Nguyễn Đăng Thạch

Đại Học Kiến Trúc

 

Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.

Khi tôi bắt đầu đi học, ba mẹ mua cho những quyển sách “Tiên học lễ”; trong đó kể những mẩu chuyện rất hay về lòng hiếu thảo, tình cảm với cha mẹ, công ơn thầy cô, nghĩa anh em tình bè bạn. Còn như cuốn “Quốc văn giáo khoa thư” cho lớp đồng ấu, lớp sơ đẳng răn dạy những bài học làm người, bổn phận công dân đối với gia tộc, học đường, bản thân và xã hội. Ba mẹ tôi cũng nói: Làm người phải có Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.

 

Hồi đó tôi chưa thật hiểu nhưng nhờ đọc sách, suy ngẫm việc đời và ngày mỗi lớn khôn thêm để tôi kịp nhận ra ý nghĩa của từng chữ mang những giá trị nhân văn rất sâu sắc.


Nhân: Hạt giống, lòng thương người. Người nào thật lòng thương người khác thì có thể làm tròn bổn phận mình trong xã hội. Vì vậy nhân không những chỉ đức tính riêng mà còn chỉ chung cho mọi đức tính, thành thử câu nói “người có nhân” cũng đồng nghĩa với người có mọi đức tính hoàn toàn. Nhân còn có thể hiểu là “toàn đức”.


Trong Đại Việt Sử Lược có chép: Trần Nhân Tôn là một vị vua khí khái và nhân đức. Khi giặc Nguyên Mông xâm lấn bờ cõi nước ta; đối diện với phong ba bão táp, ông vững vàng lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểm nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để tấm đến tình hình thương vong của quân dân. Khi giặc Mông Cổ với khí thế hung hãn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vì kém thế tạm rút chạy về Vạn Kiếp. Nhân Tôn nghe tin Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho mời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:


- Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân tình tàn hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân.


Hưng Đạo Vương tâu rằng:


- Lời bệ hạ thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi hãy hàng...


Vua Trần Nhân Tôn là vị vua chí nhân chí đức, nên sau khi đất nước sạch bóng quân thù, non sông ngàn thuở vững âu vàng ông nhường ngôi cho con Anh Tôn, khoác áo nâu sồng lên núi Yên Tử tu hành, mở ra dòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam.


Lễ: Cách bày tỏ kính ý, ôn hòa, nghiêm cẩn. Người giữ lễ đức tính khiêm nhu, nhún nhường, nghe nhiều hơn nói. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Ngày xưa trong quan hệ vua - tôi mà biết giữ lễ thì chính sự kỷ cương, phép nước vững bền; thầy - trò giữ nền đạo đức; quan hệ cha - con giữ nếp nhà hòa hiếu; vợ - chồng tương kính như tân (kính trọng như khách)...


Ngô Chuân là một trong Ngũ phụng tề phi của đất Quảng. Sau khi vào Đình thí ông đỗ Phó bảng, vua ban áo mão vinh quy. Về làng, nơi đầu tiên ông phải đến là chạy một mạch diện kiến tôn sư - người thầy cũ của mình ở làng Cẩm Sa, Điện Nam, Điện Bàn. Câu chuyện Ngô Chuân trọng lễ với bậc tôn sư đến nay người đời vẫn còn nhắc.


Nghĩa: Theo đường lối phải, đạo chính, việc nên làm. Nghĩa là phần “ta phải làm” bất kỳ hoàn cảnh nào. Đó là mệnh lệnh tối cao. Trong xã hội mọi người đều có những việc phải làm, làm vì nhiệm vụ, bởi điều ấy đáng phải làm về phương diện luân lý. Nếu làm nhiệm vụ vì lý do khác, không vì luân lý thì hành vi ta không hợp nghĩa dẫu ta có làm tròn bổn phận. Đối với nhà nho “Nghĩa” và “Lợi” là hai từ hoàn toàn đối lập nhau. Khổng Tử nói: Quân tử biết rõ về nghĩa; tiểu nhân biết rõ về lợi. Đấy là điều nho gia gọi là phân biệt “nghĩa và lợi”. Sự phân biệt này rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Thái sư Trần Quang Khải vốn có hiềm thù. Mặc dù trước lúc lâm chung cha có dặn: “Lấy được nước để báo thù”, nhưng vì đại cuộc và lúc bấy giờ vận mệnh nước nhà ngàn cân treo sợi tóc nên Trần Quốc Tuấn không bao giờ thực hiện mệnh lệnh của cha. Một ngày kia Chiêu Minh Trần Quang Khải đích thân đến thăm ông, thế là Chiêu Minh đã tạo được một cơ hội thật tốt để anh em thắt chặt tình hòa hiếu, phá tan mối hiềm nghi. Ông tự tay đi pha trà và hai người đàm đạo đến tận chiều. Bấy giờ ngày hè nóng nực, tính Quốc Tuấn thích xông tắm nên ông muốn rủ Quang Khải tắm luôn. Rồi tự tay ông cởi áo Quang Khải ra, múc nước thơm dội lên kỳ cọ như người anh tắm cho em. Câu chuyện này trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng: “Từ đấy hai người vui chơi với nhau, tình thân càng mặn”. Vì đại nghĩa gạt mối thù riêng mà các đại thần nhà Trần đã đồng tâm hiệp lực ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông mở nền thái bình thịnh vượng.


Trí: Hiểu rõ sự lý, thông minh sáng suốt. Trí soi xét, quang minh chính đại. Không vì danh lợi mà lóa mắt, đánh mất lương tri. Trí còn có khả năng tự biết, phân biệt chính tà. Bậc đại trí nhãn quan thường rộng và xét việc gì cũng đặt ích nước lợi dân lên hàng đầu.


Năm 938, trời đang tiết mưa dầm gió bấc. Đoàn quân Ngô Quyền hàng hàng lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến ra Bắc. Giữa lúc quân Nam Hán đang ngấp nghé bờ cõi thì đầu tên phản bội Kiều Công Tiễn bị bêu ngoài thành Đại La. Kế sách trừ nội phản, diệt ngoại xâm của Ngô Quyền mới thực thi được nửa chặng đường.


Vào thành, Ngô Quyền hợp các tướng tá, bàn rằng: Hoằng Thao là một đứa trẻ dại, từ xa đến, binh lính mỏi mệt, lại nghe tin Công Tiễn bị giết, không người làm nội ứng đã hồn tan lạc vía. Quân ta sức đương mạnh, chống với quân mỏi mệt, tất phá được.


Song chúng có lợi ở chiến thuyền, nếu ta không phòng trước thì chuyện thắng thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của chúng nhân lúc nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, thì bây giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy cả.


Trí phán đoán của Ngô Quyền sau này được sử gia Lê Văn Hưu ngợi ca: “Mưu trí giỏi mà đánh cũng giỏi”. Chỉ một trận địa cọc cửa sông Bạch Đằng, nhử địch vào lúc thủy triều lên và khi nước rút Ngô Quyền ra lệnh quay thuyền đánh thốc, quân Nam Hán bị tiêu diệt hoàn toàn.


Tín: Tin, niềm tin. Tin là chấp nhận một điều gì đó đúng sự thật. Con người sống trên đời cần phải biết giữ chữ tín. Tín là một cử chỉ cao đẹp để ta vươn tới. Trong thái độ ứng xử cũng như trong việc chọn lựa con đường đi cho cuộc đời mình, cần phân biệt thiện ác, thưởng phạt công minh, nhận xét đúng sai. Người đời thường vọng thờ cho người đàn ông bằng chữ Trung Tín. Như vậy Tín cũng rất cần thiết trong mọi hành động - là đức thứ năm của người quân tử trong nho học.


Đại Việt Sử Lược ghi: Trước đây, khi Tô Hiến Thành nằm trên giường bệnh, chỉ có quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Còn quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá, vì bận nhiều công việc nên không có thời gian rảnh rỗi để thăm nom Tô Hiến thành được. Khi bệnh tình đã đến hồi nguy kịch, bà Đỗ Thái hậu mới hỏi Tô Hiến Thành:


- Nếu có mệnh hệ nào thì ai thay ông được?
Hiến Thành đáp:
- Người mà bình nhật thần chỉ biết có Trung Tá thôi.
Thái hậu nói:
- Tán Đường ngày ngày hầu hạ thuốc thang cho ông, ông không nói tới là làm sao?
Hiến Thành đáp:
- Bệ hạ hỏi ai có thể thay thế cho thần nên thần mới nói đến Trung Tá, còn nếu bệ hạ hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thì phi Tán Đường ra thì còn ai nữa.


Việc Tô Hiến Thành nhận việc ký thác con côi đem hết lòng trung thành và khéo xử trí khi nước nhà binh biến tuy có lúc bị gió lay, sóng dập mà ông vẫn đứng vững như cột đá giữa dòng; đúng là bậc đại trí. Tiếc thay, sau khi ông qua đời Đỗ Thái hậu không nghe lời ông mà cử người khác là một tổn thất cho triều Lý thời đó vậy.


Ta thường nghe câu: Ai lòng nào mà chẳng nở. Ví như một hôm ta thấy đứa trẻ rơi xuống giếng mà bị chết, lòng ta rung niềm thương xót. Do đó ai không có lòng thương xót không phải là người; không có lòng hỗ thẹn không phải là người; không có lòng từ nhượng không phải là người; không có lòng phải trái không phải là người. Lòng thương xót là đầu mối của nhân, lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của lễ, lòng phải trái là đầu mối của trí. Đức Khổng nói bốn đầu mối (tứ đoan) liền lạc như tứ chi của con người vậy.


Đạo nho là một đạo bình thường giản dị, thuận lẽ tự nhiên của tạo hóa và hợp với tính tình của con người. Người mà thấm nhuần nho học thì nết na, ứng xử có phép tắc, luôn vì mọi người,tính cộng đồng cao và giàu lòng nhân ái. Tuy nhiên, ngày nay con người tư duy kinh tế đa dạng hơn, khoa học kỹ thuật tân kỳ hơn đã vô tình làm thay đổi toàn diện nhịp sống. Người người bon chen quay cuồng, công việc bộn bề tất bật, vì thế Khổng giáo tự suy vi và không còn thích hợp trong xã hội hiện đại. Khổng giáo phai tàn còn do nhu cầu kinh tế thúc bách nên con người phải làm ăn xa, nông dân phải rời lũy tre làng kéo lên thành phố kiếm sống, vào xưởng máy làm việc; đàn bà con gái phải bỏ buồng khuê góc bếp bước ra ngoài mưu sinh... Còn những người trẻ tuổi, lao theo nhịp sống sôi động, nhiều lúc có suy nghĩ thực dụng, quên đi chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên, ta vẫn có niềm tin vào cuộc đời, người tốt hiện hữu ở quanh ta.

 

Chuẩn mực đạo lý Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín luôn có giá trị trong đời sống. Vả lại bài học nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vẫn rạng ngời, khiến cho ta mơ ước về một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn trong quan hệ giữa người với người, giữa công dân với Tổ quốc.


Tiên học lễ nên bước suy nghĩ đầu tiên và đến giờ tôi vẫn ghi nhớ là bài học làm người Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Những điều ấy đã hun đúc trong tôi mạch nguồn quê hương, tình tự dân tộc và những lẽ sống ở đời.