Mối
tình đêm trước khởi nghĩa
Truyện ký của
Nguyễn Tham Thiện Kế
Tinh thần Yên Bái vẫn sống mãi trong lòng dân tộc, người trong
nước bây giờ đang muốn khai quật những bí ẩn lịch sử để soi sáng
sự thật. Truyên ký của nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đi tìm thân
nhân của đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng viết về thân thế đảng
trưởng Nguyễn Thái Học.
Mối tình đêm trước khởi nghĩa (Phần một)
Ngôi nhà lựng mùi thuốc bắc. Người em trai út của Nguyễn Thái Học,
cụ Nguyễn Thái Nỷ giờ đã ngoại 80, nhưng ánh mắt còn tinh anh, hồn
hậu. Câu chuyện rời rã thi thoảng bị cắt ngang bởi những người cón
rón bước vào để cụ Nỷ xem mạch, kê đơn.
Di ảnh Nguyễn Thái Học ám khói hương nhang, cụ Nguyễn
Thái Nỷ trầm ánh mắt quay sang chỉ vào Nguyễn Thái Tuấn, nói:
– Anh cứ nhìn Nguyễn Thái Tuấn thì sẽ hình dung ra Nguyễn Thái Học
anh tôi. Cháu Tuấn con anh Lâm nhưng lại giống bác Nguyễn Thái Học
nhất nhà. Anh tôi tầm thước, đậm người cao khoảng 1 mét 65 hay 67
gì đấy, mặt vuông, trán rộng, tai to, dài, thành quách đầy đặn,
râu quai nón. Nhưng đôi khi cải trang, anh chỉ để ria mép, tóc húi
cua. Cười tươi và ẩn nét duyên ngầm, thẳng thắn, hồn nhiên, phóng
khoáng và phong thái cốt cách toát lên sự tự tin lạ lùng…
“Khi anh bị bắt ở ấp Cổ Vịt, tên Armoux chánh mật thám Bắc Việt
gọi anh là tướng ăn cướp, Nguyễn Thái Học đã nghiêm sắc mặt cảnh
cáo:
– Ông Armoux, ông hãy lễ độ một chút.
Và tên mật thám điên tiết quật batoong vào mặt anh tôi, khi tay
chân anh bị trói chặt. Miệng giập nát, hai chiếc răng cửa gãy gục,
Nguyễn Thái Học mỉm cười đẩy ra hai chiếc răng cùng bọt máu.
– Bộ mặt văn minh của nước Pháp chúng mày là vậy đấy.
Bọn Pháp giải Nguyễn Thái Học về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội. Tổng đốc
Hà Đông Hoàng Trọng Phu được tên dự thẩm Coppin đưa đến xem mặt
tù nhân. Nguyễn Thái Học nằm ngửa trên sàn xi măng, hai chân xỏ
trong cùm, hai cổ tay xích chéo lại.
Tên dự thẩm nịnh hót:
– Thưa Đại nhân, xin giới thiệu đây là kẻ làm cho cháu ruột ngài
bị giết…
Không chú ý đến câu nói của Coppin, Hoàng Trọng Phu thắc mắc với
Nguyễn Thái Học rằng:
– Lúc thầy bị bắt, trong tay hãy còn súng và lựu đạn, sao thầy lại
không dùng vũ khí đó mà thoát thân?…
– Tôi không muốn hại mấy người phu tuần bắt tôi. Bởi họ chỉ là tay
sai thừa hành chỉ thị của quan thầy Pháp. Còn nếu như tôi gặp bọn
tham quan ô lại đục khoét lương dân, thì chắc chắn súng đạn của
tôi sẽ không từ…
Sau, Nguyễn Thái Học bị xử chém ở Yên Bái, người dân Cổ Vịt đã quyên
góp xây một ngôi đền thờ nhỏ tại nơi ông bị bắt. Những nông phu
xấu hổ và hối hận vì trong xã mình có những kẻ làm điều vô phúc.
Dù đã muộn, nhưng đó cũng là điều răn cho những kẻ ác tâm tự thức.
Gia đình chúng tôi đã nhận được lời xin lỗi của người dân Cổ Vịt.
Ngôi đền đó bị mục rã cách đây mấy chục năm, nay dấu tích vẫn còn
hoang hoải…
Nguyễn Thái Học có người vợ đầu ở quê nhà do cha mẹ đôi bên đính
ước từ thời thơ ấu, cô Nguyễn Thị Cửu. Chị Cửu về làm dâu nhà chồng
lâu năm, nhưng hai anh chị không chung sống như vợ chồng. Khi dấn
thân vào cách mạng, Nguyễn Thái Học về quỳ lạy cha mẹ già tạ tội
bất hiếu và xin phép cho Nguyễn Thị Cửu được hồi gia tái giá. Và,
anh Thái Học nhà tôi còn một lần lạy tạ mẹ già nữa, ấy là ngày 2
tháng 3 năm 1930, Hội đồng đề hình Bắc Việt cho phép gia quyến vào
Hỏa Lò thăm. Anh tôi cúi lạy mẹ trong gông xiềng: “Đắc trung thất
hiếu, xin mẹ tha thứ cho con”.
Sớm nhập đời, nhưng thổ âm Thổ Tang trong giọng Nguyễn Thái Học
vẫn dùng lẫn N với L. Giọng anh y như giọng cháu Tuấn đây. Chất
giọng đồng bằng giáp trung châu, gần sông, lên cũng không cao quá,
xuống thì thấp là là. Quần áo có gì mặc nấy, giản tiện đến xuềnh
xoành, hiếm thấy một chải chuốt nào từ giày dép, đến mái tóc. Ăn
nhiều khi chỉ lấy no, món khoái khẩu nhất là phở bò. Học tập làm
việc căng thẳng thì vớ điếu thuốc lào rít liền tù tỳ hai ba mồi.
Mùa lạnh có hôm nhai trầu bỏm bẻm. Không bao giờ anh Học biết trong
túi có bao nhiêu tiền. Có tiền thì dốc ra tiêu chung với anh em,
hết tiền thì bảo người khác đưa cho, không e ngại giữ kẽ. Anh có
thói quen nằm sấp ngủ, hai chân vắt lên mông. Giấc ngủ đối với anh
như liều thuốc bổ dưỡng sinh, dù gặp việc khó đến đâu khi giấc ngủ
đến, Nguyễn Thái Học có thể nằm vật ra ngủ liền mười lăm hai mươi
phút chìm lịm, tiếng ngáy rền vang. Tỉnh giấc, tư duy bỗng sáng
láng, giải quyết mọi việc hanh thông…
Rỗi rãi là anh ngồi phanh áo, choãi chân ở mọi chỗ có thể đọc sách.
Đọc hàng giờ quên ăn. Sách cổ văn. Lịch sử An Nam. Sách báo tiếng
Pháp. Lịch sử Cách mạng Pháp. Triết học. Nhưng anh cũng là người
khách đa tình mê thơ và thích làm thơ.
Một lần anh tôi qua bến đò Cao Xá (Việt Trì) sang bên bãi Mộc Sơn
Tây, nhưng gặp cô lái đò mắt nhung, tình tứ; Thế là anh trùng trình
ở lại làm thơ tặng… rồi tự họa lại:
– Ai là cô lái đò nhung
Giúp anh tay lái qua sông với nào
Mai sau gặp bước thanh cao
Nghìn vàng anh nhớ sẽ trao cho nàng
- Hỡi ai là khách sang ngang
Giúp thì em giúp, lấy vàng làm chi
Mai sau dù có thế thì
Sông Đà, núi Tản còn ghi chút tình…
Nguyễn Thái Học sinh 1902 tại Thổ Tang, Tổng Lương
Điền, Phủ Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Yên, nay là Thổ Tang, Vĩnh Tường,
Vĩnh Phúc… thuộc dòng họ Nguyễn Hữu. Do muốn vào học trường công
Tiểu học Việt- Pháp nên khai rút đi 2 tuổi.
Học xong trường tiểu học Việt – Pháp ở Vĩnh Tường và Việt Trì, năm
1921 Nguyễn Thái Học là một trong 45 học sinh trúng tuyển vào trường
Cao đẳng Sư phạm. Thời gian sau, anh thi tiếp vào trường Cao đẳng
Thương mại. Môi trường sinh viên Nguyễn Thái Học đã giao tiếp với
nhiều bạn bè cùng chí hướng, hấp thụ nhiều luồng tư tưởng, tự đào
luyện để rồi tìm ra một con đường cách mạng riêng.
Không phải ngẫu nhiên anh tôi chọn học tiếp trường Cao đẳng Thương
mại. Anh hiểu chỉ bằng con đường giao thương thì mới giúp đất nước
nhanh chóng mạnh giàu. Thổ Tang vốn là một làng bán nông bán thương.
Từ xưa người nông rời cày cuốc là nhấc lên vai đòn gánh buôn vã
bán đổi nông sản do mình làm ra cho người nơi khác với giá cao nhất
có thể. Bởi họ biết chính xác mỗi hạt thóc, cây rau họ làm ra đáng
giá thế nào. Ngày xưa nhà đoan, hay thuế vụ thời bao cấp đến Thổ
Tang vây bắt hàng cấm, thì mọi người dân có mặt ở đó, dù quen sơ
đều cùng nhau vào giúp chủ nhà tẩu tán chứng cớ. Nhà chức trách
rút đi, thì lần lượt ai cầm giấu giúp được món gì lại đem trả nguyên
vẹn, dù món hàng ấy đáng giá cả cây vàng.
Người Thổ Tang khi đã biết lòng thì tín nghĩa luôn được xác quyết
hàng đầu. Điều đó cũng khuôn định phần nào tính cách Nguyễn Thái
Học. Để giữ Tín với Đảng và đồng chí của mình, dẫu đã lường trước
kết quả, anh vẫn quyết hạ lệnh Tổng khởi nghĩa…
Chị Nguyễn Thị Giang, Phu nhân Nguyễn Thái Học, mặt hơi rỗ hoa,
nhan sắc không trăm phần vẹn trăm, nhưng duyên dáng, lịch duyệt
và cả sự đường bệ, đài các như người Hà Nội gốc phố cổ. Khuôn mặt
tròn, mắt to, đen thẫm và sáng, mày liễu. Nhà không mấy dư dả, nên
chị Giang thôi không học lên cao mà ở nhà giúp cha kèm trẻ học thêm.
Vùng ấy người ta vẫn thường gọi chị tôi là cô giáo Giang là vì lẽ
ấy.
Từ rất sớm, hai chị em Bắc và Giang đã tham gia hội kín của cụ Nguyễn
Khắc Nhu. Khi thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng thì tổ chức của cụ
Nguyễn Khắc Nhu sáp nhập với tổ chức của Nguyễn Thái Học, trong
điều lệ quy định VNQDĐ không kết nạp phụ nữ vào Đảng, mà chỉ kết
nạp vào Phụ nữ Đoàn, nhưng trường hợp Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị
Giang là ngoại lệ, đặc biệt, vẫn được VNQDĐ công nhận là đảng viên
chính thức.
Lần đầu anh Học gặp chị ở tư dinh cụ Nguyễn Khắc Nhu. Anh Học đến
vấn an cụ Nhu đồng thời nghị bàn chuyện sáp nhập hai tổ chức cách
mạng.
Lúc đó anh tôi đang ngồi quần kéo cao quá gối, hút thuốc lào và
bóc khoai lang trên trường kỷ, còn Giang đang cầm ấm giỏ nước vối
từ dưới nhà ngang đi lên.
Trai tài bỗng nghẹn khoai, sặc khói thuốc lào.
Gái sắc luống cuống làm rơi chiếc ấm giỏ nước vối sánh đặc, vỡ toang.
Tài cặp kè bên sắc. Cùng chí hướng. Cùng cảnh ngộ. Cùng mến phục
nhau. Chỉ nhìn thấy cây đàn trên vách là tâm tình cả hai đã ngân
cùng một điệu, hát cùng một câu…
Là cán bộ giao liên giữa Nguyễn Thái Học và các đồng chí của mình,
chị Giang bằng trí thông minh, sắc sảo vượt qua mọi xoi mói rình
rập của kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Sau vụ Nguyễn Văn Viễn ám sát tên Bazin, Nguyễn Thái Học bị thực
dân Pháp truy nã gắt với hai cái án vắng mặt. Không thể yên thân
một chỗ vài ngày, anh tôi thường xuyên phải hóa trang, khi nông
dân vác cày bừa, áo tơi nón lá, khi vai người buôn thuốc lào, khi
vai lái trâu bò, lúc khoác áo cà sa, đầu trọc, hôm nữa là ông lý
ra tỉnh thăm con, ngày mai lại mặc váy đụp sì sụp nhổ mạ cấy lúa.
Chị Giang là nữ giao liên xuất sắc nhất, nên luôn được tin tưởng
giao nhiệm vụ gắt khó nhất. Không những giỏi công tác liên lạc,
chị tôi còn giỏi cả việc tuyên truyền gây dựng cơ sở, xây dựng nên
Binh đoàn Yên Bái. Binh đoàn này đã làm nên danh tiếng Tổng khởi
nghĩa năm 1930.
Động lực công tác to lớn ấy có được ở Nguyễn Thái Học và Nguyễn
Thị Giang, ngoài lòng yêu nước nhiệt thành còn hòa quyện cả khí
chất của một tình yêu lớn, trong ánh mắt yêu thương kỳ vọng của
người này rọi hào quang lên người kia. Những tháng ngày phấp phỏng
bão tố, anh chị tôi hóa trang làm khách lạ, ào qua nhà thăm thầy
bầm, rồi lặng lặng đi êm trong đêm.
… Cuộc nghị bàn việc thu thập kinh phí cho hoạt động và mua vật
liệu chế tạo mìn, lựu đạn chuẩn bị cho khởi nghĩa, sau sân Đền Thượng
trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh kết thúc muộn. Bõ già thủ từ người làng
Trẹo dưới chân núi nhã ý mời mấy người khách rửa tay dùng bữa.
Bữa cơm tối ăn dưới ánh nến chập chờn những cánh côn trùng nhao
qua nhao lại. Thịt gà chặt miếng to, muối nướng ớt, vắt chanh, xôi
nắm quả bàng. Chị Giang mải chăm sóc mọi người, ăn nhỏ nhẻ, luôn
miệng giục người này đến người kia phải ăn nhiều cho có sức. Hầu
như chẳng ai thấy ngon miệng. Dự cảm những biến cố nay mai khiến
cho mọi người trĩu vào nghĩ suy. Trăng non lênh loang chảy ánh sáng
trên lá rừng rớt xuống sân đền lát gạch bát lấn bấn xác rêu. Trăng
trải vệt dài như tấm lụa phủ lên bậc hiên tam cấp đá nhám…
Xong bữa mọi người mới thấy rệu rã. Lê Hữu Cảnh, Phó Đức Chính,
Đặng Trần Nghiệp thì ngả lưng ngay trên tấm phản. Nguyễn Thái Học
và Nguyễn Thị Giang ý tứ ngồi dựa vào gốc cây ngắm trăng ngoài sân.
Bẻ cành lá, chị luôn tay xua muỗi loạch choạch quanh người yêu.
Nhìn vầng trăng nõn, chị Giang mơ màng:
– Trước chúng ta và sau chúng ta có lứa đôi nào rủ nhau lên Đền
Hùng thề non hẹn biển cả việc nước lẫn tình ái không nhỉ?
– Ai mà biết được. Nhưng hiển nhiên là các vua Hùng biết, và vầng
trăng kia biết. Nhưng nếu đại cuộc chúng ta không thành, thì chắc
chắn sẽ còn nhiều lứa đôi tiếp sau ta, làm cái việc chúng ta đang
làm…
– Sao bỗng nhiên anh gở miệng thế. Đại cuộc của chúng ta hiển nhiên
phải thành…
Nằm hồi lâu, không thấy họ trở vào, Phó Đức Chính, người mà sau
này trước Hội đồng đề hình thực dân đã nói: “Đời con người ta sống
làm có một việc, hỏng cả một việc, sống nữa làm gì”, ngó ra. Thấy
cặp tình nhân giữ gìn ngồi cách xa nhau một khoảng trống tối thiểu.
Anh liền lay thức hai người đồng chí ngồi dậy, chỉ tay ra ngoài.
– Có lẽ chúng ta phải yêu cầu Đảng bộ cho phép Học và Giang kết
hôn càng sớm càng tốt.
Đặng Trần Nghiệp:
– Chuyện này cũng khó thuyết phục hai người thuận thảo. Hơn ai hết
cả Học, cả Giang đều biết lúc này không có thời gian cho việc ấy.
Nó quá hình thức với hai người. Cứ để chuyện ấy cho hai người tự
lo, tự liệu. Trăng đến rằm trăng sẽ tròn mà…
Lê Hữu Cảnh thấy động cũng thức giấc xếp bằng trên phản, vọng ra.
– Về khuya hơi núi lạnh lắm. Cô Giang với anh Học không cần giữ
ý làm gì. Vào cả trong này, toàn đồng chí với nhau…
Chị Giang đưa tay ra ý yên lặng. Anh Học đã cất tiếng ngáy từ lúc
nào. Ngồi dựa lưng gốc cây cổ thụ bên rìa vực, hai tay buông chống
đất, chân duỗi dài, giấc ngủ đến với anh nhẹ nhàng dễ như nhặt chiếc
lá rơi…
Nguyễn Thị Giang thổn thức dằn lòng không dám nói rõ với các đồng
chí. Thực ra họ đã bí mật đính ước hồi đầu xuân cũng tại địa điểm
linh thiêng này. Đền Thượng. Hôm nay chị lại được cùng anh lên đây,
hẳn là việc không bình thường nữa…
Rằm tháng Giêng vừa rồi, người đàn ông râu quai nón và cô gái rỗ
hoa, duyên dáng kia lên đền Thượng nhờ bõ thủ từ biện lễ chỉ một
nhánh hoa cau và xấp lá trầu vàng. Người đàn ông mặc áo lương gấm,
khăn xếp. Người phụ nữ khăn đóng, áo the quần lĩnh tía. Họ giống
một đôi tình nhân mà lại có cái gì đó không giống. Người đàn ông
thì hòa nhã, nghiêm nghị, chu đáo. Nhẹ nhàng, kính cẩn, đoan trang
nhưng không liễu yếu đó là cô gái.
Hai người đứng dưới cây hoa đại khải hoa hình chuông rực rỡ màu
đào, người đàn ông nhìn xoay vòng bốn phía hồi lâu rồi thốt lên.
– Nước non cẩm tú vô cùng. Toàn bộ vận khí của Côn Lôn chạy từ phương
Bắc đều tụ lại phần này của nước Nam. Hai bên tả, hữu có Tam Đảo,
Ba Vì chầu về. Đồi gò, như rồng chầu hổ phục châu tuần xung quanh
ngai Vua Tổ. Việt Nam ta sắp đạt vận mới rồi…
– Có thể vận mới ứng vào đảng cách mạng của chúng ta chăng? – Cô
gái mắt long lanh, níu tay người đàn ông.
– Cũng mong là như vậy. Thành bại là ông Trời tạo định. Sống làm
người thì trước hết phải được làm người của một đất nước dân chủ,
tự do… Người người phải có tư thế ngẩng cao đầu, đàng hoàng, bình
đẳng trước luật pháp…
Mối
tình đêm trước khởi nghĩa
Truyện ký của
Nguyễn Tham Thiện Kế
Tinh thần Yên Bái vẫn sống mãi trong lòng dân
tộc, người trong nước bây giờ đang muốn khai quật những bí ẩn lịch
sử để soi sáng sự thật. Truyên ký của nhà văn Nguyễn Tham Thiện
Kế đi tìm thân nhân của đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng viết
về thân thế đảng trưởng Nguyễn Thái Học.
Mối tình đêm trước khởi nghĩa (Phần cuối)
- Tại sao chúng ta phải lên đây làm lễ thề ước?…
– Các đền thờ Vua Tổ trên núi Nghĩa Lĩnh thì đền nào cũng linh thiêng.
Nhưng linh thiêng nhất vẫn là Đền Thượng, nơi chúng ta đang đứng.
Xa xưa các Vua Hùng thường lên đây tế cáo Trời, Đất cầu cho quốc
thái dân an, mùa vụ bội thu… Chúng ta lên đây là để hấp thụ khí
chất thiêng liêng đó vào máu thịt…
Tự tay Nguyễn Thái Học, thắp thẻ hương trầm, trao Nguyễn Thị Giang
một nửa. Rưng rưng chậm rãi những vái tay xá dài hướng lên bài vị
sơn son thiếp vàng, dưới bức đại tự NAM VIỆT TRIỆU TỔ.
Nguyễn Thái Học nâng cao khẩu lục ngang mày. Nguyễn Thị Giang cùng
đưa tay đỡ lấy. Tín vật bạo lực đấu tranh cách mạng, hai thể xác
và hai linh hồn trước anh linh Vua Tổ, họ đã đặt trọn vẹn niềm tin
vào nhau, phó mặc sinh mệnh vào số phận chung của cuộc sinh tử giành
giật lại non sông từ tay giặc Pháp.
– Tôi Nguyễn Thái Học, trước giang sơn Tổ Quốc, trước bài vị Hùng
Vương xin thề yêu thương cô Nguyễn Thị Giang mãi mãi. Tôi thề sẽ
kết tóc xe duyên máu thịt với cô Nguyễn Thị Giang khi cách mạng
thành công, nước non Việt do người Việt làm chủ…
Nguyễn Thị Giang cũng nhắc lại nội dung tương tự, còn nhấn thêm
trong lời thề của mình:
– Nếu Nguyễn Thái Học có mệnh hệ nào vì Tổ Quốc thì Nguyễn Thị Giang
sẽ cùng khí giới này mà chết theo chồng…
Không gian quánh đặc. Khói hương trĩu nặng. Rừng cây đại thụ im
phắc gió. Chân nhang bỗng bừng bừng cháy. Nguyễn Thái Học trao khẩu
súng cho người yêu.
– Đây là tín vật hôn lễ tặng em.
Nguyễn Thị Giang cầm khẩu súng đeo vào người.
Bàn tay nắm chặt bàn tay. Nguyễn Thái Học bỗng nhận ra sợi dây chuyền
trong tay mình, và trong bàn tay người yêu bối rối. Trong khuôn
hình ô van mặt dây chuyền chạm khắc tinh xảo, cẩn saphia hai mặt
có ảnh Học – Giang.
Xuống Đền Giếng, ngồi bên Giếng Ngọc, thả đồng xu cầu duyên may
đáy nước, nhìn đồng bạc bà đầm xòe lúng liếng tắt chìm dần ánh quang
dưới tối đen, chị Giang bỗng hỏi một câu không liên quan gì đến
duyên phận.
– Anh bắt đầu tư tưởng làm cách mạng từ khi nào?
– Tôi không rành rẽ ngày tháng. Làm gì có ai sinh ra đã là nhà cách
mạng. Nhưng làng Vũ Di bên cạnh làng Thổ Tang là quê Trịnh Văn Cấn.
Đội Cấn làm binh biến ở Thái Nguyên, bị Pháp chặt đầu. Bà mẹ Trịnh
Văn Cấn hóa điên lang thang ngày đêm ngoài cánh đồng tìm gọi con.
Một lần bà cụ đã níu chặt lấy tôi mà kêu xót giữa cầu Hương: “Cậu
ơi, cậu, làm thế nào để trả thù được cho con tôi?”. Ngày đó tôi
chỉ biết bổi hổi bồi hồi đem chuyện đó thưa lại với thày dạy chữ
Nho. Năm đó tôi 10 tuổi mình ạ”…
… Sáng hôm sau, Lê Hữu Cảnh, Phó Đức Chính, Đặng Trần Nghiệp rời
núi Nghĩa Lĩnh, người băng sông Hồng sang Sơn Tây, người xuôi Hà
Nội, người ngược Yên Bái.
Nguyễn Thái Học đưa Nguyễn Thị Giang về nhà Đặng Văn Hợp là Chủ
tịch chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) Xuân Lũng. Đặng Văn Hợp
sau bị Pháp bắt tù chung thân Côn Đảo. Năm 1945 ông được (……….)
trả về, mất ở Nam Bộ, được công nhận liệt sỹ 1959.
Họ hưởng tuần trăng mật trong ngôi nhà gạch năm gian trên đỉnh Phú
Thượng, ngói âm dương, cửa bức bàn, tiền kẻ hậu bẩy rộng thênh nhìn
hướng đông nam, giữa vùng đồi sim mua, và những cây dọc trái chua
đơn lẻ tràn đầy gió trăng thượng du, bên trái là núi Nghĩa Lĩnh,
bên phải núi Ba Vì xa xanh.
Đặng Văn Hợp cùng người nhà dọn ở chỗ khác, cắt cử một tâm phúc
phục dịch chu tất. Ông Hợp phao lên rằng, họ là vợ chồng ông chủ
lớn dưới Hà Nội lên nhờ tìm người làm đại lý thu mua gom nhựa sơn,
dầu dọc.
Trám chua kho cá bùi ngùi, mắm tép lông cò chấm lá thành ngạnh đỏ
như son mà thơm thảo. Chân giò lợn luộc ngâm tương ngọt mềm ngây
ngất. Rượu cúc tăm yểm hũ sành vùi cát đã không nhớ ngày hạ thổ.
Gạo gié thổi niêu đất Hương Canh đã tôi nước chè xanh chát. Ngày
ba bữa các thức được biện lên mân son gỗ sung bày trên sập gụ giữa
nhà cho uyên ương thưởng lãm.
Những sáng tinh sương hay lúc chiều sậm, con dốc lên Đình Thượng
nhiều sỏi cuội, được dăm bậc đá kè ngăn xói lở, đôi vợ chồng trẻ
dìu nhau tản bộ dưới bóng tre, bóng cọ. Bên giếng Nhâu kè đá dưới
chân đôi ngay cạnh cổng làng, nước mạch mát lành, Nguyễn Thái Học
buông gàu múc nước rửa chân cho vợ, trong rung rinh nắng mới và
tiếng chim khuyên ngân ngẩn miền đồi. Tiếng cười đùa trong trẻo
của họ lẫn tiếng nước reo vỡ từ miệng gàu dây đã khiến cho bao nông
phu Phú Thượng đang bận tay hái chè, bừa ruộng ngẩn ngơ…
Cách đây lâu tôi qua Xuân Lũng thì được hay ông Đặng Văn Hải con
trai Đặng Văn Hợp cũng đã mất. Ngôi nhà gạch cổ chứng thực, chở
che cho tình yêu Nguyễn Thái Học – Nguyễn Thị Giang giờ thay chủ
mới. Xà cột cái còn cái mục, tường xưa mái cũ, lỗ chỗ vữa mới, ngói
tươi. Nước giếng Nhâu chưa kịp nhuốm màu, gió miền đồi vẫn còn nguyên
lộng thổi mài vẹt bậc đá, lối sỏi trống không…
Điểm rẽ vào làng, xưa gọi là ngã ba Gốc Đề, đó là nơi Nguyễn Thị
Giang tự tận. Gốc đề gãy đổ. Quán hàng của bà hàng nước chỉ còn
trong trí tưởng và sách ghi. Mộ Cô Giang giờ cách nẻo đường bêtông
vào Tân Tiến có mấy sải chân. Dạo trước Tết, tôi đến ruộng đồng
khô hạn vây quanh, nhưng lúc này cận kề một Giỗ tổ Hùng Vương nữa
lúa con gái mởm mơ xanh rượi đang sắp hoa xòe kín bông vàng lên
nấm mộ.
Đứng cạnh tôi bên lề quốc lộ 2 rùng rình xe chạy, ông Nguyễn Thái
Tuấn nhìn ra đồng lúa chậm rãi như đang đọc cho tôi nghe từ trang
sách. Tiếng ông Tuấn bỗng nhỏ nhẹ, nhưng khúc chiết, nói câu nào
tôi lọt câu ấy.
… “Hồi 5 rưỡi sáng 17 tháng 6 năm 1930 Nguyễn Thái Học và 12 đồng
chí của mình bị đem ra hành hình. Lần lượt nhìn 12 người bạn bị
chém trước mắt, Nguyễn Thái Học ung dung đọc mấy câu thơ Pháp:
Chết vì Tổ quốc
Cái chết vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhàng.
Khi đến lượt mình, đao phủ đưa chén rượu cônhắc,
Nguyễn Thái Học gạt đi và yêu cầu được hút một điếu thuốc lào. Cầm
chiếc điếu cày tre cật ngà lên nước nâu bóng của ai đó đưa vào,
vê điếu thuốc lào Vĩnh Bảo khói mặn, rít một hơi gân cổ nổi chão,
nõ điếu giòn gion kêu sảng khoái, phà khói qua hàm răng cửa khuyết
hai chiếc, anh nhìn quanh suốt lượt đồng bào, nhìn quân lính, máy
chém, mỉm cười, cúi chào.
Cất giọng trầm hùng Nguyễn Thái Học hô to: “Việt Nam vạn tuế”.
Nguyễn Thị Giang trong người giắt súng lục, lựu đạn định xé hàng
rào an ninh xông vào. Nhưng lính canh sít sịt. Cô Giang đã chứng
kiến từng sinh mạng thân yêu bị chém phập mà người thứ 13 là chồng
mình, sắc mặt không lộ cảm xúc. Trở về nhà trọ ngoài ga Yên Bái
đêm đó cô viết hai lá thư. Hai bức thư viết bằng bút chì xanh trên
ba trang giấy khổ hẹp. Một trong hai lá thư như sau:
“Thưa Thày, Mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con. Không báo được thù nhà, rửa
được nhục cho nước. Sau khi đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng
con ở Đền Hùng. Giờ con tìm về quê cha đất tổ, mượn phát súng này
mà kết liễu đời con.
Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.
Nguyễn Thị Giang”.
Sáng sớm hôm sau, cô đáp xe lửa xuôi Vĩnh Yên, qua chợ thị xã mua
vuông vải trắng buộc ngang đầu làm khăn tang chồng. Ghé Thổ Tang,
lạy tạ cha mẹ chồng, tạ lỗi đã không thể thay mặt chồng phụng dưỡng
cha mẹ già chăm em. Cô tháo sợi dây chuyền trên cổ có ảnh mình và
Thái Học trao lại cho Nguyễn Văn Lâm đang ôm cha mẹ khóc ròng (chứ
không phải là chiếc đồng hồ đeo tay mặt sau khắc chữ G như các tài
liệu khác khẳng định trong cuộc hội thảo khoa học về NTH năm 2004,
do UBND Tỉnh Vĩnh Phúc và Viện Sử Học VN tổ chức). Rồi sau giặc
Pháp giết Nguyễn Văn Lâm, đốt nhà cụ Hách, cướp lợn, cướp trâu…
sợi dây ấy chuyền đã mất trong lửa loạn.
… Những bước chân mộng du đã đưa bước chân cô Giang đến quán nước
chè xanh, dưới gốc đề nơi mà ngày trước hai người đã từng hò hẹn.
Bà hàng nước quen biết mời cô bát nước nóng hổi. Uống xong bát nước
chè xanh, sửa lại vành khăn trắng, tần ngần mãi cô hỏi bà hàng nước.
– Bà ơi, bà có biết hôm qua trên Yên Bái xảy đại nạn của quốc gia
không?
Bà hàng nước ngơ ngác lắc đầu. Nguyễn Thị Giang lặng đi hồi lâu
mãi mới ngửa mặt lên trời than.
– Giời ơi, thực dân đã khiến cho dân trí ta còn u mê nhường này.
Lãnh tụ của một đảng bị chết chém vì nước mà người dân cùng quê
cũng không hay…
Nguyễn Thị Giang bỏ ra đằng sau quán, rút khẩu súng lục mà Nguyễn
Thái Học đã tặng ngày đính ước ở Đền Hùng tự sát, kết thúc cuộc
đời ở tuổi hăm hai. Hôm ấy là ngày 22 tháng 6 năm 1930…
Nguyễn Thái Tuấn nghẹn lời, nuốt khan, vuốt mái tóc bạc giằn giọng,
ông kể tiếp.
Thi thể Nguyễn Thị Giang bị lột trần khám xét, nằm dưới gốc đề,
khẩu súng văng bên cạnh. Thực dân khám xét xong không cho mặc lại
quần áo, để cho ruồi nhặng bu bám ba ngày nữa. Lúc đó Nguyễn Thị
Giang đang mang giọt máu của Nguyễn Thái Học được ba tháng. Tên
Armuox hạ lệnh cho tri phủ Vĩnh Tường cùng hương lý sở tại đào huyệt
sâu ba mét chôn cất, cấm người nhà Nguyễn Thái Học lai vãng.
Trở lại đình Thổ Tang, nơi đã dựng bia, đặt tượng đồng ghi công
Nguyễn Thái Học, người cháu Nguyễn Thái Tuấn của ông cùng tôi ngồi
xuống thềm gạch. Nhìn lên tàn cây cổ thụ hồi lâu, ông Tuấn mới đan
hai bàn tay nâng lên tấm ảnh dòng chữ khắc bia ở quần thể tượng
đài Yên Bái.
“Yên Bái! Đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân
tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ”
(nhà thơ Pháp Luis Aragon).
Người dân Thổ Tang và dòng họ Nguyễn Hữu vẫn đang nóng lòng chờ
đợi ngày khởi công xây dựng Nhà Tưởng niệm Nguyễn Thái Học. Nhưng
hình như điều ấy vẫn còn đang hình thành trong các văn bản.
Tôi tin, những giây phút cuối cuộc đời, cô Giang không thể không
nghĩ đến đứa con đang làm hình hài, nghĩ đến Nguyễn Thái Học, nghĩ
đến Tổ quốc đang quằn quại, nghĩ đến cha mẹ già. Sống tiếp cũng
là có lý, nhưng người phụ nữ ấy đã chọn cái chết. Bởi bước cuối
cùng của cuộc cách mạng, hai vợ chồng họ và nhiều đồng chí đã cất
bước qua, lý tưởng vị quốc vị dân đột ngột đắm chìm, nếu có sống
cũng chỉ là sống những cái xác vật vờ.
Đại nghĩa sở đương vi, sát tặc đan tâm quang nhật nguyệt.
Thân thù do vị huyết, hy sinh hạo khí tráng sơn hà
Câu đối Ngô Quang Đoan, con trai cả Ngô Quang Bích,
khóc Nguyễn Thái Học được sơn son thiếp vàng nghiêm lạnh trên bàn
thờ trong nhà người em Nguyễn Thái Nỷ… Vâng, Nguyễn Thái Học, đã
thành NHÂN một trong những con người kỳ vĩ của dân tộc.
Ông lão ngoại 80 run rẩy lần tìm trong cuốn Tứ thư mảnh giấy nhỏ
nâu vàng, lỗ chỗ dấu hương châm, được Nguyễn Thái Học gửi ra từ
Hỏa Lò, có lẽ tờ giấy đã được đặt trên bàn thờ một dạo, bởi có dấu
vết tàn nhang cháy…
“Một chính đảng chỉ đạo một phong trào cách
mạng to lớn, nếu không có lý luận cách mạng, không có kiến thức
về lịch sử, không có sự hiểu biết sâu sắc về phong trào thực tế
của quần chúng, thì không thể gây lên một cuộc cách mạng sâu rộng
được, mặc dù, có đau thương – và mất mát. Bố mẹ phải thông cảm cho
các con. 1.2.1930”.
Tám mươi năm đã qua đi. Tổng Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 và sách
lược dân chủ hóa Đông Dương của Nguyễn Thái Học và các đồng chí,
không những là sự kiện quan trọng trong lịch sử cận đại mà còn góp
những viên đá xây nền móng vững chắc trong sự nghiệp đấu tranh giành
lại giang sơn đất nước, làm bước đệm cho Cách mạng Tháng 8.1945
thành công thêm phần thuận lợi.
Cụ bà Nguyễn Thị Quỳnh được công nhận bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
Năm 1976 Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Văn Nho được
công nhận Liệt sỹ. Trong khi các đồng chí của ông đã được công nhận
từ năm 1959. Người cháu ruột là ông Nguyễn Thái Tuấn đang là Bí
thư Thanh niên trường Đại học Kiến trúc phải nghỉ học giữa chừng
năm thứ ba, năm 1963. Nguyễn Thái Tuấn rời trường Đại học Kiến trúc
về làm một ông phó mộc, giờ cũng đã ngoại 60. Bố ông là Nguyễn Văn
Lâm thì cũng đến tận năm 2004 mới được cấp bằng Tổ quốc ghi công.
Tôi đã lần theo dấu tích của mối tình Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị
Giang ngay trên miền đất tôi đã lớn lên và thân thuộc suốt tuổi
trưởng thành, từ Thổ Tang tất bật tới Đền Hùng linh thiêng rồi Xuân
Lũng khoa bảng đến thị xã Phú Thọ trầm u lãng đãng sương khói sông
Thao, và, thành phố Yên Bái cửa ngõ miền tây bắc vào những thời
điểm khác nhau.
Mỗi lần nhìn xuống lòng giếng Ngọc nơi Đền Hùng, hay ngẩng đầu trên
Đền Thượng cao xanh tôi lại hình dung gương mặt cặp trai tài gái
sắc nổi tiếng bậc nhất, và cũng để lại bao nhiêu uẩn ức đau thương
bậc nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XX: Nguyễn Thái Học 27 tuổi
– Nguyễn Thị Giang 22 tuổi đã từng rạng bóng sáng soi.
Bài viết được hoàn thành với sự giúp đỡ của thân
nhân Liệt sỹ Nguyễn Thái Học.
– Ông Nguyễn Thái Nỷ – Em trai liệt sỹ.
– Ông Nguyễn Thái Tuấn – Cháu trai Liệt sỹ.
Và tài liệu tham chiếu:
- Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Liệt sỹ Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt
Nam Quốc Dân Đảng năm 1930. Sở VHTT Vĩnh Phúc và Viện Sử học Việt
Nam, xuất bản 2004.
- Làng Dòng nội truyện, Nguyễn Văn Toại, Nxb Văn Hóa TT, tái bản
năm 2007.
Tác giả xin chân thành cảm ơn
16/06/2008
Nguồn:
www.daibieunhandan.vn
chuyen-ben.blogspot.com
|