Người Thiếu Phụ Võng
La
Linh Linh Ngọc
Kính
thưa thầy,
Con thật tình không biết phải giải
bầy như thế nào về việc không nộp bài luận văn kỳ này. Thay vào
đó là lá thư, mà ngay khi đặt bút xuống đây, con cũng không chắc
sẽ viết thế nào để thầy hiểu cho những thôi thúc lạ kỳ trong lòng
con. Thôi thì, con chỉ biết, lòng nghĩ sao thì viết ra như thế,
và lá thư này hẳn sẽ có nhiều lủng củng. Vì những băn khoăn trong
lòng con khởi đi từ những điểm mơ hồ mà kết thúc thì lại.... không
biết tới đâu!!!
Thưa thầy,
Đề tài thầy cho kỳ này tương đối không
khó: "Viết về một nữ lưu trong lịch sử Việt Nam mà trò ngưỡng
mộ nhất". Chúng con có quá nhiều lựa chọn. Từ những liệt nữ
dũng cảm, xông pha trận mạc như Bà Trưng, Bà Triệu, đến những bậc
anh thư thông minh xuất chúng, tài thi phú từng làm khiếp đảm bao
tướng Tầu như bà Đoàn Thị Điểm, hoặc lưu lại đến nay cho hậu thế
như bà Huyện Thanh Quan.
Rồi bao nàng công chúa đã hy sinh
tình riêng, rời xa Quốc Tổ để đổi lấy đất đai, mở rộng bờ cỏi như
công chúa Huyền Trân, Ngọc Vạn... Gần gủi với nhân gian thì ai không
yêu mến bà Tú Xương, một người đàn bà điển hình Việt Nam, suốt một
đời tận tụy "Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Eo sèo mặt nước
buổi đò đông", để "Nuôi đủ năm con với một chồng"...
Lịch sử cách mạng cận đại thì có biết
bao anh hùng liệt nữ đã đứng lên chống ngoại xâm mà điển hình là
Cô Giang, Cô Bắc, Cô Tâm của Việt Nam Quốc Dân Đảng, những phụ nữ
chân yếu tay mềm nhưng đứng trước kẻ thù, họ là những thành trì
sắt thép, can trường.
Giải giang sơn Việt Nam tuy nhỏ bé
nhưng nhiều ưu điểm cả về địa thế chiến lược lẫn thuận lợi sông
ngòi, nên từ ngày lập quốc đã thường xuyên là sự thèm thuồng của
các cường quốc lân bang. Đó chính là nguyên nhân nỗi bất hạnh của
dân tộc Việt, hết bị Tầu cai trị lại tới Pháp đô hộ. Nhưng phải
chăng vì những bất hạnh triền miên đó mà mỗi con dân Việt đều được
tôi luyện ý chí dũng cảm, kiên cường. Ý chí đó nảy sinh tự nhiên
như hạt mầm gieo xuống đất, tất sẽ đâm chồi, nở hoa như khi đã có
áp bức tất phải có đấu tranh, bị dồn tới khốn cùng, tất phải nảy
sinh cách mạng. Vì người dân nghe lời núi sông kêu gọi như một bổn
phận tự nhiên mà đáp đền theo hoàn cảnh riêng mình, tự nhiên đến
độ, đôi khi, chính họ không ý thức là họ đang "xả thân vì đại
nghĩa". Và, ở một nghĩa nào đó thì sự xả thân đó có kém chi
hành động hiên ngang của dũng tướng chốn sa trường!
Kính thưa thầy,
Con muốn nói đến cái đẹp tuyệt vời
của sự hiến dâng vô thức, phát xuất từ bản năng, mà bản năng đó
hẳn phải có từ tình yêu quê Cha đất Tổ. Thưa thầy, con muốn nói
đến những "Anh Hùng Vô Danh". Họ thầm lặng, thấp thoáng,
bàng bạc suốt chiều dài lịch sử. Vận mệnh lúc thịnh, khi suy, song
anh hùng thời nào cũng có mà "Anh Hùng Vô Danh" lại càng
không thiếu trong từng phút giây, ở bất cứ địa danh nào trên suốt
giải giang sơn gấm vóc, nếu đôi mắt hạn hẹp của chúng ta có thể
nhìn suốt được!
Khi cảm nghĩ được như thế, con muốn
thưa cùng thầy là con hãnh diện biết bao, sung sướng biết bao, vì
đã được làm người Việt Nam!
Sau mỗi giờ học Việt sử, con thường
đắm mình trong suy tưởng, trở ngược giòng thời gian, thử tự đặt
mình ở hoàn cảnh đó, thời điểm đó, rồi cố vận dụng trí tưởng tượng
xem mình có thể hành xử được bao nhiêu phần trăm như bao tiền nhân
vô danh đã làm để chúng ta còn có được những giòng sử Việt hào hùng,
rực rỡ, sẽ còn tiếp nối bất tận và bất diệt...
Kính thưa thầy,
Thật là khó khi những cuộc trắc nghiệm
chỉ do tưởng tượng, xoay quanh mớ kiến thức hạn hẹp, mơ hồ của một
cô học trò lớp Đệ Tứ như con! Mới đây, khi học về lịch sử cách mạng
cận đại với những người trẻ tuổi đứng lên thành lập Việt Nam Quốc
Dân Đảng chống ngoại xâm Pháp, con đã bất ngờ bị chấn động vì một
chi tiết nhỏ, một chi tiết mà con chắc rằng hầu hết, các bạn con
đều đọc luớt qua, rồi quên đi!
Thưa thầy, chi tiết đó nằm trong sự
việc xảy ra tại làng Võng La, khi các yếu nhân của Việt Nam Quốc
Dân Đảng như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính tới
họp tại nhà đồng chí Lê Cả thì bị tên Việt gian Phạm Thành Dương
dẫn bọn mật thám đến vây bắt. Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu,
nhờ phản ứng thần tốc nên sau đó thoát thân. Nguyễn Khắc Nhu chạy
ra bờ sông, được một đồng chí trực thuyền sẵn, chở đi. Nguyễn Thái
Học thì chạy băng ra đồng, gặp một nông dân đang cuốc đất. Thấy
Nguyễn Thái Học, anh nông dân vội cởi áo choàng lên người ông, lại
chụp lên đầu ông chiếc nón lá và ấn thêm cái cuốc vào tay. Nguyễn
Thái Học vờ vừa cuốc đất vừa lẩn dần sang làng bên.
Riêng Phó Đức Chính, bị trúng đạn
dưới ngực, được một đồng chí cõng, chạy vào nhà một đồng chí khác
và, nhanh như chớp, giấu ông dưới ổ rơm, nơi mà người vợ trẻ của
đồng chí đó vừa ở cữ đứa con trai đầu lòng, đang nằm cho con bú!...
Bọn Việt gian và mật thám Pháp lục
xét từng nhà trong làng, không chừa một nơi nào. Chúng đã không
chút nghi ngờ khi mở cửa buồng người đàn bà đang nằm cho con bú.
Người anh hùng Phó Đức Chính được cứu thoát lần đó để lại cùng Nguyễn
Thái Học và các đồng chí xả thân vì đại nghĩa cho tới ngày đầu lìa
khỏi cổ tại pháp trường Yên-Bái!...
Thưa thầy,
Sau giờ sử ký đó, nhiều buổi chiều,
con đã ngồi hàng giờ sau bậc thềm rêu sau vườn, nghe gió lá rì rào
ru lại khúc hùng ca thuở trước mà lòng không ngớt bị thôi thúc bởi
niềm mơ ước không tưởng! Mơ ước nghe được tiếng lòng của người thiếu
phụ Võng La. Sức mạnh nào đã giúp nàng bình tĩnh dâng hiến con mình
và lòng trung trinh cho đại cuộc?!?!
Trời ơi, thưa thầy, đối với con, nàng
chói lòa hào quang trong phút giây lịch sử đó. Phút giây đó, ngắn
ngủi thôi, nhưng có thể là trăm năm với người mẹ yêu con, với người
vợ yêu chồng! Phút giây đó, chỉ một chút sơ sẩy, đứa bé có thể bị
giật khỏi tay mẹ, có thể ngừng thở trước khi bị tàn sát. Và nàng,
nếu sự việc bị phát giác, thật, chẳng có phép lạ chi giúp nàng thoát
thân. Nhưng thưa Thầy, con lại trộm nghĩ, xả thân, chưa phải là
điều khó khăn tột cùng đối với nàng. Cái điều kinh hoàng hơn sự
chết mà nàng phải vượt qua chính là tình huống lúc đó. Trong buồng
riêng, chỉ qua một lớp rơm mỏng phủ sơ sài vội vã, nàng phải, mở
ngực trần, nằm khít khao với một người đàn ông không phải là bạn
trăm năm!
Nàng nằm đó, chờ bọn hung thần ập
tới. Nhưng liệu chúng có tới? Và bao lâu thì tới? Nàng không biết
được. Nhưng nàng phải nằm đó, phải tràn trề hạnh phúc trong động
tác tuyệt vời của người mẹ đang truyền sự sống sang con mình. Qua
sợi rơm mỏng còn thơm ngát hương đồng cỏ nội, nàng hẳn nghe được
tiếng rên, tiếng thở và ngay cả, cảm được hơi ấm từ người đàn ông
nằm dưới, người đàn ông không phải bạn trăm năm!...
Thưa thầy,
Trở lại hơn bảy chục năm về trước,
với tinh thần đạo lý và bối cảnh xã hội nông thôn Việt Nam, có phải
phút giây lịch sử đó, nàng đã vô cùng dũng cảm, vô cùng can trường
mới đạt tới sự hy sinh lớn lao là dâng hiến con mình và lòng trung
trinh cho đại cuộc hay không? Nàng đã dâng hiến hai điều quí báu
nhất, thiêng liêng nhất của một người đàn bà trong sự bình tĩnh,
ý thức minh bạch, rõ ràng những điều đang xảy ra. Hình ảnh đó, đối
với con, cũng hiên ngang, hào khí như khi Cô Giang kê súng vào đầu
tự kết liễu đời mình trước làng Thổ Tang sau khi chứng kiến Nguyễn
Thái Học và mười hai đồng chí bị hành hình tại pháp trường Yên-Bái.
Hai tình huống khác nhau nhưng tấm lòng liệt nữ, một hữu danh, một
vô danh, hẳn cùng hướng về một lý tưởng "Hoàn ngã sơn hà"
(Trả ta sông núi), bằng tất cả những gì có thể, đạt tới mục đích
tối hậu là đòi lại núi sông.
Thế rồi, thưa thầy, hàng năm, khi
các đoàn thể tổ chức những ngày kỷ niệm của Việt Nam Quốc Dân Đảng
thì những băn khoăn về nàng thiếu phụ Võng La thuở nào lại bồi hồi,
quẩn quanh trong tâm trí con. Nàng có như Nguyễn Thị Giang, tới
Yên-Bái rạng ngày 17 tháng 6 năm 1930? Nguyễn Thị Giang tới đó để
nhận nỗi đau xé gan, nát thịt khi Nguyễn Thái Học bước lên đoạn
đầu đài. Còn nàng, có tới để hãnh diện nghe Phó Đức Chính từ chối
bịt vải đen ngang mắt và yêu cầu được nằm ngửa "xem lưỡi đao
máy chém bén thế nào".
Và nàng, có như người nông dân năm
nào từng cứu Nguyễn Thái Học, ngửa mặt lên trời mà than trong uất
nghẹn "Ta đã không cứu được Người cho trọn". Rồi cậu bé
năm xưa, vừa chào đời đã được cùng mẹ góp phần đền đáp núi sông,
cậu bé đó có bao giờ băn khoăn hỏi mẹ về phút giây lịch sử xưa kia?
Từ giòng sữa mẹ thiêng liêng đó, cậu đã khôn lớn như thế nào?...
Những câu hỏi như những trục bánh
xe quay đều, quay đều trong tâm tưởng con. Con chưa từng một lần
tâm sự với bạn bè về những băn khoăn đó vì con có thể phần nào đoán
được phản ứng của bạn: "Mi điên hả? Ai mà đi thắc mắc những
chuyện không biết được như thế". Hoặc có nghiêm túc hơn một
chút thì: "Mi hết chuyện để thắc mắc rồi sao? Anh hùng vô danh
hàng hàng lớp lớp, đã là vô danh, tên còn không biết huống chi những
tình lý sâu xa đó".
Thưa thầy, con thật tình không biết
động lực nào đã khiến con giải bày cùng thầy hôm nay. Vì nội dung
đề tài thầy cho? Vì thời điểm kỷ niệm ngày thành lập Việt Nam Quốc
Dân Đảng? Hay vì những đau đớn tột cùng ngày tiễn đưa cha già về
lòng đất đã khiến lòng con ý thức sâu xa hơn về sự sống đáng quí
đến chừng nào! Nhưng hẳn có những điều còn quí hơn sự sống khiến
ta, vì đó, mà sẵn sàng hy sinh sự sống! Nghĩ tới đó thôi, câu chuyện
về nàng thiếu phụ Võng La hơn bẩy thập niên qua lại trở về cùng
với con với những xúc cảm vừa tràn đầy dịu dàng, vừa rực lửa bi
tráng.
Thưa thầy,
Xin thầy tha thứ con, đã làm mất thì
giờ của thầy, và con xin nhận điểm xấu về bài luận văn lạc đề này.
Học trò của thầy,
Hoàng Lan.
Thầy Nghiêm ngồi lặng thật lâu, lâu
lắm, rồi từ từ để bài viết của Hoàng Lan xuống bàn. Thầy lại ngồi
lặng một lúc nữa, rồi chậm rãi gỡ cặp kính cận, rút khăn tay lau
nhẹ. Thầy bỗng mĩm cười một mình. Kính đâu có ướt mà lau kính, mắt
mới ướt! Thầy nhẹ nhàng dùng khăn tay chậm những giọt nước mắt nóng
đang lăn xuống trên đôi má gầy. Thầy vẫn ngồi đó, bồi hồi gấp chiếc
khăn tay mầu nâu non làm tư, rồi lại trải ra, rồi lại gấp vào...
Chiếc khăn này, Bà Cụ đã khâu cho
thầy. Chiếc khăn này, đường kim mũi chỉ vụng về, nhưng là chính
tay bà cụ khâu cho con trai. "Cậu giữ luôn trong túi nhé, khăn
và lọ dầu cù là này, cậu hay bị sổ mũi lắm".
Trời, Bà Cụ đó, Bà Cụ một đời tận
tụy không phải chỉ vì chồng vì con mà còn vì non vì nước. Bà Cụ
vừa ra đi. Bà Cụ vừa nằm xuống, không lâu.
Quan tài Cụ được phủ Quốc Kỳ và Đảng
Kỳ. Hẳn Cụ không muốn thế, nhưng những người yêu thương, kính trọng
Cụ đã làm thế. Vì họ đã từng nhìn thấy, suốt cuộc đời Cụ, Cụ sống
bằng lẽ đơn thuần, "Còn Nước mới có Nhà, còn Chúa mới có Tôi",
sống thuần đạo Trời như thế giản dị quá, sao phải gọi là hy sinh,
là dũng cảm?... Tội nghiệp Mẹ, gần trăm tuổi ra đi, vẫn đau lòng
không hiểu, sống thuần đạo Trời giản dị thế, sao nhiều người không
làm được?
Một tuần sau, giờ trả bài Việt văn
lớp Đệ Tứ B-5, Hoàng Lan nhận lại bài mình, không có điểm, mà kẹp
giữa những trang giấy là chiếc khăn tay màu nâu non, tơ không còn
óng nhưng lụa vẫn mềm, như hồn tằm man mác với nương dâu...
02-02-2004
|