Phó Đức Chính: thế hệ anh hùng của thế kỷ 20

Huỳnh Thục Vy - Đại Học Luật

Luận văn học bổng Nguyễn Thái Học

 

 

Mười hai năm học phổ thông nói chung và học quốc sử nói riêng dưới những mái trường xã hội chủ nghĩa, tôi cũng như những người trẻ khác ở Việt Nam hiện nay hầu như không biết gì nhiều về những người anh hùng dân tộc.

 

Thật xấu hổ, nhưng phải thú thật rằng tôi không hề biết Phó Đức Chính, Nguyễn Thị Giang, Đỗ thị Tâm… là ai cho đến khi vào thăm trang nhà của nguyenthaihocfoundation.org.

 

Đã có biết bao người con của dân tộc đã ngã xuống để bảo vệ nền Độc lập của dải non sông gấm vóc và sự thăng tiến của dân tộc này, vậy mà chúng tôi - những người thừa hưởng cái gia tài quý giá của tổ tiên - lại không hề biết đến những người đã hi sinh cả cuộc đời để gìn giữ nó nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, hoá ra chẳng phải chúng tôi là những kẻ bội ơn sao? Trách nhiệm này hoàn toàn thuộc về chúng tôi sao? Câu hỏi này dành lại cho những nhà nghiên cứu xã hội và các sử gia Việt Nam. Bởi vì trong giới hạn bài viết này tôi muốn nói đến một người anh hùng trẻ tuổi mà cuộc đời và sự hi sinh của ông đã làm tôi vô cùng xúc động. Người anh hùng trẻ tuổi ấy là Phó Đức Chính.

 

Phó Đức Chính sinh năm 1907 trong một gia đình nho học,tại làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông là con út trong gia đình có bốn anh chị em. Ông tốt nghiệp trường Công chính, và được bổ nhiệm sang Lào làm việc.

 

Tháng 12 năm 1927,Phó Đức Chính tham gia thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) mà Đảng trưởng là ông Nguyễn Thái Học, ông phụ trách công tác tổ chức và phát triển Đảng.

 

Từ ngày 9 tháng 12 năm 1928, Phó Đức Chính giữ chức phó chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng.


Lúc này Phó đức Chính khoảng hai mươi tuổi. Ở cái tuổi hai mươi,những niềm vui, sự “ưu tư” của chúng tôi cũng chỉ dừng lại ở thời trang, tình yêu, hay chuyện trường lớp, học hành. Chúng tôi vẫn chưa đủ trưởng thành để đưa ra những quyết định lớn trong cuộc sống của mình. Vậy mà người thanh niên ấy, cũng với các vị lãnh đạo khác của VNQDĐ, họ đã có một quyết định trọng đại trong cuộc đời, và hơn thế nữa còn có những quyết định và viễn kiến mang tầm vóc lớn lao, có liên quan đến sự tồn vong và thăng tiến của cả một dân tộc.

 

Các ông đã dấn thân vào con đường đấu tranh bằng vũ lực nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự lệ thuộc thực dân Pháp, và tiến vào con đường dân chủ con đường mà cả nhân loại tiến bộ ngày nay đã lựa chọn và thành công.

 

Sau cuộc ám sát tên trùm mộ phu khét tiếng Bazin, VNQD đảng bị khủng bố khắp nơi. Phó đức Chính bị bắt ở Lào, bị kết án tù treo, bị bãi chức Tham tá công chính vì thực dân Pháp không có đủ chứng cớ để buộc tội ông.

 

Sau khi được tả tư do,ông tiếp tục dấn thân vào con đường Cách Mạng. Ông về Thanh Hoá trả những kỉ vật cho vị hôn thê là cô Thắm. Cũng như hầu hết các đảng viên VNQDĐ, Phó đức Chính nhận thức rõ ràng rằng một khi đã lựa chọn con đường cách mạng chống Thực Dân Pháp - một kẻ thù với sức mạnh quân sự áp đảo so với lực lượng cách mạng còn non yếu - thì chính là lựa chọn cái chết bất cứ lúc nào. Lựa chọn con đường hiểm nguy ấy, Phó đức Chính đã từ bỏ công danh, từ bỏ cuộc sống bình an, và từ bỏ cả người phụ nữ của mình.

 

Là một người con gái, tôi thực sự xúc động khi đọc những dòng này về ông.

 

Đó là một người thanh niên còn trẻ tuổi nhưng thực sự trưởng thành, trưởng thành không những trong nhận thức chính trị mà cả sự trưởng thành trong cuộc sống.

 

Ngày 17 tháng 9 năm 1929,Tổng bộ VNQDĐ đã triệu tập Hội nghị tại Lạc Đạo bàn việc Tổng khởi nghĩa. Cuộc họp đã quyết định tổng khởi nghĩa với một câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học “Không thành công thì thành nhân”.

 

Tại cuộc họp Tổng bộ ở làng Võng La, Hạ Bì (Thanh Thủy, Phú Thọ) có kẻ dẫn lính Tây đến bao vây. Phó Đức Chính bị bắn một viên đạn vào ngực nhưng vẫn chạy thoát.


Vì không bắt được các vị lãnh đạo VNQDĐ, thực dân Pháp ra lệnh triệt hạ làng Võng La.


Ngày 26-1-1930, hội nghị đại biểu toàn quốc Việt Nam Quốc Dân Đảng họp tại làng Mỹ Xá, huyện Nam Sách (Hải Dương) đã quyết định tổng khởi nghĩa vào ngày 9/2/1930 vì tình hình thực dân Pháp đàn áp dữ dội.

 

Sáng sớm ngày 9 tháng 2 năm 1930, quân Cách mạng VNQDĐ đổ về Yên Bái. Phó Đức chính mặc quân phục, diễn thuyết và phân phát khí giới. Vì lực lượng quân Cách mạng quá yếu và có nội gián nên khởi nghĩa Yên Bái đã thất bại. Phó Đức Chính đã chiến đấu anh dũng. Cho đến chiều ngày 15 tháng 2 năm 1930, ông bị bắt cùng với Nguyễn Văn Khôi tại làng Nam An.

 

Tại phiên toà, sau khi bị kết án tử hình, được hỏi có chống án không, ông đã khẳng khái trả lời rằng: “Đời người ta làm có một việc, hỏng cả một việc, còn sống nữa mà làm gì”.

 

Phàm là con người đều có hai mặt: một là bản năng tư nhiên, mặt kia là sự xét đoán của lý trí. Ham sống sợ chết là bản năng tự nhiên của con người. Ấy thế mà Phó Đức Chính cùng với mười hai vị lãnh đạo VNQDĐ, họ đã đón nhận cái chết ấy trong sự bình thản và sáng suốt đến kinh ngạc.

 

Tình yêu Tổ quốc, tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc của họ thật to lớn, đến nỗi nó lấn át cái bản năng ham sống sợ chết. Đối với những người như ông, tất cả sinh lực và tâm huyết của cả một đời người chỉ nhằm cứu lấy cái đất nước và dân tộc đang nằm trong xiềng xích, chứ không phải để sống một cuộc sống tầm thường và hưởng thụ. Đó quả là điều phi thường mà không phải người nào cũng làm được.

 

Năm giờ sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930, thực dân Pháp áp giải 13 chiến sĩ VNQDĐ ra hành hình, trong đó có Phó đức Chính. Ông đã đòi được nằm ngửa để xem lưỡi dao máy chém rơi xuống. Ông chỉ kịp hô “Việt Nam vạn tuế” khi lưỡi dao rơi xuống. Lúc đó ông chưa tròn hai mươi bốn tuổi.

 

Trên thế giới này, tôi nghĩ hiếm có người nào dám nằm ngửa để nhìn lưỡi dao máy chém như ông. Hai mươi ba tuổi, làm sao người thanh niên ấy có thể can đảm phi thường như thế. Tôi tin chắc hành động này đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. Phó đức Chính lúc sống là người lãnh đạo tài giỏi, đến lúc ông chết cũng có thể dùng cái chết của mình để cổ vũ những người ở lại, tiếp thêm sức mạnh cho biết bao thanh niên yêu nước đương thời trong cuộc đấu tranh giành độc lập và dân chủ cho dân tộc.

 

Thật khó khăn cho tôi để tìm từ ngữ nói lên sự khâm phục tôi dành cho ông. Hành động này của ông mang một ý nghĩa biểu tượng vô cùng to lớn, nó đã thách thức chế độ thực dân Pháp rằng không thể dùng nhà tù, máy chém để khủng bố người dân Việt Nam vì điều đó sẽ không thể khuất phục nổi những trái tim Việt Nam yêu nước nồng nàn, những con người sẽ anh dũng chiến đấu cho nền Độc lập.

 

Biểu tượng ấy ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó, rằng cường quyền của những chế độ độc tài mãi mãi sẽ không bao giờ khuất phục được những người yêu nước chân chính, vì tình yêu nước, yêu tự do mãnh liệt sẽ vượt lên tất cả những sợ hãi gông cùm, bạo lực và cái chết.

 

Người thanh niên anh hùng Phó đức Chính cùng các đồng chí của ông đã ra đi trong sự tiếc thương của dân tộc, để lại một kế hoạch chính trị to lớn còn dở dang, có khả năng thay đổi hoàn toàn cục diện chính trị Việt Nam nửa sau thế kỷ 20. Nhưng tấm gương của các ông mãi mãi sáng chói để những người trẻ Việt Nam ngày nay nhìn lại chính mình, chiến thắng sự thờ ơ và những đam mê tầm thường để suy ngẫm về trách nhiệm của bản thân đối với tiền đồ dân tộc.

 

Việt Nam thế kỷ 21 đang đứng trước những vận hội và thứ thách to lớn, nhưng trong tôi luôn hiện hữu một niềm hi vọng chưa bao giờ dứt rằng chúng tôi, những người trẻ, những người nắm giữ tương lai dân tộc, những con cháu của các vị anh hùng sẽ không làm hổ danh người đi trước, sẽ có đủ tài năng và nhiệt huyết để tạo nên những thay đổi, để làm cho Tổ quốc Việt Nam ngày một phồn vinh và tốt đẹp hơn.

 

16.10.2010