Tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh nhỏ với diện tích 900 cây số
vuông; phía Bắc giáp Bắc Ninh, phía Đông giáp Hải Dương, phía Nam
giáp Thái Bình và Hà Nam, phía Tây giáp Hà Đông. Hưng Yên là miền
đồng bằng, không có rừng núi.
Tỉnh lỵ Hưng Yên cách thành phố Hà Nội 64 cây số
về hướng Đông-Nam.
Dù ở xa biển nhưng Hưng Yên có nhiều sông rạch. Bốn
sông chính là: Sông Hồng Hà ở phía Tây, phân ranh giới với tỉnh
Hà Nam; sông Luộc ở phía Nam, phân ranh giới với tỉnh Thái Bình;
sông Đào và sông Cửu Yên ở phía Đông, phân ranh giới với tỉnh Hải
Dương.

Tỉnh Hưng Yên
Ngoài ra, sông Hoan Ái chảy ở giữa tỉnh đã cùng với
sông Cửu Yên chia các sông rạch thành ba vùng riêng biệt: Vùng đất
cao gồm các huyện Mỹ Hào, Văn Lâm và Yên Mỹ. Vùng trung bình gồm
các huyện Khoái Châu, Kim Động và Ân Thi. Vùng đất thấp gồm hai
huyện Tiên Lữ và Phù Cừ.
Khí hậu Hưng Yên giống Hà Nội, có hai mùa rõ rệt.
Mùa nóng từ tháng Năm đến tháng Chín, mùa lạnh bắt đầu từ tháng
Mười Một đến tháng Ba. Nhiệt độ trung bình khoảng 23 độ bách phân.
Tháng nào cũng mưa, nhiều nhất từ tháng Năm đến tháng Tám. Quốc
lộ 5 và liên tỉnh lộ 39 nối liền Hưng Yên với các tỉnh khác.
Dân Cư - Kinh Tế
Đồng bào trong tỉnh là người Kinh, theo đạo Phật,
Thiên Chúa và thờ phụng Tổ tiên. Ruộng lúa Hưng Yên rất tốt vì đồng
bằng do đất phù sa bồi lên. Các hoa màu phụ là mía, ngô, khoai,
lạc, rau và một số loại đậu khác. Mía trong tỉnh được trồng nhiều
ở các vùng Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ. Sông ngòi Hưng Yên
nhiều nên ngành đánh cá khá phát triển, dân chúng nuôi thêm cá nước
ngọt ở các ao, hồ, đầm. Khoáng sản và lâm nghiệp không có gì để
khai thác.
Kinh tế và thương mại chỉ tập trung vào việc buôn
bán thóc, ngô và cá. Đặc biệt ở vùng Bần Yên Nhân có tương Bần rất
ngon. Nhãn lồng ở phố Hiến và táo Thiện Phiến ở Phù Cừ, Tiên Lữ
nổi tiếng khắp nơi. Nhãn Hưng Yên ngon nên được dùng để dâng lên
vua thời xưa, gọi là nhãn tiến.
Di Tích - Thắng Cảnh
Hưng Yên có những di tích và thắng cảnh như sau:
Đền thờ ông Tam Giang: Thuộc huyện Bần Yên Nhân,
ông là một vị tướng giỏi của Hai Bà Trưng.
Chùa Thái Lạc: Cách huyện lỵ Bần Yên Nhân một cây
số về hướng Tây-Bắc, xây bằng gạch hoa đời Trần và bên trong có
những tác phẩm chạm trổ rất đẹp. Chùa Lạng: Ở làng Hương Lãng, còn
vết tích ngôi chùa xây từ đời Lý, chùa còn nhiều tượng làm bằng
đá rất đẹp, có tượng làm hình con cá sấu khá lớn.
Đền Phạm Công Trứ: Sử gia đời Lê Thần Tông (1628),
có công soạn bộ Đại Việt Sử Ký tục biên. Dân chúng lập đền thờ tại
nơi sinh quán của ông, làng Liêu Xá, huyện Yên Mỹ.
Miếu "Ả Đào": Tại làng Đào Xá, huyện Ân
Thi. Trong thời kháng Minh của anh hùng Lê Lợi, có người con gái
tên Kim Oanh nhan sắc và hát hay, thường phục rượu quân Tàu rồi
đem giết. Khi bà mất, dân chúng lập mộ tại Đào Xá và vua Lê Thái
Tổ cho lập miếu "Ả Đào" để xiển dương tinh thần yêu nước
của bà. Sau này, người ta tôn bà là Tổ của nghề ca hát.
Đền Bà Đường Thái Hậu: Ở làng Mậu Dương, ngay tỉnh
lỵ Hưng Yên, gần sông Phú Lương. Sau này biển lui dần, đất liền
lan rộng ra, một phần sông Phú Lương biến thành hồ bán nguyệt, nước
trong xanh nằm dưới chân đền.
Đền thờ Chử Đồng Tử: Thuộc làng Đa Hòa, phủ Khoái
Châu. Theo truyền thuyết, Chử Đồng Tử là con nhà nghèo, lấy công
chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng Vương thứ 18 và cả hai đều tu tiên
đắc đạo.
Chùa Chuông: Ở làng Nhân Dục, cách tỉnh lỵ Hưng Yên
hai cây số. Trong chùa có nhiều tượng gỗ mô tả cảnh tượng những
hình phạt dưới thập điện Diêm Vương. Di tích Phố Hiến: Du khách
có đến xã Nhân Dục, huyện Kim Động sẽ thấy một bãi cát bồi rất rộng,
lác đác mấy tòa miếu cổ với những tấm bia chữ đã mờ rêu và đây đó
vài ngôi cổ mộ.
Đây là di tích của một chốn thị tứ đông đúc mà dân
ta trước đây quen gọi là Phố Hiến. Vào đời Lê Thế Tông, niên hiệu
Quang Hưng (1578-1599), khi tỉnh Hải Hưng có tên là trấn Sơn Nam,
chúa Trịnh cho mở cảng ở Phố Hiến làm nơi thông thương với người
ngoại quốc.
Luật lệ thời đó đặt cho các nước khác phải đóng thuế
tùy theo số hàng mang đến nếu muốn vào Bắc Hà buôn bán. Sau năm
1637, người Hòa Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật, Xiêm
La, Mã lai vào buôn bán rất đông. Riêng Bồ Đào Nha chú trong việc
truyền giáo nhiều hơn. Nhưng từ năm 1696, đời vua Lê Hy Tông, đã
ngăn cấm việc truyền giáo nên gây khó dễ việc buôn bán, làm cho
dân buôn bán ngoại quốc bỏ đi rất nhiều, thêm vào đó là việc nhà
vua ra lệnh trục xuất hết người Hòa lan. Chỉ còn một số người Hoa
và Nhật buôn bán ở hai khu Bắc Hòa và Nam Hòa. Từ đó, Phố Hiến vắng
dần và sự biến đổi của xã hội đã xóa nhòa chốn buôn bán sầm uất
này.
Đất Hưng Yên cũng là quê quán của nhiều người tài
giỏi, góp công rất lớn trong việc giữ nước và xây dựng đất nước
qua nhiều lãnh vực:
Huyện Ân Thi, làng Thổ Hoàng: Anh hùng Nguyễn Trung
Ngạn, danh sĩ đời Trần, cũng có tài chính trị và giỏi biện luận,
tác giả tập thơ Giới Hiên thi tập; ông còn là một tướng giỏi từng
đi chinh chiến đánh dẹp loạn Ai Lao. Huyện Yên Mỹ, làng Liêu Xá:
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, một danh y và bác học về y khoa
thời Lê mạt, tác giả bộ sách giá trị Lãn Ông Y Tập, gồm 66 cuốn.
Huyện Khoái Châu, làng Phú Thị: Dương Bá Trạc, nhà cách mạng chống
thực dân Pháp, cùng với các anh hùng Lương Văn Can, Nguyễn Quyền,
Đỗ Chân Thiết, Lương Trúc Đàm...lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục
để mở mang dân trí, truyền bá tư tưởng đấu tranh cứu nước. Đây cũng
là quê Chu Mạnh Trinh, danh sĩ đời vua Thành Thái, tác giả các bài
văn thơ và ca trù quốc âm Hương Sơn Phong Cảnh, Hương Sơn Nhật Trình,
Thanh Tâm Tài Nhân thi tập. Hưng Yên còn là quê hương của anh hùng
Phó Đức Chính, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng (1).
Nguồn: tuikhon.com
(1) chú thích của ban lịch sử NTHF |