Ðóa Hoa Máu

Vĩnh Nhất Tâm

17.06.07

Dân Lạc Việt từ thời lập quốc
Trải qua bao chiến cuộc thăng trầm.
Vẫn sừng sững mấy ngàn năm,
Vang lừng một cõi cháu con Lạc Hồng....

Thực dân Pháp ngông cuồng tự đại
Ðâu khác chi vô lại một loài.
Sáu mươi năm, một chuổi dài,
Người người sau trước, quyết bài thực dân.

Vì bạo ngược vô luân quá độ
Ðày dân ta khốn khổ vô cùng.
Máu da nhuộm anh hùng
Ngọn cờ Ðộc Lập vững vàng trước sau.

Dân tộc Việt bể dâu hiểu thấu,
Ðã bao phen tranh đấu không ngừng.
Tiếp theo Thư Xã Nam Ðồng
Quyết vì đại nghĩa cho tròn chí nhân.

Nguyễn Thái Học trái tim quả cảm,
Gặp Va-ren trao bản điều trần:
Bao nhiêu nguyện vọng tối cần,
Mở mang dân trí, canh tân nước nhà.

Nhưng bọn chúng dần dà kiếm chuyện,
Dở thêm trò đê tiện hại dân.
Ðúng là một lũ thực dân,
Xiết dân thắt chặt, mọi phần khắc khe.

Vì dân tộc nhất tề lập chí,
Cùng anh em tính kỹ trước sau.
Cuối năm Hai Bảy (1927) bắt đầu,
Nam Ðồng Thư Xã quyết trao tấm lòng.

Lập nên Ðảng trong vòng bí mật,
Vì thực dân vốn thật manh tâm.
Phải cách mệnh, mới canh tân,
Chung lòng giành lại giang san của mình.

Nhân dịp lễ Giáng Sinh trần thế
Ðảng Quốc-Dân tuyên thệ ra đời.
Thế thiên hành đạo cứu người,
Diệt loài cường bạo, người người cùng đi.

Thực dân Pháp chỉ vì trục lợi,
Dân nguyện lòng không đội trời chung.
Quyết tâm một trận thư-hùng,
Dẹp quân xâm lược, đuổi phường thực dân.


Sau vụ giết Ba-gianh bại lộ,
Pháp bắt đầu truy tố lung tung.
Trùng trùng mặt thám vây lùng,
Bắt người vô tội hành hung đủ điều.

Ðảng tới lúc đối đầu trực diện,
Từ trung-ương cho đến hạ-tầng.
Lo cho kế hoạch chu toàn
Ðịnh ngày khởi nghĩa đuổi quân tham tàn


Mọi dự liệu sẵn sàng tử chiến,
Quyết hoàn thành tâm nguyện non sông.
Mang dân ra khỏi cùm gông,
Ngọn cờ Cách-Mệch sáng hồng lửa thiêng.

Ngày khởi nghĩa dậy miền đất Bắc,
Mười tháng Hai (10-02), cờ phất tung bay
Khắp trên tất cả kỳ đài,
Ðất rung, núi chuyển, trời lay, biển gào.

Máu cách-mệnh tô cờ Ðộc Lập,
Hoa Tự Do rộ khắp ba Miền.
“Không thành công cũng thành nhân!”
Di ngôn Thái Học đủ phần biểu dương.

Dân tộc Việt noi gương nối chí,
Tuốt gươm thiêng, hùng khí:không hàng;
Ngày Yên-Bái nhắc dân gian
Nghiêng mình ngưỡng mộ những trang anh-hùng.

Lên máy chém ung dung, tự tại
Ngươời từng nguười sắc thái oai-phong.
Mười Ba Thủ Cấp Anh-Hùng,
Máu hồng lai láng đã phun pháp trường.

Gương chính khí can trường, bất khuất
Ðầu từng người lần lượt rơi theo:
“Việt-Nam vạn tuế“ tung hô
Mười Ba Dũng Sĩ đi vào sử xanh.

Dù chí lớn chưa thành đại nghiệp!
Cứu muôn dân trên khắp ba Miền
Giang sơn ba dải nối liền
Thực dân đô hộ: xích xiềng, máu, xương.

Gương bất khuất con Hồng, cháu Lạc
Trang sử thiêng ghi tạc lòng son.
Gương xưa: bất khuất, trường tồn!
Thời nay không để nước non suy tàn!


Vị Anh Hùng Bất Tử
Vĩnh Nhất Tâm


Nguyễn Thái Học, vị anh-hùng bất t ử!
Như thái dương ngời sáng dãy non hùng.
Người ra đi viết lên trang huyết sử,
Tỏ uy-linh giống cháu Lạc, con Hồng.

Một dân tộc mấy ngàn năm từng trải,
Một trời Nam bừng sáng dậy muôn trùng.
Dù cho phải chịu đầu rơi, máu chảy,
Tiếc chi thân khi dân tộc khốn cùng!

Tay bị trói, chân mang còng xiềng xích,
Ra pháp trường vẫn phong thái hiên ngang.
Dù cách-mệnh chưa hoàn thành chủ đích
Nhưng niềm tin, ý chí đã “thành nhân”

Yên Bái Còn Vang...

Vĩnh Nhất Tâm

17.06.07
(Kính gửi tặng Huyền Thanh Lữ)

Yên Bái còn vang một góc trời
Lời Thề Non Nước vẫn luôn tươi
Viết lên trang sử: “Thành Nhân” ấy!
Thế hệ theo sau sẽ đáp lời.


Vọng Về Yên Bái!

Vĩnh Nhất Tâm

13-06-2005

Mười Ba dòng máu phun lai láng
Yên Bái hào quang rạng giống dòng.
Vì nước! Ðầu rơi khua máy chém
Viết lên trang sử rất kiêu hùng.

Tinh thần Yên Bái muôn muôn thuở
Sử Việt ngàn sau vẫn vọng vang
Tiếp bước Mê Linh, cờ phục quốc
Ðuổi quân xâm lược, dậy trời Nam.

Bảy lăm năm vọng về Yên Bái
Thắp nén hương lòng ngưỡng mộ thay!
Những bậc anh-hùng lưu khí thế
Giống nòi sau trước chẳng riêng ai.