Cây
gạo với ngôi miếu cổ Lục đầu Giang
Nguyễn Văn Hoa
Cây
gạo cổ thụ ở dốc đê bên đuờng ra bến đò Lục đầu Giang. Cây xum xê
cao vút um tùm, cành vắt ngang vắt ngửa che mát cả dốc đê. Quán
nước dưới gốc cây gạo mát dượi vào ngày nắng , và cũng nhờ nhiều
tầng lá nên mưa nhỏ nước không ướt gốc cây...Do vậy là nơi trú ngụ
của khách đi đò qua Lục Đầu Giang cả bốn mùa xuân hạ thu đông. Thân
cây gạo vú gai chi chít như bát úp. Mùa xuân đến hoa gạo đỏ rực
, xa hàng mấy cây số trên bờ đê đã nhìn thấy cả thân cây bừng lên
như bó đuốc khổng lồ, bất kỳ con thuyền đò dọc từ các ngả qua lại
sông Lục Đầu như bị cây gạo hoa đỏ hút theo dòng chảy dạt vào bờ
, các chủ thuyền hàng trăm năm nay, thay nhau lên thắp hương ở ngôi
miếu cổ cạnh gốc gạo.
Trong ngôi miếu có tấm bia
khắc đa nứt dạn nhiều chỗ, rêu mọc che kín bia, nếu tinh mắt thấy
lờ mờ hàng chữ:
Mourir pour sa patrie
C'est le sort le plus beau
Le plus digne... d'envie
Và mặt sau là hàng chữ:
Chết vì tổ quốc
Cái chết vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhàng
Dưới cùng có hàng chữ ngày
17-6-1930.
Ngôi miếu dưới cây gạo này
theo di ngôn của gia đình ông lái đò bến Lục Đầu này thì đã có hàng
trăm năm cùng tuổi với cây gạo này.
Người thì bảo do người lính
già họ Nguyễn quê Lục đầu Giang trông coi Đền Kiếp Bạc thờ Trần
Hưng Đạo trồng sau chiến thắng quân Nguyên,
Người thì nói chính con cháu
họ Trần dòng dõi Trần Quốc Toản "bóp nát quả cam "ở bến
Bính Than đã trồng cây gạo cổ thụ này. Dân gian còn cho rằng cây
gạo do người nhà những người chết đuối ở Lục Đầu Giang trồng.
Còn có cụ đồ già họ Đoàn thì
nói là do một học trò của Nguyễn Trãi trồng để nhớ gia đình thày
mình là Nguyễn Trãi bị "tru di tam tộc "sau vụ án"
Nguyễn Thị Lộ ở Lệ Chi Viên giết vua.Lê Thái Tông"?.
Ai cũng cho truyền thuyết của
mình đúng nhất!
Nhưng tấm bia kia theo người
lái đò chỉ có sau khi giặc Pháp ném bom huỷ duyệt trên 10 làng đã
tham gia lo việc quốc sự cùng với Cụ Nguyễn Thái Học.
Cụ lái đò kể rằng, vào một
ngày nước sông lên to, ngập cả cây gạo, nước đã tràn vào sân miếu,
đêm ấy cụ và thân sinh cụ đưa khach qua sông về muộn. Thấy từ trong
miếu có người vẫn còn hương khói.. Cụ thấy lạ , để ý thấy có bóng
một người liêu xiêu cùng một người đàn ông cao lớn, rắn chắc, đang
mang vật gì vào trong miếu...
Nhìn kỹ thì đúng là Ông già
họ Nguyễn trước đi lính cho Pháp đóng ở Yên bái, nay đẫ về quê Lục
Đầu Giang dưỡng già cùng con cháu..
Sau hôm đó loan truyền trong
vùng Lục đầu Giang về tấm bia trên. Người lính già họ Nguyễn đó
đã tham gia hành hình 13 chiến sỹ cùng Nguyễn Thái Học ở Yên Bái
17-6-1930. Về già tĩnh tâm lại. Con cháu đã cùng ông già lập tấm
bia trên, ghi lại những lời ngâm thơ cuối cùng của Nguyễn Thái Học
ngày 17-6-1930 ở Yên Bái.
Từ ngày có tấm bia, ngôi miếu
linh hẳn lên.
Trước miếu này chỉ thờ những
người chết đuối ở Lục đầu Giang mà thôi.
Trẻ mục đồng qua nhiều thế
hệ thường bày các trò đánh trận quanh cây gạo già!
Thuyền bè qua lại Lục Đầu
Giang đều theo dòng chảy hút vào miếu này. Ai lên thắp hương đều
cầu mong : " Đất có thổ công, sông có hà bá, Nguyên Văn Mỗ...xin
cầu đi lai được Xuôi chèo mát mái".
Tàu bẻ qua đây có cầu có linh
ứng cả .
Lạ nhất có năm ngập lụt nhiều
cây đa cổ thu quanh Lục Đầu Giang bị chết , thế mà cây gạo này vẫn
sống, sau lụt cành lộc càng xum xê, bóng mát càng vưon tán rộng
hơn.
Dân quanh vùng thấy lạ nhất
là những lò gạch chi chít quanh sông Lục đầu ngày đêm toả khói mù
mịt , có vườn nhãn Lệ Chi Viên cổ thụ hoa vàng rực cả cây, nhưng
cũng rụng hết, cả một vùng ớt ở bãi Lục Đầu Giang rụng hết hoa.
Thế nhưng cây gạo cứ vào mùa
xuân vẫn chi chít cành từ dưới đất nên tận ngọn vẫn trổ hoa đỏ rực
.
Cây gạo qua nhiều đời như cây
hải đăng báo tin lành cho các tàu bè qua lại Lục đầu giang..
Năm nọ , sông bỗng đổi dòng
chảy, nước chảy xiết , dòng chảy hung dữ làm cho bờ sông xói lở,
hàng cây số bờ sông lở ùm tùm suốt mấy ngày đêm, cả làng nọ có cây
gạo này nhà cửa cùng các vườn cây cổ thụ bị xoá không còn tăm tích.,
đến cả con đường xuống bến đò cũng bị cuốn trôi, cây gạo cũng bật
gốc, nước nhận chìm và cuốn phăng xuống dòng sông. đêm mưa gió và
lũ lụt, vỡ đê ấy, ngôi miều cùng với tấm bia cổ cũng bị nhận chìm
và cuốn trôi mất.
Cây gạo mất, ngôi miếu cổ với
tấm bia cổ mất, bến sông vắng tanh. Tàu bè lạnh lùng lướt qua bến
sông linh thiêng xưa.
Nghe đồn đại quanh Lục đầu
Giang con cháu người lính già họ Nguyễn nọ đang định cư ở nước ngoài,
có dự định hình như trồng lại cây gạo khác, lập lại ngôi miếu cổ
và khắc lại tấm bia xưa theo di huấn của người lính già năm xưa.
Nhưng bến đò xưa đã xây cầu
xi măng mới, con cháu người lái đò nhiều đời xưa cũng đã trôi dạt
đi mưu sinh tận chân trời góc bể nào, truy hỏi chũng chẳng ai hay
biết gì.
Cây gạo như bó đuôc khổng lồ
với ngôi miếu cổ với tầm bia rêu phủ chỉ còn trong tâm thức của
những người già bản địa ở Lục Đầu Giang!
Liệu những người già còn kịp
sống để chi cho người trồng cây gạo mới và sông đến ngày cây gạo
mới hy vọng được trồng ở dốc đê xưa sẽ trổ hoa đỏ rực cả Lục đầu
Giang ?
Tác giả
Nguyễn Văn Hoa sinh ngày 8
tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương
Tài , Bắc Ninh.
Tiến sĩ Kinh tế.
Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.
Hiện làm việc tại Vụ Kế hoạch
và Đầu tư Bộ Thương mại 21 Ngô Quyền Hà Nội.
Tác
phẩm chính:
1. Sếu đầu đỏ (tập thơ), 1998.
2. Mưa trong thơ Việt (sưu
tầm, tuyển chọn), 1996.
3. Miền quê Kinh Bắc: tuyển
thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
4. Tuyển tập Thơ văn xuôi Việt
Nam và nước ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện
Văn học).
5. Chân dung các nhà kinh doanh
nổi tiếng thế giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc
gia).
Nguồn: vanchuongviet.org
|