Dòng
sông chảy về phố cũ
Đặng Thị Thanh
Hương
Lũ
trẻ reo hò, chạy đuổi nhau quanh đồi cọ. Thằng Đẻn trèo lên một
cây cọ to, vặt nguyên cả buồng quả cọ ném xuống. Con Mận khom lưng
nhóm lửa, đặt cái nồi đất sứt mẻ lên ba hòn gạch. Nó vặt những quả
cọ cho vào nồi. Lúc sau cả bọn xúm vào bên nồi cọ om béo ngậy. Rồi
chúng lại đuổi nhau reo hò... Những cuộc chơi như thế ngày nào cũng
diễn ra với bọn trẻ xóm Thổ Tang. Thằng Đẻn bé nhất nhưng luôn là
người bày trò. Thực dân Pháp chiếm đóng đến Thổ Tang, bọn trẻ con
theo gia đình tản cư. Cuộc vui thế là tàn.
Buổi chia tay chỉ
có con Mận và cu Đẻn. Thằng Đẻn ngồi trầm ngâm bên nồi cọ om còn
nguyên vẹn, nó vụt nói: "Mận này, mai kia nhất định tao sẽ
đi đánh bọn Tây, mày lại theo tao nhé!" - Nói rồi nó đứng phắt
dậy, đập thật mạnh vào cây cọ. Lúc nó buông tay. Con Mận hốt hoảng
nhìn thấy giọt máu chảy dài trên tay Đẻn.
Mận theo cha tản cư
lên Yên Bái - Một dãy phố nhỏ bé nhưng sầm uất nằm dọc bờ sông Hồng.
Nó không gặp lại thằng Đẻn nữa. Năm tháng qua đi, cô bé Mận ngày
nào đã là một thiếu nữ. Cái vị chan chát, ngòn ngọt của quả cọ om
bên đồi thơ ấu năm nào vẫn thi thoảng trở về trong ký ức cô.
Mận lấy chồng, mười
chín tuổi đã là mẹ của ba đứa con lít nhít.
Dạo này Mận thường
thấy chồng đi đêm về hôm, vẻ mặt lúc nào cũng quan trọng và khó
hiểu. Nhiều đêm cô nghe thấy tiếng thì thào sau nhà. Cô mở cửa lén
nhìn ra. Chồng cô và bốn, năm người đàn ông khác đang họp bàn gì
đó.
Tiếng một người đàn
ông: "...Đã đến lúc chúng ta phải hành động. Dù
không thành công thì
cũng thành nhân...". Tiếng
người đàn ông nghe quen lạ
lùng. Mận nghĩ mãi không ra.
Cuộc khởi nghĩa của
Quốc Dân Đảng nổ ra ngày mười tháng hai năm một chín ba mươi...
Người đàn ông đêm ấy trong nhà cô chính là lãnh tụ Nguyễn Thái Học.
Tới ngày chồng cô
và những người lãnh đạo khởi nghĩa bị thực dân Pháp hành hình, cô
mới biết Nguyễn Thái Học là cu Đẻn.
Chồng cô Mận là ông
ngoại tôi. Mãi sau này chúng tôi mới được nghe bà ngoại kể về thời
thơ ấu cùng người anh hùng ấy.
Thuở nhỏ, tôi thường
theo bà đi chợ. Mỗi lần tan chợ về bà rẽ vào khu nghĩa trang, đặt
lên mộ ông tôi một bó hoa cúc vàng và mộ Nguyễn Thái Học vài quả
cọ om vàng óng.
Ngày đó, tôi không
hiểu mối liên hệ bí mật giữa bà và vị anh hùng kia. Vị béo ngậy
của quả cọ om gạt phăng đi trong đầu tôi những câu hỏi tò mò.
Mẹ tôi là con út.
Bác cả tôi bị hành hình trong đợt tan rã cuối cùng của Quốc Dân
Đảng. Bác hai thoát chết nhưng phải sống chui lủi mãi. Bác ba và
bác tư theo Việt Minh rồi chuyển về Hà Nội.
Bà sống với gia đình
tôi. Bà kể, xưa dưới triều Nguyễn, Yên Bái mình thuộc Hưng Hoá.
Thời Pháp, Yên Bái trở thành thủ phủ của đạo quan binh phía Bắc.
Chính vì có một vị trí chiến lược như vậy nên ông Nguyễn Thái Học
đã chọn Yên Bái làm nơi dấy cờ khởi nghĩa. Yên Bái ngày đó đông
đúc với những phố chợ Sắt, chợ Gạo, phố Hàng Mắm, hàng Phèn... Bến
sông Hồng ngày đêm tấp nập thuyền bè qua lại bán buôn.
Mỗi lần nhắc tới cái
chết của ông Nguyễn, bà tôi lại trầm ngâm đọc: "Anh hùng tự
cổ nan vi phụ - Hào kiệt hà nhân cánh cổ gia...". Bà ôm tôi
vào lòng ru rằng: Thân không giúp ích cho đời/Thù không trả được
cho người tình chung/Dẫu rằng đang độ trẻ trung/ Quyết vì dân chúng
một lòng hy sinh...
- Bà bịa ra đấy à?
- Tôi hỏi.
- Bố mày chứ, đó là
thơ của cô Giang, vợ ông Nguyễn đấy cháu ạ.
- Thế bà có quen cô
Giang không?
- Không, ông Nguyễn
bị giết, cô Giang về Thổ Tang thăm gia đình chồng, sau đó tự sát
bằng súng lục! - bà thở dài.
Tôi lớn lên trong một căn nhà vách nứa, mái cọ sơ sài ven rừng.
Tôi không sao hình dung nổi xưa kia Yên Bái là những phố xá dọc
ngang, sầm uất. Bà bảo: "Hết đánh Tây, rồi đánh Mỹ, bao nhiêu
bom đạn còn gì nữa cháu!".
Những buổi chiều tan
học, tôi cùng bọn trẻ hay ra bờ sông hái hoa dại. Dòng sông cuồn
cuộn ngầu đỏ, tôi nói với bọn trẻ về những dãy phố dọc ngang trong
câu chuyện của bà, nhưng chẳng đứa nào tin. Chúng bảo:
"Con này bịa
chuyện...".
Tôi bỏ chúng bạn,
đi một mình giẫm lên những bụi dền gai, khoan khoái hít mùi nồng
nàn của dòng sông đang mùa nước cạn.
Ngọn gió theo nhau
ve vuốt trí tưởng tượng trong tôi. Tôi nhìn thấy chiến tranh tàn
ác phá huỷ thành quách và phố xá bên bờ sông này. Chỉ còn lại ký
ức toả bóng trong bà ngoại của tôi và bây giờ nó bao trùm cả lòng
tôi nữa.
Thăng trầm lịch sử
làm bốc hơi đi bao nhiêu vương triều, hiện hữu trở thành huyền thoại
nên làm lũ trẻ tin thật khó. Nhưng tôi tin vào điều bà kể như đã
chứng kiến những sự việc xảy ra trong gia đình.
Các anh chị con bác
tôi không ai vào được đại học chỉ vì cha là Quốc Dân Đảng. Mười
mấy đứa cháu nội của bà, mỗi lần thi rớt lại vào khóc với bà tôi.
Bà không nói gì chỉ ngồi xếp những lá trầu không thành từng mớ.
Những phiên chợ thưa
thớt dần, bà tôi yếu lắm rồi. Tôi không còn được ăn quả cọ om, cũng
không theo bà đến thăm mộ ông Nguyễn. Khu nghĩa trang rậm rạp và
hoang vắng. Những người chết mới được chôn cất ở nghĩa địa ven sông.
Quanh mộ ông Nguyễn, hoa cúc dại um tùm vàng rực. Người lớn bảo
bông hoa đó mang linh hồn người chết, đêm hiện ra trêu trẻ con qua
đường. Tôi đâm ra kinh sợ cái sắc hoa vàng quái đản ấy.
Dạo này bà tôi chỉ
quanh quẩn với giàn trầu không. Bà nhặt những lá trầu vàng lấy dây
chuối khô bó từng mớ, xếp đầy các rổ. Nhưng bà không mang bán. Xếp
xong những mớ trầu bà ngồi hát: "Thân không giúp ích cho đời
- Thù không trả được cho người tình chung...". Mấy chị em tôi
đều đã lớn. Lời ru của bà rơi vào thinh không, chẳng khép nổi hàng
mi đứa trẻ nào vào giấc ngủ. Chị tôi và anh thứ hai đỗ đại học.
Mẹ tôi là con gái nên lý lịch không ảnh hưởng mấy tới chúng tôi.
Tôi vào cấp ba. Câu
chuyện của bà về dòng sông chảy qua phố cũ chìm dần vào ký ức. Tự
nhiên tôi cũng hoang mang khi nhìn cỏ dại ngút ngàn khắp triền sông.
Không còn chút di tích nào về những con phố cổ. Dưới vòng cúc dại
rực vàng kia liệu còn tí xương cốt nào của người anh hùng có cái
tên con trẻ cu Đẻn mà bà tôi thường nhắc.
Thời gian chìm lấp
bao sự kiện. Huống hồ câu chuyện tình lãng mạn đơn phương của bà
tôi. Giàn trầu không của bà bỗng héo úa, rồi chết sau một đợt sương
muối dày đặc. Bà tôi đột ngột lăn ra ốm. Một tháng sau, bà lần giường
tập đi, bắt đầu nói ngọng và lẩn thẩn.
Mỗi buổi tan học về,
tôi lại sang hàng xóm xin mấy lá trầu không, tôi lấy chiếc cối nhỏ
xíu nghiền nát miếng trầu cho bà rồi mới ngồi học bài. Bà tôi thường
ngồi hàng giờ trước lò sưởi than, tay run rẩy xếp những lá trầu
vào chiếc âu đồng. Đôi mắt đục lờ nhìn vô định. Bà không còn hát
thơ của cô Giang nữa.
Tôi thi vào Đại học
Tổng hợp, khoa Sử. Vị ngọt bùi của trái cọ om mỗi lần tan chợ thi
thoảng trở về trong tiềm thức đủ làm tứa nước bọt nơi đầu lưỡi.
Hè đầu tiên trở về nhà, bà ra cửa run rẩy ôm lấy tôi. Tôi thấy bà
ru khe khẽ:
"Thân không
giúp ích cho đời - Thù không trả được cho người tình chung...".
Tôi bàng hoàng nhận
ra từ đôi mắt đục lờ của bà hai giọt lệ nặng nề lăn xuống. Bà tôi
vẫn sống với thiên ký ức của mình. Tôi xin dây trầu không hàng xóm
ươm trong vườn nhà. Một tháng hè đủ để mầm cây đâm lộc. Tôi lại
ra đi.
Mùa đông năm ấy, bà
tôi ốm liệt giường. Bà không ăn trầu nữa. Những lá trầu úa vàng
trong chiếc cơi nhỏ. Ba tháng sau, bà tôi qua đời, thọ chín mươi
mốt tuổi. Giàn trầu không tôi trồng đã lên xanh, nhưng bà không
thể mang theo. Tất cả thiên nhiên và người thân đều bị ảnh hưởng
vì cái chết của bà tôi. Cây cối trong nhà đều mang tang trắng.
Tiếng kêu khóc của
mọi người. Tôi nghĩ đến bà tôi, nhưng không sao ý thức được chuyện
gì đã xảy ra cho bà. Chết là đi về một kiếp sống khác, có lần bà
tôi bảo thế.
Tôi nhìn thấy bà đang
đi trên một con đường huyền bí, bà tìm về đồi cọ ven làng Thổ Tang
năm xưa hay mải miết quay về bến sông có những dãy phố dọc ngang
thuở trước.
Tôi nghe thấy tiếng
chim chóc líu lô và qua thứ ánh sáng mờ ảo thê lương của hoàng hôn,
tôi nhìn thấy bà hiện về với lời ru quen thuộc. Bà tôi nằm đó, mắt
nhắm nghiền.
Đầu bà hình như nặng
lắm nên mới ấn sâu xuống dưới gối như thế. Bà vấn khăn nhung, khuôn
mặt nhỏ chìm lấp sau lọn tóc bạc. Bà có vẻ đang ngủ, hình như mắt
bà chớp chớp trong ánh điện chập chờn. Mẹ tôi bảo: "Cầm tay
bà đi con". Tôi cầm tay bà. Một hơi lạnh không danh từ nào
diễn tả nổi. Tôi sụp mắt xuống và nghe mẹ tôi khóc nức nở. Bà đã
đi rồi, mang theo thiên ký ức của mình.

Luận văn tốt nghiệp
tôi chọn đề tài về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và lãnh tụ Nguyễn Thái
Học.
Giáo sư Lương, người
trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi kể tỉ mỉ về cuộc đời và sự
nghiệp của ông Nguyễn, kể cả mối tình của ông và cô Nguyễn Thị Giang.
Tôi không nói với
thầy điều bà tôi kể. Coi câu chuyện trên đồi cọ đất Thổ Tang năm
nào như một huyền thoại trong trí tưởng tượng trò con trẻ. Tôi chọn
đề tài này với tất cả tấm lòng thương nhớ bà ngoại của tôi. Biết
đâu nơi vĩnh hằng kia, bà tôi được một chút an lòng.
Khơi lại lịch sử để
nhìn nhận đúng sai không phải việc dễ làm. Nhận định về ý nghĩa
sống còn tự do và nô lệ cũng giống như sự tồn tại của tạo vật và
định mệnh. Mỗi người hành động theo sự chi phối của vì sao chiếu
mệnh mình.
Luận án của tôi đạt
điểm cao nhất. Tôi và thầy lên Yên Bái. Tỉnh đã xây lại khuôn viên
khu nghĩa trang. Mộ ông Nguyễn Thái Học được khắc bia đá và lúc
nào cũng có những vòng hoa đủ màu sắc.
Lễ kỷ niệm sáu mươi
lăm năm khởi nghĩa Yên Bái được cử hành trọng thể. Mọi người từ
khắp nơi đổ về viếng mộ Nguyễn Thái Học. Rừng hoa cúc dại chứa oan
hồn bị chặt hết. Không còn cái màu vàng quái đản, nghĩa trang cũng
bớt đi phần hoang lạnh.
Ngày giỗ bà, tôi lại
trở về. Thị xã mới bề thế và bắt đầu tấp nập. Bờ sông xưa vẫn hoang
vu với những bụi dền gai và cây dứa dại. Cả nhà tôi ngồi quây quanh
bàn thờ bà. Tàn hương xoắn lại như cánh cúc vàng ngoài nghĩa trang
tôi nhìn thấy suốt thời thơ bé. Trời vừa sụp tối. Ánh mờ của ngọn
đèn
bất diệt hoàng hôn
làm rung rinh các ngôi sao vàng vừa chợt hiện.
Ở trên bàn thờ, bức
ảnh bà phóng to nụ cười phai lợt nhưng vẫn hiện hồn. Mùi trầm phảng
phất trong không khí. Tôi thoáng thấy chập chờn cả ngàn thứ. Những
buổi chiều theo bà đi chợ, câu chuyện cổ tích của bà, lá trầu quết
vôi và quả cọ om béo vàng... tất cả thấm đẫm nỗi buồn đau trong
trái tim tôi. Thình lình một con bướm đen rất to bay vào nhà. Vợ
bác Hai tôi chắp tay khấn: "Lạy mẹ! Có phải hương hồn mẹ hiện
về, xin mẹ đậu xuống bàn thờ này...".
Con bướm đen chao
lượn ba vòng quanh mọi người rồi đậu xuống góc mâm cơm cúng. Tiếng
khóc oà lên. Tôi đặt bản luận
văn lên góc bàn thờ thì thầm: "Bà có linh thiêng xin chứng
giám cho lòng thương nhớ của cháu. Giàn trầu không cháu trồng đã
tốt lắm. Bà ơi, nếu như có một kiếp khác cháu cầu mong cho bà gặp
lại cậu bé bên đồi cọ năm nào". Trong khói hương nghi ngút
và tiếng nức nở của mọi người, tôi nhìn thấy trên di ảnh, bà bỗng
nở một nụ cười mãn nguyện. Con bướm đen vụt biến mất.
Từ đó, mỗi năm một
lần tôi lại về bến sông ngày xưa. Bà nằm đó ngày đêm đón cơn gió
lồng lộng thổi vào từ dòng sông Hồng. Bên những bụi dền gai, hẳn
bà tôi vẫn nghe được lời thì thầm của hồn phố cũ.
Đối với tôi, bà ngoại
tuy chết rồi nhưng vẫn sống cuộc đời thứ hai đặc biệt hơn đời trước.
Tôi hình dung những gì bà tôi nói và làm lúc sinh tiền. Câu chuyện
dường như sống lại cùng bà trở về bên bàn ăn. Tôi nhìn thấy hình
bóng của bà trên bức tường, bà ngồi ngoáy trầu bằng cái cối nhỏ,
móm mém cười. Bà ngoại ơi! Dòng sông vẫn chảy về phố cũ. Bà thấy
không?
Tác giả
Đặng
Thị Thanh Hương sinh ngày 8.11.1966
tại Yên Bái, quê Tuyên Quang.
Tốt nghiệp Đại học Văn hoá 1988,
Trường Viết văn Nguyễn Du 1997.
Hiện làm báo tại Hà Nội.
Hội viên Hội Nhà văn VN.
Tác
phẩm đã xuất bản:
1. "Cổ tích tình
yêu" (Thơ, NXB Thanh niên 1991).
2. "Phiên bản" (Thơ, NXB Văn hoá 1993).
3. "Vọng đêm" (Thơ, NXB Lao động 1997).
4. "Những chiều mưa đi qua" (Tập truyện ngắn, NXB Thanh
niên 1997).
5. "Những con ốc chờn ren" (Thơ, NXB Hội Nhà văn)
Nguồn: vanchuongviet.org
|