|
Nhà
thơ Quang Dũng, như tôi biết
Vũ Từ Trang
Hồi ấy, gia đình ông ở căn phòng gác
ba ngôi nhà cuối đường Bà Triệu. Lối lên gác là cầu thang nhỏ. Đã
thế, nhà đông hộ, nhiều chai lọ, rổ rá xếp dọc lối lên, thành ra
cầu thang càng nhỏ hẹp. Tôi không hình dung nổi, cứ nửa đêm, ông
xuống nhà xách hai thùng nước ở góc sân tầng một, dáng ông to lớn
thế, đi lên làm sao được?.
Không chỉ những người ở chung số nhà, mà cả mấy ông bà hàng xóm
cũng phải khen ông chịu khó. Ngày ngày, tờ mờ sáng, đã thấy ông
chạy bộ vào công viên tập thể dục. Đi tập thể dục, ông cầm theo
cái bao tải cũ. Chả là, tập xong, ông quét lá khô lèn chặt bao tải
to kềnh, vác về nhà làm đồ đun. Ngày đó, Hà Nội còn đun bếp dầu,
than tổ ong, chứ chưa có bếp điện, bếp ga như thời nay. Nhà ông
đông con, lại nghèo, lấy đâu tiền để mua đủ dầu đun. Ông quây góc
nhỏ sân thượng thành cái bếp. Đến bữa, ông bà lúi húi đun nấu ở
đó. Lá quét về, có lá khô lẫn lá tươi, bếp khói mù mịt, nước mắt
giàn giụa. Nhưng vẫn thấy ông hồn nhiên cười. Theo ông, có lá đủ
đun cơm, đã là hạnh phúc lắm rồi.
Xong việc vặt giúp gia đình, ông tiếp tôi trên tấm phản gỗ đặt trệt
trên sàn nhà. Tấm phản dùng lâu, lên nước đen bóng. Ông nói là của
thừa tự. Trên tấm phản ấy, đã mấy kiếp người đi qua. Từ đời ông
nội, đến cụ thân sinh ra ông, rồi ông và các con ông dùng. Ông quý
tấm phản đó lắm. Nó là đồ vật xem ra có giá nhất nhà, cả nghĩa đen
và nghĩa bóng. Nó giúp ông nằm nghỉ, ngồi uống nước, làm nơi tiếp
khách. Ông thường gò lưng xuống tấm phản này làm bàn viết. Bao câu
thơ, đoạn văn, tranh vẽ... mà theo ông, thì đấy là "trò chơi
vui" đã được diễn ra trên tấm phản này. Của đáng tội, hồi đó
thì có vẻ quý. Chứ ngày nay, xét giá trị vật chất, nó chẳng đáng
bao. Mặt ván ghép đôi ghép ba, có góc hình như đã bị mọt ăn hoặc
chó mèo gặm. Tuy vậy, nhớ ông, tôi lại nhớ tấm phản gỗ ấy. Không
biết bây giờ, gia đình ông còn giữ được không, hay đã thất tán đường
nào rồi.
Ông mời tôi bát nước chè xanh ủ khéo. Cái bát uống nước là bát ăn
cơm phân phối bao cấp. Men rất xấu, nhưng độ ấy là quý rồi. Ông
có tài ủ chè xanh. Nom to lớn như ông Tây, vậy mà ông lại thích
uống nước chè xanh, uống nước vối và thích ăn khoai lang, khoai
sọ, hạt mít luộc. Nếu uống nước chè xanh, có thêm thanh kẹo lạc,
hoặc cái kẹo bột thì sướng vô cùng. Đời người khác, nhiều thứ cao
lương mỹ vị, chứ với ông, thú vui ẩm thực giản dị và đạm bạc có
vậy thôi.
Ngày ấy, Hội văn nghệ Hà Nội làm tập thơ tuyển, nhà thơ Hoài Anh
đi tập hợp bài vở. Bài thơ "Những làng đi qua" của ông
chép nhoè nhoẹt, được Hoài Anh mang về in vào tập thơ tuyển. Thế
là bài thơ được công bố sau thời gian dài ngủ yên trong sổ tay của
ông. Với ông, in hay không in, không quan trọng. Thú, thì viết.
Viết cho mình đọc, là thú rồi.
Nhờ sự ngẫu nhiên này, bạn đọc được biết thêm một tác phẩm hay của
ông. Bài thơ có rất nhiều câu thần thái. Nó phác hoạ được Hà Nội
những năm kháng chiến với những nét đáng yêu.
Tôi hỏi ông với ý muốn được đọc tiếp các bài thơ khác trong sổ tay
của ông. Ông cười rất lành. Ông cũng không có cả cuốn sổ tay riêng
để chép thơ. Đôi ba bài thơ được ông ghi lẫn vào sổ mua gạo, mua
mắm, hoặc sổ ghi công việc cơ quan. Ông lại là người không có thói
quen thuộc thơ của mình. Viết thơ, viết hết mình, rồi lại quên đi.
Thỉnh thoảng, bạn bè thân có chép lại, hoặc nhẩm thuộc, là lưu lại
được. Ông viết văn cũng vậy, cứ dập dập xoá xoá. Viết rất kỹ. Rồi
gửi báo, hoặc nhà xuất bản, chứ không lưu giữ cho mình bản nào.
Ông có thú vui vẽ tranh. Vẽ sông núi, con đường, vệt nắng, con trâu,
con bò ngẩn ngơ bên sườn đê... Tôi nhớ là ông có bức tranh vẽ cây
gạo rất đẹp. Cây gạo già nua đứng giữa cánh đồng quạnh hiu, tưng
bừng nở hoa đỏ. Xem tranh, tôi liên tưởng tới sức sống lặng lẽ,
mà quyết liệt của một thân phận con người. Không biết bức tranh
ấy bây giờ ở đâu? Ai giữ bức tranh này?.
Ông vốn nghèo. Không có tiền mua sơn dầu hoặc chất liệu đắt tiền.
Ông chỉ vẽ bằng bột màu, màu nước, loại chất liệu rẻ tiền cho các
hoạ sỹ nghèo. Ấy thế, tranh của ông vẫn có vẻ đẹp lung linh đến
lạ.
Vẽ tranh, với ông cũng chỉ là thú chơi. Có chút gì đó tài tử. Nhưng
qua tranh, đã giải toả tinh thần ông rất nhiều.
Tôi còn nhớ, ông Thuật - một người bán sách cũ tinh đời ở Hà Nội
( giới văn chương chữ nghĩa, một thời, nhiều người biết ), có lần
nói về văn thơ của ông Quang Dũng: "Cái ông ấy, viết chữ nào
ra chữ ấy. Nó như kẹo bột, như nước chè xanh, đố mà lẫn được!".
Tôi thuộc bài thơ "Mắt người Sơn Tây" từ rất lâu, trước
khi được gặp ông. Bài thơ do một anh bạn làm thơ cùng quê Kinh Bắc
chép tặng. Thời đó, bài thơ đâu có được in công bố. Nhưng chính
với bài thơ ấy, tôi phải quyết đi tìm gặp ông. Thơ ông, đôi lúc,
làm chấn động đời sống tinh thần của tôi.
Xét về sự xuất hiện trên văn đàn, có thể xếp Quang Dũng vào lớp
nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp (mặc dù,
Quang Dũng là người sáng tác thơ rất sớm, từ những năm 1937 - 1938).
Đặc điểm chung của thơ ca trong thời kỳ chống Pháp, là hào hứng
phản ánh không khí sục sôi của cách mạng. Dòng chảy cách mạng đã
cuốn hút mạnh mẽ cảm xúc các nhà thơ. Lý tưởng cao cả của nhà thơ
là phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Với nội dung phản
ánh mới mẻ, thơ ca đã có những hình thức biểu hiện mới.
Tuy nhiên, trong những năm đầu cách mạng, thơ còn mang tính ước
lệ. Thơ ca lúc này, vừa mang cảm hứng dào dạt của cách mạng thắng
lợi , lại vừa mang không khí bỡ ngỡ của những con người vừa từ tăm
tối choàng ra ánh sáng. Thơ giai đoạn này còn thiếu những hình ảnh
cụ thể về cuộc sống và con người mới.
Dần dần, hình ảnh người chiến sĩ ngoài mặt trận, người du kích,
người dân công, bà mẹ kháng chiến, , em bé giao liên đã được ghi
đậm nét trong thơ qua các thời kỳ kháng chiến. Tình quân dân, tình
đồng đội , tình đồng chí, đồng bào... đã dần trở thành những đề
tài thường gặp .
Thơ thời kỳ kháng Pháp thường hướng về cái chung, cái chúng tôi,
ít đề cập đến cái tôi, cái cá nhân. Trong thơ thường thấy ùng oàng
súng đạn, thấy bước hành quân rầm rập, thấy tiếng hát hò... mà ít
thấy nỗi niềm, tâm trạng. Cái mạnh của thơ ca thời kỳ này, là sự
có mặt kịp thời, động viên cổ vũ kịp thời. Cái sôi nổi, hào hùng
thì có, nhưng cái suy tư, lắng đọng thì ít.
Ngay thời kỳ đầu xuất hiện, Quang Dũng đã tìm cho mình cách thể
hiện riêng. Bên cạnh cái chúng tôi, chúng ta, nhà thơ đã mạnh dạn
khai thác cái tôi cái ta. Con người cá nhân thường hiện rõ trong
thơ của ông. "Tây Tiến" là bài thơ viết về cái chung,
nhưng nó lại có tâm trạng rất riêng. Đó là cuộc hành quân oai hùng
và gian khổ. Nhà thơ đã phác hoạ vẻ đẹp hào hùng và bi tráng, niềm
vui và nỗi buồn của người chiến sĩ. Khi các nhà thơ mới chỉ khai
thác vẻ đẹp hào hùng của công việc, thì Quang Dũng đã khai thác
tâm lý, tình cảm của con người trước công việc.
Ông không viết thơ chính luận, không đưa triết lý cao siêu vào thơ.
Cái mạnh của thơ Quang Dũng, là cảm xúc mạnh và nồng ấm. Ngôn ngữ
thơ ông giản dị, mộc mạc; nhưng lấp lánh, hào hoa. Thơ Quang Dũng
là dòng thơ hướng nội. Ông ít quan tâm đến cách tân hình thức, không
chủ trương tạo sự cầu kỳ rắc rối ngôn từ. Nhưng thơ ông vẫn trẻ,
vẫn mới.
Thơ Quang Dũng thường nghiêng về tả. Qua tả, để giãi bày cái tình
của mình. Ông có biệt tài về tả. Bài thơ "Những làng đi qua"
của ông là bức tranh thật đẹp về quê hương những ngày kháng chiến:
Bằng con mắt quan sát tinh tế, chân mộc và chứa chan cảm xúc.
Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Tháng chạp màn sương trùm đất nước
Gió mùa, chết héo mạ non xanh
Sương muối thấm vào bao đạn ướt
Cảnh trong thơ Quang Dũng không phải là cảnh khô cứng, nó có sức
sống cuồn cuộn ở bên trong:
Những làng trung đoàn ta đi qua
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
Vàng vọt trăng non đêm tháng chạp
Nùm rơm - khói thuốc - bạch đầu quân
Tự vệ xách đèn chai lối xóm
Khuya về chân khoả vội cầu ao
Nghe tiếng sung rơi miệng chiến hào
Bờ tre cây rơm thôi tịch mịch
Vỡ lá bàng khô bước du kích
Đây là khổ thơ tài hoa của ông. Ông là người yêu làng quê, hiểu
nếp sống và tập tục của người dân các xóm làng. Nùm rơm, đèn chai,
cầu ao… Đó là những vẻ đẹp của làng quê thuần Việt. Ở cái làng quê
đẹp và yên bình kia, cuộc sống vẫn cuộc chảy dồn dập. Dân quân ngoài
trạm gác, các cụ bạch đầu quân ngồi bên nùm rơm hút thuốc lào. Cô
tự vệ đi tuần về, tay xách đèn chai (thứ đèn làm bằng thân cái chai,
che gió rất tốt ) ra cầu ao khoả chân. Sau cái sôi động, dồn dập
kia, vẻ đẹp thanh bình của thôn xóm lại hiện ra. Tiếng quả sung
chín rơi rụng bên chiến hào. Tiếng bước chân du kích đi về trên
ngõ đầy lá rụng "Vỡ lá bàng khô bước du kích". Phải thấm
sâu hồn quê, thấm sâu hồn kháng chiến như thế nào, ông mới vẽ nổi
bức tranh đẹp và quý như vậy.
Những làng trung đoàn ta đi qua
Lều chợ bay tro đêm lửa trại
Rạ thui bò khét cổng làng sau
Gạo thổi cơm sôi thơm ngõ ruối
và:
Buồng chuối tiễn quân em mới cắt
Nhựa cây còn tuôn như sữa vắt.
Đây là những câu thơ kỳ tài. Nó hay, không chỉ ở cái vẻ đẹp bên
ngoài, mà còn bởi hồn vía bên trong các con chữ.
Những là trung đoàn ta dừng lại
Tiếng nêu đưa khánh dưới mưa phùn
Hương đen ngũ quả, màu tranh Tết
Câu đối mực tàu bay xạ ngát
Cột nhà tre trúc giãi gan vàng
Mang câu đối đỏ niềm son sắt.
Sinh thời, nhắc đến "Những làng đi qua" nhà thơ Quang
Dũng rất tâm đắc với hai câu:
Chiều đến loa vang tin chiều sự
Khêu bấc đèn con họp tiểu đoàn
Ông thường nói: Cuộc chiến đấu ngày đó gian nan, vất vả, nhưng rất
đẹp. Con người nhiệt tình, trong sáng, không biết thơ ca có thể
hiện được điều ấy không?.
Bài thơ " Mắt người Sơn Tây " của ông, thấy hiện diện
rất rõ cái tôi của người viết:
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi...
…Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm.
…Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ
…Bao giờ tôi gặp em lần nữa
…Còn có bao giờ em nhớ ta
Bài thơ "Tây Tiến" không có một từ tôi hoặc ta nào, nhưng
người đọc vẫn nhận rất rõ con người tác giả. Cái tôi và cái ta ở
đây đã hoá thân trong cảm xúc, trong từng câu chữ. Một con người
giàu cảm xúc, ý chí ngang tàng trước cái sống và cái chết, sự cứng
rắn trước công việc và sự yếu mềm trước tình cảm... Cái tôi của
tác giả, có pha màu “tiểu tư sản”, nó có đặc trưng rất riêng của
Quang Dũng. Chính vì thế, ở thời điểm đó, nhiều người không chấp
nhận được dòng thơ này. "Tây Tiến" của Quang Dũng, "Ngày
về" của Chính Hữu, một thời đã bị phê bình mạnh mẽ, là do vậy.
Nếu lịch sử có nhiệm vụ ghi chép sự kiện của xã hội, thì thơ ca
có sứ mệnh phản ánh tâm trạng của xã hội. Nhà thơ lớn, là người
phản ánh được tâm trạng xã hội trong tác phẩm của mình.
Thơ Quang Dũng rất giàu nhạc điệu, giầu nét tạo hình. Mở đầu bài
"Tây Tiến", ông viết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Ba câu thơ đầu là lối nói thật, giọng điệu giản dị. Nhưng câu thơ
thứ tư "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" thì thấy cái thần
thái của nhà thơ. Khổ thơ tiếp theo, có âm điệu trập trùng, như
nhịp đi của đoàn quân.
(a) Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
(b) Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(c) Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Câu thơ thứ tư của khổ thơ, như nhịp đi của đoàn quân xoải bước
dài trên con đường bằng phẳng.
(d) Nhà ai Phă Luông mưa xa khơi
Đem giải mã khổ thơ này theo dấu bằng (-) trắc (/), thấy:
(a) /
(b)__
(c)__ /
(d)__ __ __ __ __ __ __
Mô hình biểu thị bằng trắc của khổ thơ, như biểu đồ mặt cắt của
con đường hành quân. Khi trập trùng lên xuống, lúc xoãi ra bằng
phẳng, nhịp nhàng.
Thơ Quang Dũng, mang nhiều tính lượng tượng hình.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên mang điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Thơ ở đây, như hoà quyện: nhạc, hoạ và vũ điệu.
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùng
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Sau cái khốc liệt, dữ dội, dồn nén của chiến tranh, để rồi lại bung
ra chất lãng mạn rất người của lớp bộ đội kháng Pháp. "Tây
Tiến" là bài thơ ngợi ca khí phách của một lớp người dấn thân
quên mình cho Tổ quốc. Đó là tráng ca về những chàng dũng sĩ có
lý tưởng. Bài thơ mang phong cách riêng biệt của nhà thơ.
Sở trường của Quang Dũng, là viết thơ theo thể tự do. Trong tập
thơ "Mây đầu ô" không có một bài thơ lục bát nào. Thơ
của ông thường có dáng dấp thể hành, bài thơ thường dài, giọng điệu
ngang tàng. "Tây Tiến" là bài thơ rõ nét nhất phong cách
này.
Ông có cách nói ngược rất duyên và tạo ra phong cách rất Quang Dũng.
Ví dụ:
Gió mùa chết héo mạ non xanh
(Nhẽ ra, nếu nói thuận, thì :Mạ non chết héo vì gió mùa )
Sương suối thấm vào bao đạn ướt
(Nếu nói thuận, thì: Bao đạn thấm ướt vì sương muối).
Tiếng quát dân quân đầu vọng gác
(Nếu nói thuận, thì: Đầu vọng gác vang tiếng quát của dân quân).
Câu thơ Quang Dũng thường ngắn gọn, xúc tích. Ông là người ít chú
ý đến vần điệu. Nhưng thơ ông lại rất giàu hình ảnh. Hình ảnh trong
thơ ông luôn gợi mở tâm trạng. Thử đọc khổ thơ “Chiều mưa núi” của
ông:
Kỳ Sơn mây kéo nặng
Hoa trẩu rụng đầy đường
....
Mưa dăng màn triền miên
……
Mưa bao giờ cho yên.
Hoặc là cảnh thu quê:
Ngồi đây vời tưởng đường quê hương
Lúa đã xanh xanh mấy nẻo đường
Cốm đã thơm mùi, hồng đã chín
Ao sau vườn cũ nước xanh trong
Và
Long lanh bóng núi in sông biếc
Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu
Tâm hồn Quang Dũng khoáng đạt. Tuy là người chỉnh chu hết mực với
công việc, với gia đình, nhưng ông lại rất sợ sự gò bó, khuôn phép,
máy móc. Ông là thi sĩ thích sự mênh mang, xê dịch.
Mây ở đầu ô mây lang thang
Ôi chật làm sao
Góc phố phường
Mây ở đầu ô
Hẹn những chân trời xa lạ
Một tâm hồn nồng hậu, luôn yêu cái đẹp bình dị:
Xe ngựa bình yên leo dốc đỏ
…Đình đổi quán sậy dựng phên lau
…Tơi nón trung du em về đâu?
"Bố Hạ"
Có người nói thơ Quang Dũng ít tính thời sự. Nhưng thử hỏi tính
thời sự trong thơ là gì? Nó là những con số, những sự kiện? Hay
là những cảm xúc, trạng thái của con người mang dấu ấn xã hội trong
mỗi giai đoạn? "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây",
"Những làng đi qua"... chẳng đầy tính thời sự đó sao?!.
Có người nói thơ Quang Dũng nặng về sự u buồn, hơn là cái tươi vui.
Nhận định này không chính xác. Thơ Quang Dũng có bài lắng, trầm
và gợi buồn. Nhưng không tiêu cực, uỷ mị. "Người ta có quyền
buồn, có quyền xài cái xa xỉ ấy, nhưng không có quyền bi quan".
Câu nói của Nadim Hitmét rất đúng với thơ Quang Dũng. Viết chiến
tranh khốc liệt, nhưng "Tây Tiến" không bi quan, mà luôn
hướng về niềm tin cao đẹp.
Quang Dũng làm thơ rất sớm. 16 tuổi, đã sáng tác "Chiêu quân",
19 tuổi, viết "Cố quận". Nếu ông có ý thức lưu danh, gửi
đăng những bài thơ này kịp thời, thì chắc ông đã được xếp vào đội
ngũ các nhà thơ trước cách mạng, như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh...
Ông không được may mắn trong việc in ấn, công bố, công nhận. Viết
thơ năm 16 tuổi. Nổi tiếng với bài thơ "Tây Tiến" năm
28 tuổi. Nhưng xuất bản tập thơ riêng đầu tiên "Mây đầu ô"
(Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1986) khi ông đã 65 tuổi. Trớ trêu thay,
tập thơ này in xong, ông đã mắc bệnh nằm liệt giường, không thể
đọc lại được những dòng thơ mình trên trang in, không còn ký tặng
sách cho bạn bè được nữa.
In ấn, công bố ít. Không đăng đàn diễn thuyết trước công chúng.
Vậy mà thơ Quang Dũng vẫn được nhiều người biết đến.
Nhờ không khí văn nghệ đổi mới và dân chủ, những sáng tác văn học
của Quang Dũng được đánh giá lại đúng đắn và khoa học hơn. Nhà xuất
bản Văn học, năm 1988, đã xuất bản tuyển tập văn thơ của Quang Dũng.
Sau ngày Quang Dũng mất, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản tập
sách chuyên đề về Quang Dũng. Báo chí in nhiều bài viết về sự nghiệp
sáng tác của ông theo tinh thần khách quan.
Những tác phẩm của ông, như "Tây Tiến", " Mắt người
Sơn Tây" , cũng như những bài thơ "Bên kia sông Đuống"
của Hoàng Cầm, như "Mầu tím hoa sim" của Hữu Loan…một
thời bị coi là thứ thơ uỷ mị, tiểu tư sản. Nhưng đến nay, người
đọc càng quý trọng và đánh giá đúng giá trị của nó. Các tác phẩm
này, đã được xếp hạng cùng các bài thơ hay của thời kỳ kháng Pháp,
như "Tình sông núi" của Trần Mai Ninh, "Lên Cấm Sơn"
của Tân Sắc, "Nhớ" của Hồng Nguyên…
Thơ ca, vốn ngợi ca cái đẹp bất tử của con người. Đó là tình yêu,
sự sống, cái chết... Tuy vậy, thơ Quang Dũng lại luôn quan tâm đến
đè tài cụ thể. Một con đường mới mở, mùa trồng rừng, ngày giao quân...
Những việc tưởng cụ thể và thô thiển, vậy mà vào thơ ông vẫn lung
linh màu sắc. Ông ít viết thơ ngợi ca lãnh tụ. Nhưng ông lại có
những khổ thơ với tình cảm thật đẹp.
Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Trung ương còn đóng quanh Hà Nội
Giầy vải Bác Hồ phơi bờ ao.
Hiếm có nhà thơ nào viết về người lãnh tụ của dân tộc lại có cái
nhìn giản dị và cao đẹp như thế. Giầy vải Bác giặt, phơi bên bờ
ao, chi tiết giản đơn, nhưng vào thơ, nó đã khái quát tính cách
người lãnh tụ. Quang Dũng có tài quan sát, tài phát hiện và tài
biểu hiện. Nên thơ ông có nhiều câu thơ phát sáng như vậy.
Nếu nói thơ ca hay ở giá trị chân thiện mỹ, thì thấy thơ Quang Dũng
đã hướng về những giá trị đó. Ông sáng tác không chút vụ lợi. Quang
Dũng không viết giả dối, không làm xiếc trên các con chữ. Ông viết
bằng tấm lòng, bằng xúc cảm của ông. Chính vậy, những tác phẩm của
ông đã sống với thời gian, lắng sâu trong tâm trí người đọc.
Cuộc đời nghệ sĩ vốn chấp nhận sự thăng trầm. Trong đời sống, Quang
Dũng nhiều phen chấp nhận sóng gió, chấp nhận sự không may mắn.
Nhưng thơ lại ông luôn lấp lánh niềm tin trong sáng, yêu đời và
lạc quan. Ham sống, ham đi, ham viết vẽ. Đó là tính cách của ông.
Mũ hãy ngả cho nắng vàng mái tóc
Túi bên vai trời hửng núi lên rồi
Cột giây thép gió lùa qua rào rạo
Hát lên đường, muôn dặm đường xa xôi.
Quang Dũng không viết nhiều. Nhưng ông lại có nhiều tác phẩm sống
vượt thời gian.
Tôi có được ở Mai Châu một đêm cuối thu. Mảnh trăng cuối tháng vằng
vặc nổi chìm trong khí lạnh của núi rừng. Bản Mai Châu vẫn còn đầy
vẻ thơ mộng và kỳ vĩ như bóng dáng câu thơ của ông thưở nào.
Tôi lan man nghĩ, giá ngã ba đường vào bản Mai Châu, gắn biển chỉ
đường với câu thơ Mai Châu mùa em thêm nếp xôi, hẳn làm xôn xao
bao lòng du khách.
Nhớ về ông, lại nhớ kỷ niệm ngày ông về quê tôi chơi. Làng tôi,
cái làng cổ vùng Kinh Bắc với nhiều tập tục lề lối cổ và nặng nề.
Mấy bác cháu đạp xe đạp về đầu làng. Những mảng tường gạch rêu,
những mái ngói thâm u, những con đường lát gạch nghiêng thập thững
bước chân trâu, làm xôn xao cảm xúc trong ông. Nhưng niềm hứng khởi
đó chưa được mấy phút, là bất ngờ đến với cả mấy bác cháu. Vào ngõ
nhỏ dẫn về nếp nhà, thấy lốn nhốn người mặc áo xô trắng, chít khăn
tang trắng. Nhà tôi có tang đột ngột ư? Không phải. Đó là đám tang
cụ già hàng xóm. Tập tục quê tôi, nhà có việc hiếu, là ngồi nhờ
cả mấy nhà sát kẽ ngạch. Ông trưởng nam nhà đám, vốn là dân trí
thức theo cách mạng từ thời kháng Pháp, thuộc nhiều thơ Quang Dũng.
Được gặp nhà thơ, dù đang đứng đáp lễ bên linh cữu người mẹ, ông
đã vội chạy tới vái nhà thơ Quang Dũng ba vái. Bất ngờ thấy người
vái mình, nhà thơ Quang Dũng cũng khiêm nhường cúi đầu vái lại.
Ông trưởng nam liền đọc mấy câu thơ của nhà thơ, mà ông thuộc từ
thưở mặc áo lính:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm…
Giây phút ấy, mọi người và tôi đứng cạnh, cảm động vô chừng.
Source: phongdiep.net
|