Tỉnh Hà Đông

 

Hà Đông là một tỉnh lớn và đông dân trong vùng châu thổ sông Hồng, với diện tích 1.700 cây số vuông, phía Bắc giáp tỉnh Phúc Yên, phía Đông giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Hưng Yên, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây giáp hai tỉnh Hòa Bình và Sơn Tây. Tỉnh lỵ Hà Đông cách Hà Nội 11 cây số về phía Tây Nam.

 

 

 

Đất Hà Đông phần lớn là đồng bằng do phù sa bồi đắp lên. Phía Tây Nam thuộc huyện Mỹ Đức mới có đồi núi, những đồi núi này đều ở mạn Hắc Giang chạy xuống. Những sông chính trong tỉnh là Hồng Hà, Mân Giang (còn gọi là sông Giẻ) và sông Đáy. Sông Hồng Hà ngăn cách Hà Đông với Phúc Yên, sông Đáy ngăn cách Hà Đông với Sơn Tây, sông Mân Giang ngăn cách Hà Đông với Hà Nam. Trong tỉnh có nhiều rạch nhỏ chảy dồn vào sông Nhuệ Giang đi ngang qua tỉnh lỵ Hà Đông, huyện Thường Tín, huyện Phú Xuân, rồi có nhiệm vụ quan trọng là tập trung nước đổ vào sông Phủ Lý ở địa phận tỉnh Hà Nam. Hà Đông có khí hậu trong lành, ngoại trừ miền đồi núi huyện Mỹ Đức. Hai quốc lộ 1, 6 và liên tỉnh lộ 11 là những đường giao thông quan trọng nối liền Hà Đông với các tỉnh khác.

 

Dân Cư - Kinh Tế

 

Đồng bào ta đa số là người Kinh, nhưng vẫn có một số người Mường ở phủ Mỹ Đức. Dân chúng phần lớn theo đạo Phật, rồi đến đạo Thiên Chúa. Trước đây, vào ngày 10 tháng Giêng hàng năm, dân chúng khắp nơi kéo về chùa Hương, xã Yên Vĩ, để lễ Phật và thăm cảnh chùa. Ngoài ra, hai làng Đắc Sở và Tân Sở thuộc huyện Thanh Oai đều có đền thờ ông Lý Phục Man, một danh tướng dưới thời anh hùng Lý Bôn, và hàng năm đều tổ chức hội tế lễ rất trọng thề, từ làng này đến làng kia.

 

Hoa màu chính của Hà Đông là lúa; các hoa màu phụ là ngô, khoai, rau và các loại đậu. Rau thơm làng Láng ai cũng biết. Một số cây kỹ nghệ gồm có thầu dầu, dừa, mía, dâu nuôi tằm, cà phê và trà. Dân chúng cũng trồng các loại cây ăn trái: Làng Yên Sở trồng nhiều dừa, làng Canh có loại cam đường rất ngon; làng Quang trồng trái vải cùi dày, hột nhỏ, ngày xưa dùng để tiến vua.

 

Hà Đông có nhiều đầm lớn nuôi cá, cá rô đầm Sét rất nổi tiếng. Khoáng sản ở Hà Đông không quan trọng, chỉ toàn mỏ nhỏ. Dân chúng trong tỉnh làm nhiều ngành nghề, nhất là về tiểu công nghệ, lại tiện lợi về giao thông nên kinh tế và thương mại của Hà Đông tương đối dễ sống. Làng Thanh Trì có nghề làm bánh cuốn và bún rất ngon. Tơ lụa Hà Đông nổi danh và đã đi vào văn thơ Việt Nam.

 

Di Tích - Thắng Cảnh

 

Tỉnh Hà Đông có nhiều di tích và thắng cảnh nổi tiếng như:

 

Đền miếu thờ các anh hùng anh thư thời Trưng Vương: Thuộc các huyện Hoài Đức, Thanh Oai, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Đan Phượng và Từ Liêm ở gần sông Đáy (Hát Giang); dân chúng lập đền miếu thờ các anh hùng anh thư: Thi Sách, Quốc Công, Lương Lê, Cai Công, Cao Minh, Chiêu Nương, Nguyễn Hồng, Cao Tuấn, Cao Pháp, Nguyễn Tuyển, Chiêu Trưng, Đỗ Lý, Chu Tước, Đặng Cả, Đặng Hai, Đặng Ba, Đông Xã Đại Vương, Hải Diệu, Hồng Nương, Cung Báng, Lôi Chấn, Lý Ngọc Ba, Trình Nghiêm, Trình Liễu, Trình Diên, Trình Tiến, Trình Xuân, Nam Uyên, Đông Hải, Nhật Trực, Tràng Út, Nguyễn An, Nguyễn Nga, Phạm Thông, Phạm Nhu, Quách Lãng, Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương, Sa Lãng, Thiên Thân, Thiên Trăng, Trúc Sơn, Địa Tràng, Mộc Thân, Ba Giang, Trinh Thục Công Chúa, Vĩnh Gia Công Chúa, Vĩnh Hoa Công Chúa....

 

Chùa Hương Tích: Thường gọi là chùa Hương, một cảnh chùa đẹp nhất miền Bắc, thờ Phật Bà Quan Âm. Chùa ở núi Hương Tích, địa phận làng Yến Vĩ, huyện Mỹ Đức. Vua Lê Thánh Tông đã ban cho chùa Hương năm chữ "Nam Thiên Đệ Nhất Động". Năm 1686, có hai bà Chúa là Đào Thị Cư và Đào Thị Niêu đã cho sửa sang lại chùa. Đi thăm chùa Hương, dân chúng có thể đi bằng hai đường. Đường bộ sẽ qua huyện Thanh Oai, làng Vân Đình rồi đến Bến Đục. Sau đó sẽ qua sông và đi tới bến đò Suối, đi đò tới chùa Ngoài. Từ chùa Ngoài đi theo đường núi tới chùa Giải Oan, rồi tới chùa Trong (chùa Hang), đây là động Hương Tích. Nếu đi bằng đường thủy sẽ theo sông Đáy từ Phủ Lý vào Bến Đục. Theo đường thủy này có thể thăm chùa Trình và chùa Tuyết, phong cảnh rất đẹp. Nhưng chùa đã bị phá hủy trong thời gian dân tộc ta kháng Pháp.

 

Chùa Trầm: Ở làng Long Châu, cách tỉnh lỵ Hà Đông 25 cây số, xây trên ngọn núi Tử Trầm. Địa thế chùa rất đẹp với các núi nhỏ chung quanh như núi Ninh Sơn, Đồng Lư, Tiên Lữ. Núi Tử Trầm có hang Long Tiên Động rất lớn và bàn thờ Phật bên trong. Ở đây có đường lên đỉnh núi gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu gọi là đường xuống Âm phủ. Gần đấy lại có chùa Vô Vi. Trước đây, chúa Trịnh phù Lê lập cung điện ở núi Tử Trầm.

 

Chùa Trăm Gian: Cách chùa Trầm 5 cây số thì đến núi Trúc Sơn, trên núi là chùa Trăm Gian (chùa Quang Nghiêm Tự) rất rộng rãi phong quang, phía sau có một cái trống và một cái khánh thật lớn. Chùa còn có tên là Tiên Lữ, xây vào năm 1.200, bên trong thờ Phật và thờ ông Lý An Bình. Ông người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, đi tu từ thuở nhỏ; lúc về già, ông xây chùa Tiên Lữ; sau đắc đạo, được vua Trần Thái Tông, vốn cũng là một bậc đại trí của Thiền tông, triệu về triều phong Phật hiệu là "Bồ Tát Chân Nhân".

 

Chùa Lộ: Ở làng Lộ thuộc huyện Thanh Trì, có đền thờ các bà về đẳng Chư Vị, phía dưới bến đậu thuyền, cảnh rất nên thơ. Bia và mộ Chu Văn An: Ở chùa Ngòi, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì. Đây cũng là quê quán của ông Chu An, bậc cao hiền đời Trần, tước Văn Trinh Công, tác giả các bộ sánh giá trị như Tứ Thư Thuyết Ước, Quốc Ngữ Thi, Thanh Trì Quang Liệt Chu Thị Dị Thư. Ông người đã dâng sớ xin vua Trần Dụ Tông chém bảy nịnh thần nhưng không được thuận bèn bỏ về cống hiến cuộc đời cho việc dạy học, được coi là một ông thày tiêu biểu của nhà Nho.

 

Ngoài ra, Hà Đông còn một số chùa cổ khác như: Chùa Thánh Chúa (làng Mai Dịch, huyện Từ Liêm), chùa Pháp Vân (làng Pháp Vân, huyện Thanh Trì); huyện Thường Tín có chùa Pháp Vũ (làng Tam Xá), xây từ đời Lý và chùa Đại Bi (làng Song Khê), làm từ đời Trần theo lối kiến trúc Việt Nam.

Đất Hà Đông sản sinh nhiều anh hùng anh thư dân tộc và nhiều người tài giỏi, góp công rất lớn trong việc phát triển đất nước qua nhiều lãnh vực:

Huyện Từ Liêm, làng Ô Diên: Anh hùng Tô Hiến Thành, nổi tiếng thanh liêm chính trực, tài kiêm văn võ, hết lòng phò vua giúp nước qua các triều Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông và Lý Cao Tông....

 

Huyện Thanh Trì, làng Tó (làng Tả Thanh Oai): Anh hùng Ngô Thì Nhậm. Ông là một bậc đại trí, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà ngoại giao lỗi lạc thời Tây Sơn, phò trợ Quang Trung Hoàng Đế rất đắc lực, đặc biệt về lãnh vực ngoại giao và chính trị. Ông giữ chức Thượng Thư Bộ Binh rồi Tổng Tài Quốc Sử Quán, trứ tác rất nhiều tác phẩm thơ văn, sưu khảo, lịch sử, thiền học và công văn chính trị như Nhị Thập Thất Sử toát yếu, Hải Đông chí lược, Bang Giao Hảo Thoại, Ngọc Đường Xuân Khiếu (thơ), Hào Mân Ai Lục, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh... và được Phật gia tôn là vị Tổ thứ tư giòng Thiền Trúc Lâm. Làng Khúc Thủy: Anh hùng Đặng Trần Nghiệp, một yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng; giặc Pháp phải treo giải thưởng rất cao để giết ông....

 

Huyện Thường Tín, làng Nhị Khê: Anh hùng Lương Văn Can, người có công lớn trong việc xây dựng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) để truyền bá tư tưởng cách mạng, nêu cao lòng ái quốc và tinh thần tự cường của dân tộc. Ông có năm người con trai và hai người con gái; trong số này, ba người con trai của ông là Lương Trúc Đàm, Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh và cô con gái thứ năm đều tham gia kháng chiến hết sức kiên trì; đặc biệt là anh hùng Lương Ngọc Quyến, người con trai thứ hai, một chiến sĩ của Việt Nam Quang Phục Hội đã cùng với anh hùng Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa ở Thái Nguyên. Làng Thịnh Hào: Anh hùng Đỗ Chân Thiết, người có công rất lớn trong việc kinh tài hỗ trợ cho Đông Kinh Nghĩa Thục; sau ông chuyển vũ khí về nước bị thực dân Pháp bắt mang ra xử tử cùng 17 chiến hữu khác, ngày 2.12.1914; ông có hai người con là Đỗ Bàng và Đỗ Thị Tâm đều chết vì nước. Anh thư Đỗ Thị Tâm là một chiến sĩ gan dạ thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng.... Huyện Ứng Hòa, làng Liên Bạt: Anh hùng Nguyễn Thượng Hiền (đỗ tiến sĩ, làm quan tới Án sát bỏ quan đi đánh giặc Pháp), cùng với anh hùng Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục Hội chống thực dân Pháp; ông còn dùng văn thơ như vũ khí, kêu gọi toàn dân kháng chiến và bài Gọi Hồn Nước là một điển hình....

 

Huyện Thanh Trì, làng Đình Công là quê ông Bùi Sương Trạch, lương thần triều vua Lê Thánh Tông, có nhiều công lao về kinh tế; con thứ hai của ông là Bùi Vinh (làng Thịnh Liệt), một nhà văn học lỗi lạc đời Mạc Đăng Doanh. Bùi Huy Bích, danh sĩ đời Lê Hiển Tông cũng là người làng Đình Công, tác giả Nghệ An thi tập, Tồn Am Văn Cảo, Lữ Trung tạp thuyết (2 quyển), Hoàng Văn thi tuyển 6 quyển. Xã Nhân Mục (làng Mọc) là quê ông Đặng Trần Côn, danh sĩ đời Lê, tác giả Chinh Phụ Ngâm, Bích Câu Kỳ Ngộ....

 

Huyện Thường Tín của Hà Đông là quê của ông Doãn Hành, Quốc Tử Giám Học Sĩ đời vua Lê Thái Tổ, tác giả Vân Biều tập; quê ông Nguyễn Vĩnh Tích, văn thần đời vua Lê Nhân Tông, tác giả Tiêu Sơn thi tập. Xã Triều Đông, quê ông Lý Tử Tấn, tác giả Hoàng Việt thi tuyển và Tuyết Trai văn tập. Làng Bình Vọng, quê ông Trần Công, làm quan đời vua Lê Nhân Tông, là Tổ nghề chế sơn và thếp vàng bạc ở nước ta....

 

Huyện Chương Mỹ có làng Chúc Lý, quê ông Ngô Sĩ Liên, sử gia đời vua Lê Thánh Tông, tác giả Đại Việt Sử Ký toàn thư. Xã Lương Xá, quê ông Đặng Thụy, danh sĩ đời vua Lê Hi Tông, tác giả tập thơ Trúc Ông Phụng Sứ; cũng là quê ông Trình Thanh, danh sĩ thời vua Lê Thánh Tông, tác giả Trúc Khê tập....

 

Huyện Thanh Oai, làng Bối Khê, quê ông Nguyễn Trực, văn thần đời vua Lê Thái Tôn và Lê Thánh Tông, tác giả bộ Vu Liêu tập. Huyện Hoàn Long (trước thuộc Hà Đông, sau nhập vào Hà Nội), làng Nghi Tàm, là quê Bà Huyện Thanh Quan, tác giả các bài nổi tiếng như Qua Đèo Ngang, Thăng Long Hoài Cổ, Cảnh Chiều Thu. Làng Thụy Khuê là quê ông Phan Kế Bính, học giả đời Nguyễn, tác giả Hưng Đạo Vương truyện, Nam Hải Dị Nhân liệt truyện, Viện Nam Phong Tục, Việt Hán văn khảo; dịch thuật các sách Việt Nam Khai Quốc Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, Đại Nam Liệt Truyện chính biên, Tam Quốc Chí, Chiến Quốc....

 

Huyện Hoài Đức có làng Đông Ngạc (làng Vẽ) nổi danh đàn ông anh hùng, đàn bà đảm đang khéo tay. Đây là quê ông Phan Phù Tiên, sử gia đời vua Lê Thái Tổ và Lê Nhân Tông, tác giả Đại Việt Sử Ký tục biên và Việt Âm thi tập (ghi lại sử từ đời vua Trần Thái Tông đến hết thời Minh thuộc và sưu tập thơ văn chữ Hán các đời Trần, Lê). Huyện Từ Liêm, làng Trèm, quê ông Lý Ông Trọng, người có thân hình to lớn và sức mạnh khác thường; Thục An Dương Vương đem ông cống cho Tần Thủy Hoàng, được Tần phong chức Hiệu Úy, bảo vệ biên cương phía Bắc của Trung Hoa chống rợ Hung Nô. Sau ông trở về nước rồi trốn vì không muốn làm tôi mọi cho Tần....

 

Huyện Hoàn Long, xã Thịnh Quang, tổng An Hạ, có Lê Hữu Cảnh, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. {1)

 

Hà Đông còn là quê quán Viên Thông Quốc Sư (làng Cổ Hiền), danh tăng và danh sĩ đời Lý Thần Tông, tác giả Viên Thông thi tập, Hồng Chung văn bi ký và bộ Tăng già tạp lục; quê ông Lê Công Hạnh, làm Thượng thư triều Lê, là Tổ nghề thợ thêu ở nước ta. Hà Đông là đất văn vật tiếp giáp với Hà Nội. Theo đà phát triển của các đô thị, Hà Đông sẽ là một phần phụ cận của Hà Nội, nhưng cũng vẫn giữ được những sắc thái truyền thống và có thể trở thành một trung tâm giáo dục lớn của nước ta sau này.

 

Nguồn: tuikhon.com

 

(1) chú thích của ban lịch sử NTHF