THƯ MỤC

 

 

 

 

Lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng.

 

Ông sinh năm 1882, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, mồ côi cha năm 13 tuổi, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu.

 

Năm 1903, ông từng dẫn đường cho Phan Bội Châu lên đồn Phồn Xương gặp Đề Thám. Sau nhiều lần thi Hội không đậu, ông về quê dạy học và tham gia Phong Trào Đông Du, lập Hội Quốc Dân Dục Tài theo kiểu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, thực hiện một số cải cách tại quê nhà, tuy nhiên đều bị chính quyền thực dân Pháp cấm không cho phép hoạt động.

 

Vào năm 1909, thực dân Pháp truy nã và bắt giam nhiều nhà chí sĩ, có cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, và dĩ nhiên trong số đó có Xứ Nhu. Nguyễn Khắc Nhu trốn sang Trung Quốc, tham gia vào cuộc vận động cứu nước. Từ đó, ông chuyển dần xu hướng đấu tranh bất bạo động sang xu hướng bạo động. Năm 1927, ông về nước cùng với các đồng chí thành lập hội Việt Nam Dân Quốc, tổ chức nhiều cuộc tập kích một số đồn Pháp ở Bắc Ninh, Đáp Cầu, Phả Lại... với ý định vũ trang khởi nghĩa.

 

Năm 1928, ông sát nhập hội Việt Nam Dân Quốc vào Việt Nam Quốc Dân Đảng và ông được cử tham gia với vai trò là trưởng ban Lập Pháp của Đảng.

 

Năm 1929, sau vụ ám sát Bazin, một trùm mộ phu đồn điền Nam Kỳ của Pháp, các cơ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp khủng bố ác liệt, ông và Nguyễn Thái Học rút vào hoạt động bí mật và bị "Hội Đồng Đề Hình" của thực dân Pháp kết án vắng mặt ông 10 năm cấm cố. Trước tình thế áp đảo của Thực dân Pháp, các lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng quyết định đẩy mạnh hoạt động vũ trang khởi nghĩa với phương châm "Không Thành Công Thì Thành Nhân".

 

Năm 1930, ông được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây.

 

Ngày 9 tháng 2 năm 1930, ông trực tiếp chỉ huy trận đánh tập kích đồn binh Hưng Hóa và phủ lị Lâm Thao.

 

Cuộc tập kích bất thành, bản thân ông bị trúng đạn nhưng vẫn tìm đường trốn thoát. Giữa đường ông dùng lựu đạn tự tử nhưng không chết và bị quân Pháp bắt được.

 

Trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sông trầm mình tự tử, nhưng lại bị quân Pháp vớt lên và đem về giam ông tại Hưng Hóa. Tại đây, ngày 11 tháng 2 năm 1930, ông đập đầu vào tường của trại giam tự tử để bảo toàn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi.

 

Ông còn là tác giả của một số bài thơ, bài báo vận động cải cách. Tên nhà cách mạng Nguyễn Khắc Nhu được đặt cho một con phố ở Hà Nội và ở một số thành phố khác.

 

THƯ MỤC