CHƯƠNG 43
Chị Giang
Một người ấy, tôi muốn nói chị Giang, một đảng viên
mà nhà đương cuộc cho là còn có công tuyên truyền cho Đảng hơn là
anh Học.
Anh Học lúc còn trẻ, ông, bà có cưới cho một chị vợ là Nguyễn Thị
Cửu. Năm 1927, khi sắp lập Đảng, anh có nói với tôi là đã ly hôn
với vợ. Bấy giờ nhiều người như thế lắm: anh Nho, anh Chính, đều
từ hôn hay cho vợ về cả. Các anh không muốn đem cuộc đời sóng gió
của mình mà làm phiền lụy đến một người đàn bà.
Ấy vậy mà có một ngày Anh tuyên bố với các bạn là Anh xin phép để
được kết hôn cùng cô Giang.
Cô Giang, người ở tỉnh Bắc Giang, nên cả ba chị em cô, có tên là
Bắc, Giang và Tỉnh. Cô Tỉnh khi ấy còn nhỏ. Còn hai chị thì đều
vào Đảng cách mệnh của anh Song Khê. Việt Nam Quốc Dân Đảng nguyên
không thu đàn bà làm đảng viên. Các chị em đồng chí chỉ tổ chức
vào Phụ Nữ Đoàn. Vậy mà riêng tỉnh bộ Bắc Giang có mấy nữ đảng viên.
Là vì đó nguyên là đảng của anh Song Khê. Sau khi Đảng ấy hợp với
VNQDĐ rồi, đành lẽ cứ để cho như cũ vậy… Đó là một điều ngoại lệ,
dành riêng cho mấy chị ở Bắc Giang. Song chị Giang và các chị ở
đó thực đã xứng đáng với cái đặc điểm ấy. Làm giao thông, làm tuyên
truyền, chị tỏ ra một người đồng chí có tài và đắc lực. Nhưng quý
hơn hết là sự tận trung với Đảng: trừ việc Đảng, chị không còn thì
giờ để làm cái gì cho đời sống riêng mình. Sau hồi 1929, chị làm
việc giao thông cho Tổng Bộ với các nơi, luôn luôn phải gặp gỡ và
cùng đi với anh Học.
“Lạ chi thanh, khi lẽ hằng,
Một dây, một buộc ai giằng cho ra”
Sự thương yêu nhau của một đôi đồng chí tài sắc ngang nhau, trạc
tuổi gần nhau, đâu phải là chuyện khiến chúng ta khó hiểu. Rồi,
một buổi sớm tốt lành kia, nhân đi gần đền Hùng Vương, hai người
đã đem nhau vào đền mà thề nguyền. Trong buổi định tình ấy, chị
cố xin Anh giao cho một khẩu súng sáu, và hứa “nếu Học chẳng may
chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!”
Từ khi anh Học bị bắt, nhớ đến lời thề sơn hải, tinh thần chị gặp
một khủng hoảng to! Bỗng dưng cười, bỗng dưng khóc, chị trở nên
gần như một kẻ mất trí khôn! Và anh em phải tốn rất nhiều công bảo
vệ cho chị có thể ở yên tại Hà Nội, mà gián tiếp thăm anh Học.
Chiều hôm ấy, nghe tin anh Học bị giải lên Yên Báy,
chị cũng đáp xe lửa đi theo hút! Chị mang theo một khẩu súng, một
quả bom, định vào phá pháp trường. Nhưng bọn lính canh đã ngăn không
cho chị tới gần.
Đứng đàng xa, với một sức tự trị phi thường, chị
đã đem nụ cười mà đáp lại nụ cười của anh Học khi sắp bước lên máy
chém. Nấp trong đám người đứng xem, chị đã không lộ mảy may nỗi
đau xót cho người ngoài biết.
Xem chém xong, chị quay về nhà trọ và viết hai bức
thư tuyệt mạng. Hai bức thư ấy viết trên ba trang giấy khổ hẹp,
bằng nét bút chì xanh. Rồi ra chợ, chị mua mấy vuông vải trắng,
làm khăn để tang chồng. Buổi chiều, chị đi xe lửa sang Vĩnh Yên.
Và sớm hôm sau, chị về địa hạt Đồng Vệ, cạnh làng Thổ Tang, vào
thăm lại cái quán giữa đồng mà đôi vợ chồng son đã có lần cùng ngồi
trò chuyện.
Nghĩ đến chồng, nghĩ đến Đảng, nghĩ đến Nước, cái
thiên tính muốn sống với cái ý định phải chết đã giao tranh kịch
liệt! Sự giao tranh ấy đã làm cho chị bơ phờ mỏi mệt. Cái quyết
tâm đến với cái mỏi mệt ấy, bước ra ngoài quán, chị cầm súng tự
bắn vào thái dương bên phải một phát, rồi ngã vật xuống, súng quăng
ra một bên.
Khi ấy chị đã có mang mấy tháng. Tên tri phủ Vĩnh Tường trình tỉnh
khám qua, rồi báo về Hà Nội cho mật thám đem thầy thuốc lên khám
lại. Do cái tên ký “Nguyễn Thái Học phu nhân”, chúng biết là chị.
Vì bởi biết là chị, nên chúng tìm cách trả thù ở cái xác chết: sau
khi lột quần áo ra khám rồi, chúng không hề mặc trả lại. Và còn
để thi hài bộc lộ dưới ánh nắng, dưới nước mưa, dưới sự bâu hút
của ruồi, nhặng, đến hai, ba hôm, rồi mới cho mai táng!
Hai bức thư của chị như sau này:
Bức thư thứ nhất:
“Ngày 17 tháng 6, 1930
Thưa Thầy, Mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh đã bó buộc con: không báo thù được cho
nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch
dâng cho chồng con ở đền Hùng, giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ,
mượn phát súng này mà kết liễu đời con!
Đứa con dâu thất hiếu kính lạy.”
Bức thư thứ hai:
“Anh đã là người yêu nước!
Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước, Anh giữ lấy tấm linh hồn
cao cả để về mà chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng!
Phải chịu đựng nhục nhã, mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn
đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy
đồng bào đau khổ!
Thơ:
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào
Gian nan bỏ mặcđồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên!
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!
Quốc kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ bước sa cơ!
Chết sầu, chết thảm, có thừa xót xa!
Thế ru? Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?”
Đọc bức thư thứ hai, đủ rõ tâm trạng chị Giang khi
ấy như thế nào? Chết theo nước? Chết theo chồng? Ở trong cái trí
nghĩ mê man vì đau đớn bấy giờ, các sự vật có lẽ đều biến chuyển,
mê ly, không còn có giới hạn rõ ràng nữa. Dù vậy, cho đến phút cuối
cùng, lòng chị vẫn không nhãng quên cái bổn phận làm dân đối với
đồng bào, làm con đối với cha, mẹ! Và vẫn kỳ vọng ở các đồng chí
chết sau vì chị mà trả hộ thù nhà, rửa xong nhục nước!
Tấm lòng trách nhiệm ấy là một các đặc sắc chung
của người phương Đông chúng ta, bất cứ ở địa vị nào.
<<
>>
|