Thổ Tang
Thổ Tang là một xã lớn của huyện vĩnh
tường tỉnh Vĩnh Phúc. Phía bắc tiếp giáp xã Tân Tiến; phía đông
bắc giáp xã Đại Đồng; phía nam giáp xã Thượng Trưng; phía tây giáp
xã Lũng Hòa; phía tây nam giáp xã Tân Cương; phía đông giáp xã Vĩnh
Sơn. Hiện nay, địa bàn hành chính xã gồm 6 khu: khu 1, khu 2, khu
3, khu 4, khu 5, khu 6. Toàn xã có tổng diện tích đất canh tác là
358 ha. Dân số tính đến năm 2000 có 13.310 khẩu, trong đó nam 6.506,
nữ 6.804, có 2.793 hộ gia đình, trong đó 2.714 hộ hoạt động sản
xuất nông nghiệp, 172 hộ phi nông nghiệp và 81 hộ là công nhân viên
chức.
Đình Thổ Tang
Thổ Tang nằm cách quốc lộ số 2 khổng 3 km, có tỉnh
lộ 304 chạy qua trung tâm xã, có huyện lộ chạy qua nối Thổ Tang
với huyện Yên Lạc và huyện Bình Xuyên, có dòng sông Phan chảy qua
từ bao đời nay phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ở vị trí như vậy, Thổ
Tang có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hóa,
phát triển kinh tế, văn hóa xã hội rộng rãi với nhiều nơi trong
tỉnh và các vùng lân cận.
Thổ Tang là đất cổ xưa của vùng trung du miền Bắc
Việt Nam, có lịch sử lâu đời trong quá trình hình thành và phát
triển của dân tộc Việt Nam. Những hiện vật như bôn, đục, mảnh gốm
... tìm thấy trong những cuộc khai quật khảo cổ học ở di chỉ Đồng
Đậu, xã Minh Tân, huyện Yên Lạc (cách Thổ Tang 8 km), di chỉ Lũng
Hòa (cách 2 km), đặc biệt là di chỉ Ma Cả nằm trên địa bàn Thổ Tang
khai quật năm 1978 đã khẳng định Thổ Tang cũng là một trong những
điểm cư trú làm ăn sinh sống của các cư dân người Việt cổ, cách
chúng ta ngày nay khoảng trên dưới 3.500 năm, vào nửa đầu thiên
niên kỷ thứ hai trước công nguyên, thuộc thời kỳ vành đai văn hóa
Phùng Nguyên.
Cùng với những biến cố của lịch sử, xã Thổ Tang
cũng có những thay đổi về địa vực hành chính và tên gọi khác nhau.
Trong thời phong kiến tự chủ, Thổ Tang còn có tên gọi là Địa Tang,
Làng Giang hay Kẻ Giang. Địa Tang vốn thuộc đất Phong Châu thừa
hóa quận, dưới triều đại nhà Trần nằm trong châu Tam Đới, lộ Đông
Đô, đến triều đại nhà Lê thuộc phủ Tam Đái, chấn Sơn Tây, đến nhà
Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 2 1821) Thổ Tang thuộc về phủ Tam Đa,
sang năm thứ 3 (1822) thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây. Sau khi
thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam, để thuận tiện cho việc
cai trị của chúng, ngày 29 tháng 12 năm 1899 toàn quyền Đông Dương
quyết địng thành lập tỉnh Vĩnh Yên, lúc này phủ Vĩnh Tường là một
đơn vị độc lập, có 8 tổng, với 78 làng.
Thổ Tang nằm trong tổng Lương Điền gồm các làng:
Thổ Tang, Phương Viên, Đông Viên, Lạc Trung, Lương Điền, Lương TRù,
Phong Doanh, Sơn Tang, Vân Ổ, Xuân Húc. Lỵ sở phủ Vĩnh Tường trước
kia đặt ở Văn Trưng (tổng kiên cường), năm 1831 dời đến địa phận
3 làng Bồ Điền, Huy Ngạc và Yên Nhiên (tổng Thượng Trưng), đến năm
1914 phủ lỵ dời đến Thổ Tang (tổng Lương Điền), địa điểm là khu
Ủy ban Nhân dân xã ngày nay.
Quá trình hình thành nên một xã Thổ
Tang sầm uất như ngày nay, được bắt đầu từ “Giai đoạn Ma Cả”, những
người đến khai hoang làm ăn sinh sống đầu tiên ở ven bờ sông Phan,
trải qua nhiều năm phát triển họ đã sử dụng các công cụ thô sơ đồ
đá để phục vụ lao động sản xuất, duy trì cuộc sống hàng ngày. Về
sau dần dần họ thiên di định canh định cư ở xóm Cả (khu Đông ngày
nay). Đến thế kỷ thứ X, đất nước diễn ra nạn cát cứ của mười hai
sứ quân (965 – 967), các thế lực phong kiến địa phương mỗi người
cát cứ một nơi. Để củng cố và phát triển thế lực, thủ lĩnh Nguyễn
Khoan, lúc bấy giờ hùng cứ suốt một dải từ Bạch Hạc qua Thổ Tang
đến huyện Yên Lạc, đã lệnh cho một số làng thuộc khu vực mình cai
quản phải di chuyển đến nơi khác, do đó cư dân Thổ Tang lúc đó phải
di chuyển ra cánh đồng Ma Trám lập thành làng mới. Tại đây dân làng
đã dựng lên ngôi đình đầu tiên, nay nơi đó chỉ còn lại dấu tích
gọi là bãi Nền Đình. Sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn cát cứ,
lập nên triều đình Đinh thống nhất, các làng thiên di trước được
lệnh trở về chỗ cũ, do đó dân cư sống ở cánh đồng Ma Trám đã quay
trở lại xóm Cả (khu Đông). Từ xóm Cả, làng Thổ Tang tiếp tục phát
triển mở rộng ra khu Đông, khu Bắc, khu Nam và Phương Viên ngày
nay.
Nếu xóm Cả khu Đông là nơi bắt đầu
hình thành làng xã thì sự hình thành khu Bắc là nơi mở đầu cho thời
kỳ phồn thịnh của xã Thổ Tang. Khu Bắc ra đời trong điều kiện kinh
tế công thương trao đổi hàng hóa giữa các vùng đã khá phát triển.
Do đó, các hoạt động công thương buôn bán lớn và nghề thủ công tằm
tơ canh cửu ở Thổ Tang được mở ra và phát triển mạnh mẽ theo hướng
Bắc, nên khu Bắc đã sơm trở thành một khu dân cư trù mật, sầm uất
nhất. Vì vậy, ở đây còn được người dân gọi là phố Thổ Tang. Phố
Thổ Tang đất chật, người đông, nhà cửa san sát, đường ngõ hầu hết
được xây lát bằng gạch.
Lúc mới hình thành, phố chỉ có 4, 5
hàng quán, hiệu tạp hóa, bán hàng tơ lụa, hiệu may ... Từ năm 1914
khi trụ sở Phủ lỵ Vĩnh Tường đóng ở đây, khu Bắc càng trở nên đông
đúc, nhộn nhịp hơn, trở thành trung tâm kinh tế - chính trị của
cả một vùng rộng gồm cả toàn phủ Vĩnh Tường và huyện Bạch Hạc xưa
kia.
Trong khi khu Bắc hình thành chủ yếu do nhu cầu phát
triển công thương thì khu Nam và Phương Viên lại phát triển chủ
yếu theo hướng sản xuất nông nghiệp. Hai khu này ra đời vào khoảng
cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, ngày nay những nơi này vừa phát
triển kinh tế công thương buôn bán vừa phát triển kinh tế nông nghiệp
trồng trọt và chăn nuôi kết hợp.
Khu Đông được hình thành gồm các xóm: xóm Cả, xóm
Ụp, xóm Đông, xóm Lá, xóm Hoa Sen, xóm Cổng Ải. Khu Bắc còn gọi
là Tứ Xóm, do 4 xóm nhỏ hợp thành là xóm Tự, xóm Hóc, xóm Ngói,
xóm Trà. Khu Nam còn gọi là xóm Mới hay Tam Lâm, do 3 xóm nhỏ hợp
thành là xóm Lâm Trung, Lâm Thị và Lâm Miếu. Cách đây khoảng hơn
hai thế kỷ, khu Nam còn là một nơi rừng rậm, có nhiều thú dữ, một
bộ phận cư dân khu Bắc đã đến sinh sống tiến hành khai khẩn, chinh
phục thiên nhiên, từng bước biến đồng hoang cây cỏ thành những cánh
đồng màu mỡ tươi tốt như ngày nay. Thôn Phương Viên cũng ra đời
cùng thời gian mở đất khu Nam. Buổi đầu tiến hành khai phá đất Phương
Viên chỉ có 7 suất đinh, sau đó đất đai ở đây trở thành đất đai
của một số gia tộc lớn trong làng, ngày nay Phương Viên đang phát
triển nhanh chóng, trở thành khu giàu có, sầm uất của Thổ Tang.
Đình Thổ Tang (Đình Quang) và đình số 2 (đình Phương
Viên) ngày nay đều là nơi thờ cúng Lân Hổ hầu đô thống Đại vương,
một vị tướng đã giúp vua Trần Nhân Thông đánh tan giặc Nguyên Mông
xâm lược ở thế kỷ XIII.
Nhưng từ khi sáp nhập hai làng Thổ Tang và Phương
Viên thành một xã thì những cổ vật của đình Phương Viên được đưa
vào đình Thổ Tang, do đó mọi hoạt động cúng tế của nhân dân trong
những dịp lễ hội hàng năm chủ yếu diễn ra ở đình Thổ Tang.Đình Phương
Viên được xây dựng năm Quý Tỵ, nhưng không rõ niên hiệu thời vua
nào, thế kỷ bao nhiêu.
Ngày nay đình vẫn được trùng tu, sửa chữa, hàng năm
vẫn diễn ra các hoạt động cúng tế cùng với đình Thổ Tang, nhưng
những hoạt động đó đơn giản hơn đình Thổ Tang. Đình Thổ Tang được
xây dựng vào thế kỷ XVII, thuộc hệ kiến trúc đình làng thời Hậu
Lê, đình đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng vẫn mang dáng dấp
cổ kính nhất trong các ngôi đình hiện còn ở Vĩnh Phúc.
Đình hiện còn 21 bức chạm bằng gỗ và nhiều cổ vật
quý giá khác, những bức chạm trổ điêu khắc nổi tiếng ở đình đó là:
cảnh đi cày, chăn trâu, đánh ghen, vũ nữ cưỡi rồng, vợ chồng lười,
cảnh con mọn, cảnh nghỉ ngơi sau giờ lao động, cảnh đá cầu, đấu
vật, múa, bắn hổ, đánh cờ uống rượu ... thể hiện nghệ thuật chạm
trổ tinh vi, bàn tay khéo léo đạt đến trình độ điêu luyện tài ba
của các nghệ nhân xưa. Những hình ảnh đó đã mô tả sinh động sâu
sắc cuộc sống làm ăn và sinh hoạt của người dân trong xã hội phong
kiến.
Toàn bộ kiến trúc và các bức chạm trổ điêu khắc của
đình Thổ Tang đã được đưa vào lịch sử văn hóa nước nhà như là những
điển hình của nền nghệ thuật kiến trúc chạm trổ dân tộc Việt Nam
thế kỷ XVII. Nhiều bức chạm tiêu biểu đã được đông đảo các nhà nghiên
cứu trong nước và nước ngoài biết đến, qua đó như là một bức thông
điệp giới thiệu về nền văn hóa nghệ thuật cổ Việt Nam nói chung,
về làng xã Thổ Tang nói riêng. Với giá trị kiến trúc cổ kính đặc
sắc, ngôi đình luôn được tu sửa, giữ gìn vững chắc.
Cùng với những nét đẹp trong truyền thống văn hóa
nghệ thuật, trong thời kỳ phong kiến tự chủ, Thổ Tang đã có người
đỗ bậc đại khoa, danh hiệu tiến sĩ. Theo tác giả Lê Kim Thuyên –
nhà nghiên cứu văn hóa, căn cứ vào sách Đăng Khoa Lục đã viết: “Hạ
Cảnh Đức, sinh năm 1436, người xã Địa Tang – nay là xã Thổ Tang
(tục danh làng Giang hay kẻ Giang), huyện Vĩnh Tường. Tổ tiên vốn
họ Nguyễn, khi rời về xã Sơn Tang đổi thành họ Hạ”. Theo đó họ Hạ
ở thôn Sơn Tang, xã Vĩnh Sơn ngày nay đều là di duệ của ông. Ông
đã đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi, đời vua Lê
Thánh Tông (1463), năm ấy ông mới 28 tuổi, sau đó làm quan tới chức
Đô cấp sự trung ở Hình Khoa.
|