Văn Tế Đồng Bào Làng Cổ Am và Những Làng Khác Bị Thực Dân Khủng Bố Tàn Sát (1930)

Phan Bội Châu

 

Than rằng:


Dân nước mất nghĩ càng đau quá! Dế, trùn, kiến, mối nhẽ còn hơn.
Giặc có quyền thương tới ai đâu! Súng, đạn, gươm, dao, thôi mặc ý.


Sóng Âu, Á hai mươi thế kỷ,
Cuộc bể dâu trải mấy phen này,
Trói tay chân, pháp luật là dây,
Bưng tai mắt, văn minh rành vỏ


Đau nông nổi mấy năm gần đó, tư bản cường quyền Pháp quá sức hoành hành,
Nên anh em sáu triệu xứ mình, Đảng Việt Nam Quốc Dân là đường tự vệ,
Lòng yêu nước gốc lòng trời đẻ, ai có xui ai?


Tình thương nòi vẫn tính loài người, tội gì mà tội!


Nào hay chọc gan hùm sói!
Diễn thêm một cuộc oán thù


Làng Cổ Am há phải giặc đâu! Rặt những người cày bẫm cuốc sâu, đóng sưu nộp thuế!


Làng Xuân Lũng cũng là dân thảy, đâu có kẻ tranh thành cướp đất, đắp lũy xây đồn!


Huống gì đàn chiu chít bé con!
Với những lũ gầy gò già yếu!


Đáng thương thiệt đầu man mắt trú, gánh vác nặng nề, dưới nhà nước tha hồ đè nén.


Xứ cày cấy há phải trường chinh chiến, tưởng ngỡ gà kêu chó sủa, đất há hẹp gì;


Chúng làm ăn nào biết việc đua tranh, chắc là thuế ráo sưu xong, trời cũng thương đến.


Họa ao cá vì ai xui khiến!
Đạn tầu bay vô cố xán nhào!


Đoàn già lũ bé xương chất nhốn nhao, thảm bại ấy vì sao! Ơn khai hóa vài trăm khẩu súng,


Mẹ góa con côi, máu sôi tản mác, sự tình thôi quá ngán, quyền tự do mấy chục quả bom!


Đã đành than lấp bùn chôn giữa nước lửa chỉ là mồ dân Việt;
E lửa trời cùng đất kiệt, ngoài non sông đâu tá cảnh nguồn đào!


Thương ôi! Gương cũ treo cao,
Cuộc sau gấp tính,


Hai lăm triệu nay ai còn tính mệnh, thịt đầu da há phải điều vui!

Toàn ba kỳ nếu sẵn nhân tài, chim ngoài lưới phải lo đường sống.


Hát vô dụng mà khóc cũng vô dụng, duy mong mỏi giòng Hồng giống Lạc, bà con anh chị một lòng, gìn giữ máu Tiên Vương;


Họa phi thường thời phúc cũng phi thường, những ao ước núi Tản sông Lô cả nước mở mang hồn Tân Việt.


Mấy lời tâm huyết, chín suối hồn nghe!


Thượng hưởng,