Tôn
giáo xác định bản sắc và khí chất của một dân tộc
Huỳnh
Thục Vy - Đại Học Luật
Luận
văn học bổng Nguyễn Thái Học 2010
Science
without religion is lame. Religion without science is blind
- Albert Einstein
Tôn giáo là một trong
những định chế xã hội lâu đời nhất của thế giới. Đó là phần giá
trị tinh thần to lớn, là cội nguồn văn hóa đã thấm nhuần trong đời
sống nhân loại từ thời cổ đại. Trong thế giới hiện đại ngày nay,
các tổ chức tôn giáo chính là các hội đoàn dân sự, một thành tố
tạo nên nền tảng cho một thể chế dân chủ.
Riêng đối với Việt Nam,
hiện nay có nhiều cộng đồng các tôn giáo khác nhau, nhưng Phật giáo
có số tín đồ đông nhất, có lẽ do đạo Phật là một đạo truyền thống
của người Việt. Phật giáo đã đi cùng dân tộc trải qua bao thăng
trầm của lịch sử, và cũng đã đóng góp nhiều thành tựu trong việc
xây dựng xã hội. Dấu son đậm nét nhất của Phật giáo chính là việc
tạo nên nền văn hóa Phật giáo và các thành tựu xã hội đáng ghi nhớ
trong hai triều đại cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam: hai
triều đại Lý và Trần.
Ở phương Đông nói chung và Việt Nam
nói riêng, hầu hết các quốc gia đều bước vào chế độ phong kiến với
những đặc điểm rất khác biệt với các nước phương Tây. Đó là việc
xây dựng kiểu nhà nước phong kiến tập quyền. Nhà vua có quyền lực
chính trị tối cao, nắm cả vận mệnh của cả một dân tộc. Vì vậy con
đường phát triển quốc gia như thế nào là tùy thuộc vào cái”trí”
của nhà vua và tầng lớp quan lại. Cuộc sống của người dân được ấm
no, được an cư lạc nghiệp hay không đều tùy thuộc vào cái ”tâm”
của người cai trị.
Triều đại nhà Lý ở nước ta bắt đầu
với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn, một vị hoàng đế xuất thân thiền
môn. Vì thế sau khi lên ngôi ông đã trọng đãi tăng ni, khuyến khích
và tạo điều kiện để Phật giáo phát triển trong cả nước. Sau khi
triều Lý sụp đổ 1225, triều đại nhà Trần bắt đầu và cũng tiếp tục
các chính sách cổ súy tinh thần Phật giáo như triều Lý. Ở hai triều
đại này, các hoàng đế, hoàng thân quốc thích và quan lại thường
sùng kính đạo Phật.
Lúc bấy giờ, tinh thần Phật giáo được
phổ biến và tôn trọng,có thể nói nó là “khuôn vàng thước ngọc” để
đánh giá phẩm hạnh và uy tín của một người, đặc biệt là những người
ở tầng lớp trên của xã hội. “Vô ngã” là giáo lý nền tảng của đạo
Phật. Nghĩa là không có cái “tôi” vĩnh hằng, bất biến, tồn tại độc
lập với các bản thể khác. Ở giác độ hẹp hơn đó là không có cá nhân
con người hay sự vật nào trong vũ trụ tồn tại mà không phụ thuộc
vào các cá nhân khác. Như vậy trong nhãn quan đạo Phật con người
không phân chia thành hoàng đế hay nô lệ vì hoàng đế cũng không
thể tồn tại được nếu không có thần dân. Và đó cũng chính là tinh
thần phóng khoáng (liberal) của đạo Phật.
Vì thế, lần lượt nhiều đời vua nối
tiếp nhau trong thời kỳ vàng son của cả hai triều đại trên, với
sự sùng bái đạo Phật, đã ban hành nhiều chính sách phóng khoáng.
Chẳng hạn như khuyến khích nông nghiệp (phân chia ruộng đất cho
dân cày, cấm giết mổ trâu để không ảnh hướng đên việc cày bừa),
giúp người dân được an cư lạc nghiệp; ban hành những đạo luật có
tính chất không quá khắc khe (Bộ luật Hình thư của triều Lý) nhưng
vẫn nghiêm minh và giữ được sự ổn định của nền luật pháp và chính
trị.
Tôi từng nghe kể rằng, sau lễ Hạ điền
tháng 2 năm 1038, vua Lý Thái Tông đã đích thân xuống ruộng cày,
năm đó mùa màng bội thu, dân chúng vô cùng phấn khởi. Chúng ta không
thể nói đây là hành động mang tính “chính trị” của nhà vua vì thực
ra ông không cần tranh thủ sự ủng hộ nào cả từ phía người dân như
trong thể chế dân chủ ngày nay, khi trong tay ông nắm cả quyền chính
trị và quân sự.
Chúng ta đã từng nghe nói trong lịch
sử các triều đại phong kiến, anh em, cha con trong hoàng gia giết
nhau để đoạt ngôi, mới biết cái sự cám dỗ của quyền lực thật khủng
khiếp. “Ngôi báu” là không thể chia sẻ. Thế nhưng vào thời nhà Trần,
nhiều vị hoàng đế nhường ngôi cho con khi còn rất trẻ, chia sẻ quyền
lực tối cao của mình để cùng con trị vị đất nước. Có vị còn từ bỏ
ngôi báu ấy để xuất gia học Phật như Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Đó là những tấm gương sống động về “trí” và “dũng” trong đạo Phật.
Còn người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người đã được dân Việt
ta phong thánh vì đã quên đi mối thù nhà sâu nặng để giúp vua thống
nhất hàng ngũ quan lại và tướng lĩnh trong triều, đoàn kết toàn
dân, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng
lợi. Tất cả chẳng phải là các minh chứng hùng hồn cho tinh thần
từ bi, vị tha của Đạo Phật sao?
Dưới hai thời Lý Trần, cả xã hội Việt
Nam thấm nhuần trong giáo lý của đạo Phật, con người chất phác thuần
hậu, ít tội ác, việc học hành, khoa cử được chú trọng. Các loại
hình văn học và nghệ thuật mang đậm phong cách Phật giáo được tôn
vinh và phát triển. Đó chính là một dấu son không bao giờ phai trong
lịch sử nước Đại Việt.
Nếu luật pháp là những quy tắc xử
sự, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và mang tính cưỡng chế thì
các giáo lý tôn giáo khác nhau là những chuẩn mực đạo đức, tinh
thần, mang tính tự nguyện, nhưng nó sẽ có một sức mạnh to lớn nếu
nó thực sự đi vào lòng người.
Nói một cách đơn giản, một người bình
thường không dám phạm tội vì sợ chịu trách nhiệm pháp lý. Còn một
người ngoan đạo không phạm tội vì anh ta cảm thấy nó vi phạm các
quy tắc tôn giáo và chuẩn mực niềm tin của mình, chứ chưa cần xét
đến trách nhiệm pháp lý.
Giáo lý tôn giáo đã tạo ra một rào
cản vô hình từ trong tâm thức của con người khỏi những hành vi tội
ác. Luật pháp trừng phạt những kẻ phạm tội còn giáo lý tôn giáo
khuyến khích người ta làm điều thiện. Nếu đem ra so sánh thì sự
”không phạm tội” và “hành thiện” vẫn cách nhau một khoảng khá xa.
Ngày nay, việc xây dựng một nhà nước
pháp trị được cổ vũ trên khắp thế giới tiến bộ, điều đó thực sự
cần thiết trong việc xây dựng một xã hội dân chủ tự do; nhưng bên
cạnh đó, tôi nghĩ rằng việc phát huy, cổ súy cho những niềm tin
tôn giáo tốt đẹp vẫn không kém phần quan trọng. Tôn giáo làm cho
cuộc sống tinh thần của con người thêm cao đẹp; ở trong đó, con
người tìm được những giá trị chân - thiện - mỹ đích thực trong cuộc
sống,và sự thanh thản trong tâm hồn. Giáo lý và đời sống sinh hoạt
tôn giáo là một nơi trú ngụ bình an cho tâm hồn con người trong
cuộc sống hiện đại bận rộn và nhiều sức ép này.
Nói rộng hơn, tôn giáo sẽ góp phần
tạo dựng một thế giới thiện lành và đầy tình người. Trong thế giới
hiện đại nhiều thành tựu và cũng có nhiều mặt trái, tôn giáo sẽ
là sự bồi đắp to lớn cho những thiếu hụt của nền văn minh hậu công
nghiệp. Xã hội càng hiện đại, tôn giáo càng cần thiết và cần được
phát huy hơn. Là một người trẻ, tôi luôn ủng hộ tinh thần khoa học
duy lý, nhưng khoa học duy lý không đồng nghĩa với sự vô thần. Như
Albert Einstein đã từng nói:
“Khoa học mà không có tôn giáo là
khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học là mù quáng”.
Không chỉ có A. Einstein, tôi được
biết nhiều nhà khoa học lớn trên thế giới, những con người một đời
đi tìm chân lý khoa học vẫn là những người ngoan đạo.
Tôi rất ấn tượng mỗi lần nhìn thấy
dòng chữ “In God we trust” trên đồng Mỹ kim và xúc động được biết
rằng tôn chỉ hành động được đề ra khi thành lập tập đoàn Google
của những người lãnh đạo tập đoàn này là “Don’t be evil”.
Tất cả những điều đó không phải là
những biểu hiện tường minh nhất của tinh thần Cơ đốc giáo sao? Dù
người ta chỉ “giao phó,” hay “tin cẩn vào Chúa” bằng miệng thì vẫn
còn tốt hơn là khi người ta công khai khẳng định mình không tin
vào bất cứ sự tồn tại nào của “ông Trời,” “Thượng Đế” hay bậc Thánh
thần nào cả. Vì như thế, ít ra cũng cho thấy họ hiểu được vai trò
quan trọng của tôn giáo đối với xã hội con người. Sự vô thần là
nguy hiểm vô cùng vì khi người ta không tin vào một bậc thiêng liêng
nào cả thì khả năng làm ác là không giới hạn.
Đạo đức tôn giáo là một trong những
giá trị định hình bản sắc và khí chất một dân tộc. Nên đạo đức,
tôn giáo mất thì dân tộc ấy cũng lụn bại. Là một người sinh ra và
lớn lên ở quốc nội, chứng kiến tất cả những đổi thay tiêu cực của
đất nước, tôi thật sự lo ngại. Vì thế tôi viết những dòng này để
chia sẻ những suy nghĩ tự lòng mình, vì rằng tôi là một Phật tử,
một người luôn mong cầu sự tự do tôn giáo cho mọi người dân Việt
Nam, cho sự hoằng dương kịp thời của Phật Pháp, cho sự phát huy
rộng khắp tinh thần bình đẳng và bác ái của Cơ Đốc giáo, để cứu
lấy cái xã hội Việt Nam đang ngày càng băng hoại những giá trị đạo
đức nền tảng vì bao nhiêu năm các giá trị truyền thống bị đè bẹp
bởi chủ thuyết Marx-Lenin vô thần và phi nhân bản.
Tam Kỳ tháng 3 năm 2010
|