của thi ca. Và rồi họ cũng sẽ đến nếu họ cảm được sự thanh khiết
như thế ở cuộc đời này.
“Thôi bà vào nghỉ”, ông Trợ đề nghị, “chúng ta sẽ có nhiều việc
cho ngày mai”.
GIA ĐÌNH
“Em cảm thấy ngại quá anh ạ”, Mỹ Linh
thì thầm bên chồng trong nỗi âu lo.
“Không biết là hàng xóm sẽ nghĩ sao, rồi học trò của anh nữa. Thật
là khó nghĩ. Và rồi em sẽ phải giải thích thế nào với đám bạn trong
sở.
Rồi nữa… Chuyện gì sẽ đến trong cái
thành phố quá nhỏ nầy, cái thành phố nhỏ đến nổi chỉ có một đường
phố duy nhất, và hầu như mọi người đều biết mặt nhau. Chắc là mọi
chuyện sẻ rùm beng và rồi sẻ có thật nhiều những lời bàn ra tán
vào để câu chuyện có thêm nhưng nhị hầu thỏa lòng người. ”
“Đừng lo”, nói như khẳng định, Thịnh trấn an vợ.
Anh tin mẹ anh, anh tin mẹ sẽ không làm điều gì sai quấy. Anh tin
mẹ không phản bội bố anh nơi chín suối, bởi nếu, thì mẹ đã bước
thêm bước nữa từ lúc đó, lúc mẹ mới 30 kia mà, đâu phải đợi cho
tới bây giờ.
Như để củng cố cho suy nghĩ của mình, Thịnh tiếp:
“Mẹ đã hy sinh cả một thời son trẻ cho anh và em Hoàng, anh tin
là mẹ không tự xóa bỏ thanh danh đã có được bấy lâu, ở cái tuổi
75 này. Chắc chắn mẹ xứng đáng để sống đời sống mẹ muốn có, và càng
tin là mẹ đáng hưởng một cuộc sống mà cuộc đời tầm thường không
nghĩ tới, mặc cho người đời đàm tiếu, nhưng anh tin rằng cuối cùng
họ sẽ hiểu được mẹ là thanh khiết. Và rồi bản thân sự việc chính
nó sẽ trả lời tất cả những thị phi, những dư luận; rồi anh tin rằng
cũng chính nó sẽ mở ra một chân trời mới – thơm ngát hương hoa,
một vùng đất thánh thiện cho bao cuộc sống mới của con người bên
cạnh cái xã hội quá nhiều bất trắc, phiền nhiễu này”.
“Em tin điều đó với mẹ”, Mỹ Linh đáp.
“Em mong muốn mẹ được cái mẹ muốn có, nhưng chúng ta đang sống giữa
xã hội đua chen, nửa cựu nửa tân, cũng làm điều khó thuyết phục
và nhất là miệng người đời không dễ dãi như mình nghĩ. Họ luôn cho
rằng họ đúng, họ không cần lý giải, cảm thông để thấy cái những
cái cao đẹp xa vời. Em chỉ biết cầu nguyện cho mẹ, xin đấng thiêng
liêng phù hộ…”
“Anh cũng vậy. Vẫn thấy có những trở ngại lẩn quẩn đâu đây”
Thịnh thì thầm như chia sẻ nỗi lo âu với vợ mình, nỗi lo như hòa
vào giấc ngủ chập chờn.
Tiếng gà gáy sớm trong vườn nhà ông Trợ, Thịnh cựa mình, giấc ngủ
không đầy làm chàng mệt mỏi, nằm ráng như cố kéo đêm dài ra thêm
một chút. Chàng vẫn biết công việc ngày mai phải hoàn thành cho
nhà trường, cố vươn người nhưng vẫn không tài nào dậy nổi.
Tiếng điện thoại reng trong phòng khách. Thịnh nặng nề bắt phone.
“Alô”, “Anh Thịnh đó hả?” tiếng Hoàng ở đầu dây.
“Em nghe mẹ thông báo dự tính của mẹ hôm qua, cả đêm không ngủ được,
em không biết rồi sẽ ra sao, dù mẹ đã giải thích rất cặn kẽ. Em
ở xa thì không sao chứ vợ chồng anh đang ở ngay trong cái thành
phố bé tẻo teo đó, thật là lo quá. Không biết rồi điều gì sẽ đến?”
“Anh cũng vậy”, Thịnh trả lời em và hỏi tiếp, “Em trả lời mẹ thế
nào?”
“Dĩ nhiên là em ủng hộ Mẹ, nhưng em chưa biết phải ứng phó thế nào
nên gọi anh để hỏi ý kiến đây”.
“Còn Hùng thì sao?” Thịnh tiếp trong vội vã.
“Chồng em thì tán thành, anh ấy nói không có gì phải e ngại, mẹ
đáng được hưởng những gì mẹ muốn trong chuỗi ngày còn lại, bởi mẹ
đã xong nhiệm vụ với cuộc đời. Hơn nữa, mẹ nhấn mạnh lý do mẹ muốn
làm vậy là vì không muốn chi phối vào bất cứ công việc nào của chúng
ta, mẹ cho là suy nghĩ của mẹ không thể nào áp dụng vào thời điểm
này được nữa và nếu níu kéo lại chẳng qua sẽ làm trì trệ những bước
tiến của tuổi trẻ chúng ta mà thôi, do vậy anh ấy sẽ về, sẽ hãnh
diện về để dự ngày vui của mẹ như để tuyên dương cái quan niệm thực
tế này, anh ấy còn cho đây là một sự hy sinh mà chỉ có o những con
người phải dày dạn, nghị lực mới dám bước vào. Anh còn nhấn mạnh
“Hơi đâu mà giải thích với đời, địa vị xã hội, lợi danh chỉ có tính
cách giai đọan còn tâm tưởng thì miên viễn với thời gian”. Anh ấy
còn tin là mẹ sẽ thành công với những suy nghĩ đó và cái kết quả
sau cùng đó sẽ là câu trả lời cho miệng đời khó tính. Và càng tin
hơn ở sự thành công của mẹ sẽ cho chúng ta một vị thế khác trong
cuộc đời hiện tại. Rồi lại lý luận rằng biết đâu ở đó mẹ sẽ làm
được một việc mà người đời không làm được, và biết đâu chính ba
sẽ là người mở cửa cho cái kho tàng thi ca vô giá của con người,
và cũng chính cái kho tàng vô gíá đó sẽ là cứu cánh để giải thóat
cho biết bao tâm hồn đơn lẻ đang quằn quại trong cái biển khổ cuộc
đời nầy. Chính những lý luận đó đã thuyết phục em nhưng em vẫn lo
lắng quá.”
“Gớm, ông “lính” nầy lý luận nghe ghê qúa, nhưng anh thấy lý luận
của anh ấy có cơ sở đó em”. Một chút ánh sáng chợt lóe lên trong
tâm Thịnh. Thở phào nhẹ nhõm, Thịnh lặp lại.
Thịnh chưa kịp tiếp, thì Hoàng nói như cướp lời anh.
“Mẹ có nói với em rằng, từ đây Mẹ không muốn hai con phải chịu sự
chi phối của mẹ trong đời sống riêng tư.
Mẹ phân tích thêm là, chúng ta đủ lớn để quyết định mọi điều, đủ
khôn để hành xử, để điều hành mọi công việc cho mỗi một gia đình
riêng, và Mẹ tin là chúng ta đủ năng lực để làm. Mẹ tin tưởng là
mẹ đúng và quyết định của mẹ là hợp thời, bởi nhất định không thể
đem cái tư tưởng già nua vào cuộc sống văn minh hiện tại nầy được
nữa.”
“Thế à, mẹ đã nói như vậy sao”, Thịnh nói như gào lên.
“Anh cảm phục cho sự hy sinh của mẹ. Một sự hy sinh tuyệt vời mà
chỉ có trong bà mẹ Việt, rất Việt Nam của chúng ta. Mẹ tin tưởng
ở chúng ta và hiểu biết ràng chúng ta yêu thương cuộc sống nầy và
sẽ tự vun quén nó bằng chính sức của chúng ta, mẹ cũng thức thời
được rằng sự chi phối của mẹ sẽ làm ngăn cản cái thực tế của đời
sống chúng ta.
Chúng con xin cảm ơn mẹ, cảm ơn Mẹ về những sự hy sinh mẹ đã…
Còn về suy tư của Hùng, anh nghĩ Hùng đúng đó em.” Thịnh nói tiếp
trong sự mừng rỡ như bắt được một lý giải chân thành.
“Suy nghĩ của anh ấy cho anh niềm tin hơn, từ đó anh sẽ có lý giải
cho việc này ít nhất trong giai đoạn hiện tại.”
Như sợ tư tưởng bị cắt đứt, Thịnh nói thêm.
“Tất nhiên là chúng ta thương mẹ, chúng ta sẽ cùng làm với mẹ, anh
tin Mẹ sẽ thành công, và rồi Mẹ sẽ được định cư ở một vùng đất mới,
một vùng đất dành cho những tâm hồn cô đơn nhưng trong sạch, thanh
khiết về lại với nhau. À mà mẹ còn nói gì nữa không?” Thịnh hỏi
tiếp.
“Mẹ bảo chúng em sắp xếp về chơi, mẹ muốn họp gia đình để mẹ nói
rõ hơn nữa những điều mẹ muốn”.
“Vậy thì khi nào bọn em sẽ về?”
“Em đang sắp xếp, chồng em thì muốn đi ngay, rõ lính có khác!”
“Khi nào em về thì báo cho anh hay nhé.”
“Vâng, thôi em cúp máy nhé, hẹn gặp anh chị và mấy cháu.”
HỌP MẶT
Chiếc xe jeep đổ lại trước sân nhà,
vợ chồng Hoàng bước xuống, bà Lâm chạy ra sân đón con, bà ôm 2 đứa
cháu nhỏ vào lòng hôn lấy hôn để.
“Sao, hai đứa có khỏe không?” Bà hỏi.
“Vào nhà đã”, Hoàng giục mẹ.
“Út, ra giúp cô đi con”, Hoàng nói vói vào nhà, có lẽ một thoáng
suy nghĩ bâng quơ làm Hoàng lo âu. Hoàng vẫn cứ sợ những đôi mắt
xoi bói ở xung quanh.
“Anh Hai đâu rồi hả mẹ?” Hoàng hỏi.
Như hiểu được nỗi lo của con gái, bà gọi Út và bảo “Điện cho ba
mẹ con biết là cô dượng con đã về.”
“Vâng ạ”, Út chạy vào gọi điện cho ba. Ba ơi, Cô Dượng và các em
vừa về tới, Ba nhớ ghé chợ mua con cá lóc nhé ba, con sẻ cho cả
nhà bửa cơm chiều đoàn tu thật ngon, Thôi, con còn phải báo cho
mẹ biết nữa.
Cã nhà quây-quân bên mâm cơm, thức ăn thật ngon, Canh chua cá lóc,
thịt heo kho, cá kho tộ thơm phức…… toàn những món ăn của quê hương.
Tuy vậy nhưng không khí hơi bị chùng xuống bởi chưa ai dám lên tiếng
trước. Hùng phá tan cái bầu không khí im lặng, “Mẹ có vui không,
bọn con đầy đũ cả với mẹ hôm nay”.
Còn gì bằng, Gia đình sum họp. “Bà Trợ thì thầm trong ánh mắt khác
thường”
ĐỜI THƯỜNG
“Ê, ông Trợ sắp cưới vợ đó”, tiếng bà Năm Trầu.“Cái gì, ông Trợ…”
cô bạn trẻ hàng xén bên cạnh nói như rít lên qua đôi môi mỏng với
cả sự ngạc nhiên.
“Ông ấy đã già rồi mà còn cưới vợ cái nỗi gì, bà nghe có đúng không
vậy?”, Hương hỏi lại.
“Ừ! thì tau nghe cái Ngọc nó nói hôm qua, bà Năm trả lời, nó bảo
là ông Trợ chuẩn bị đám cưới với bà Lâm láng giềng”.
“Đúng rồi, hèn chi tui thấy họ ngồi với nhau suốt buổi ở vườn sau.
Gớm, già mà…”
“Tội nghiệp ông giáo Thịnh. Ông giáo thật là mô phạm mà bây giờ
gặp cảnh này thì thật là khốn. Chắc có lẽ là ông giáo sẽ phải xin
thuyên chuyển đi nơi khác mất”.
“Đời này cũng lạ”, giọng trầm trầm triết gia của con Lựu “Có phải
chăng họ muốm làm một điều lập dị để nổi tiếng với đời”.
“Ôi, chẳng phải chuyện của mình hơi đâu, lo mà bán hàng kiếm chút
tiền mua cơm chứ ngồi đó nói tới nói lui rồi tối nay về không thì
khổ.” Bà Năm Trầu lên tiếng.
“Nghe nói đâu ông giáo Thịnh đã phải lặng lẻ trong nhà suốt ngày
để tránh gặp mặt mọi người. Thật khổ, già rồi mà còn làm khó cho
con cái, không biết họ làm vậy để được gì, sao không nghĩ cho con
cho cháu, rõ khổ.”
“Mỗi người có một suy nghĩ riêng tư mà, có ai bằng lòng với ai đâu
mà phải than oán.”
Câu chuyện về ông Trợ, bà Lâm dường như dài vô tận, nó đã leo lên
cả tàu lửa để xuôi Nam rồi ngược Bắc, nó cũng đã vào tận rừng sâu
rồi lại tít mù biển khơi sóng gió, mỗi lúc câu chuyện một dài thêm
ra, phong phú hơn cho hợp với lòng người. Thậm chí có thêm nhiều
tình tiết ly kỳ hơn, đôi lúc chính nó lại mang cả nỗi chua cay của
cuộc đời.
Một vài lần, nó còn mang cả cái âm hưởng của sự châm chọc, đay nghiến
hay giận hờn, rồi lúc thì mang sự thông cảm, sớt chia. Cứ vậy, câu
chuyện của Ông và Bà đã lan rộng đến khắp mọi miền đất nước. Nó
không còn ẫn núp trong cái thành phố nhỏ bé ban đầu nầy nữa. Nó
đã đi như để chia cho mọi người cái nghĩa riêng tư của nó, và nó
cũng bất cần về sự suy lụân của người đời. Nó hảnh diện chấp nhận
tất cả, nó đã lớn lên trong môi trường như vậy bấy lâu nay và nó
tự hào là sẻ sống mãi với thời gian.
CÓ NHAU
“Cô dâu, chú rể đội rế trên đầu”.
Bọn trẻ chạy quanh sân đùa giỡn, chúng hát với nhau, la lối om xòm.
Ba giai đoạn của một cuộc đời thật rõ nét hôm nay.
Trẻ thơ hồn nhiên đùa giỡn không một giợn lo âu, chúng chạy nhảy
với nhau từ mờ sáng, la ré chẳng để ý việc gì.
Thịnh, Hoàng và gia đình của họ thì tới tới, lui lui trong cái trách
nhiệm của họ, họ đăm chiêu tư lự, nửa tin nửa ngờ, tin điều mẹ nói
hôm nay là hiện thực, và hoàn toàn tự tin để đón nhận tất cả. không
ngờ vực cho thực tế của ngày mai, bởi từ nay chính họ sẻ là những
người tự quyết định cho tất cả để hoàn thành mọi việc.
Ông Trợ, bà Lâm thì điềm nhiên tự tại bên những người bạn già cho
một ngày vui thật trọn. Nhìn cách hành xử của họ, họ đã đi tới một
cách tự nhiên, không vướng bận, họ đã tin tưởng lớp trẻ và đã để
lại cả một gia tài đồ sộ vốn đã được họ dày công vun xới, họ hạnh
phúc trong niềm tin của họ hôm nay, họ thỏa mản về sự quyết định
trao lại chuyện đời cho tuổi trẻ, và sự chọn lựa cuộc sống mới của
họ.
Một ngày thật bận rộn của họ với bè bạn và những mỹ tục đơn giản
của ngày thành hôn. Họ vẫn giữ những mỹ tục ngày xưa, họ sung sướng
đón nhận những lời chúc tụng “Răng long, đầu bạc”.
Hôm nay, những lời nói, tiếng cười hòa nhau làm cho căn nhà sinh
động hẳn lên. Sau một thời gian dài im lìm như khu vườn hưu trí.
Nghĩ cho cùng, là họ đang “Răng long, đầu bạc” kia mà. Họ nhận những
lời chúc một cách vô tư, bởi họ biết hôm nay họ về với nhau và cũng
có thể dìu nhau ra đi bất cứ lúc nào từ nay bởi cái tuổi “thất thập
cổ lai hy” này. Họ chấp nhận tất cả để được bên nhau trong tâm tưởng,
bên nhau trong những rung cảm của thi ca. Hôm nay nhà họ không thiếu
ai, vợ chồng ông giáo Thịnh, gia đình Hoàng, ông Cả, bà Mơ, rồi
ông Tư Đờn Cò, lại có cả tiếng sáo Hương Bích… và nhất định là 4
đứa cháu nhỏ của bà Lâm phải có hôm nay.
Chủ khách lăng xăng, vừa xong những
thủ tục cần thiết cho một buổi lễ thành hôn, họ lại bàn tiếp cho
giờ thi họa. Họ đang tập trung để chuẩn bị cho một buổi thi họa
say lòng. Những người bạn tưởng chừng như tri kỷ từ lâu, nay có
dịp ngồi lại với nhau, họ như trẻ ra, hồn nhiên, không vướng bận.
Họ đang sống với nhau trong cái mảnh vườn mà hai người bạn già của
họ đã và đang vun xới. Họ hãnh diện vì được chung tay để chăm bón
cái giang sơn mới tạo gần như diễm tuyệt nầy.
Cô dâu chú rể như mê man trong niềm vui mới, niềm vui của sự vượt
thoát, niềm hạnh phúc của tâm tưởng đạt thành. Những người bạn già
của họ cũng vậy, kẻ họa người đáp, và có lẽ rượu cùng trăng bao
nhiêu cũng không đủ cho họ hôm nay. Trăng khuya nghiêng bóng về
tây, mọi người thấm mệt, họ chia tay nhau và hẹn nhau trở lại vào
những buổi thi họa mê hồn sắp tới.
Ông Trợ đưa cô dâu về căn phòng nhỏ
mà đã được mấy đứa cháu phụ giúp sắp xếp từ mấy hôm trước đó. Đẩy
nhẹ trên bờ vai gầy để bà ngồi vào chiếc giường nhỏ, thoảng thoảng
mùi hoa lài từ chiếc bình bông trên bàn viết mà chính ông đã cầm
lấy từ sáng sớm.
Một nụ hôn nhẹ lên mái tóc bạc phơ như lời chúc cuối ngày, mùi hoa
lài vẫn vấn vương đâu đây hay là mùi hương từ nụ hôn trinh bạch
của tình thơ.
Ông bước thật nhẹ rời phòng bà để
trở về căn phòng cố hữu của mình. Ông lại ngồi vào bàn viết, châm
điếu thuốc, rít một hơi thật sâu, trầm ngâm trong nỗi riêng tư.
Ông lại viết, viết cho đời những vần thơ muộn, viết cho tình những
âu yếm riêng tư. Viết để tô thắm mảnh vườn mà ông đã hy sinh tất
cả để có. Ông lại miên man trong hạnh phúc của riêng mình.
Ông đã chấp nhận tất cả để hầu mở được một lối đi mới cho những
ngày cuối của một đời người, một lối đi mới mà ông nghĩ là ông và
những người như ông cần phải có để bước tới, và cũng đáng được hưởng
bởi họ đã trả xong nợ núi sông.
Ông quyết giữ nó, “những tư tưởng của hôm nay”, không để cho nó
lạc đi giữa chốn bình yên của phồn hoa đô thị, cũng không mặc nhiên
chấp nhận cái gì đến của cuộc đời trơ trẻn, mà phải hưởng nó đi
theo đúng nghĩa để xác định cái giá của cuộc đời. Ông tin đó sẽ
là phần thưởng cho tất cả ai muốn có, muốn đạt tới chân giá trị
đích thực của một đời người.
Và ông tin rằng bà Lâm không còn cô đơn với những mảnh thơ muộn
màng…Ông tin rằng bà sẽ bình an bước vào trong lối đi mới này, không
cần phải đá vỡ cái bình hoa trong “Đoạn tuyệt” để tới, và nhất là
từ đây họ không còn phải lắng nghe cái âm hưởng của xã hội bên ngoài.
Tuổi trẻ đã lo toan bằng cã trái tim và lòng nhiệt huyết. Ông bà
đã tin tưởng như vậy từ lâu.
|