Phát hiện lại Việt Nhân Ca
Đỗ Thành

 

"Việt Nhân Ca" có "Việt" là chử quang trọng Nhất, không tìm hiểu hết nghĩa của chử "Việt" và không hiểu hết thi-ca với dân ca của người Việt chính thức mang tên Việt ở nước Việt Nam ngày nay là 1 khuyết điễm lớn nhất.

 

Việt Nhân Ca qúa nổi tiếng! Sau khi Việt Nhân Ca được đưa vào phim và hát thì làm nỗi lên một phong trào tìm hiểu Việt Nhân Ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia : nghiên cứu Sử, nghiên cứu Bách Việt Sử, nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu âm nhạc cổ, nghiên cứu âm nhạc Việt cổ đại v v...; Việt Nhân Ca nỗi tiếng vì có thể nói là : Đó là 1 bài "thơ tình" Đầu tiên được ghi nhận bỡi lịch sữ, 1 bài "dân ca" xuất hiện sớm nhất trong dòng sử cổ xưa đã ghi nhận được 1 cách trọn vẹn,...Chuyện xảy ra trên nước Sở và cách xa thế kỷ 21 hiện giờ khoãn 2800năm. Ý nghĩa Giá trị và qúi giá cuả Việt Nhân Ca là vậy

 

I: Tóm tắt rỏ ràng về Bối cảnh ra đời của "Việt Nhân Ca" :

 

Lưu Hướng 刘向 là cháu 4 đời của Lưu Giao 刘交, Lưu Giao là em của Lưu Bang 刘邦 cao Tổ của Triều Hán . Lưu Hướng là tác giả cuả sách 《Thuyết Uyễn-说苑》; "Thuyết Uyễn" có chương kể chuyện xưa là "襄成君始封之日- Tương Thành Quân Thủy phong chi Nhật", Tương Thành Quân là Sở Tương Vương 楚襄王 tên hiệu là Hùng Hoành 熊橫 ..., Trong câu chuyện đó thì có nhắc đến "鄂君子皙-Ngạc Quân Tử Tićh" là vua Sở Hùng Ngạc 楚熊咢 ngày xưa dùng thuyền Dạo mát ngoạn cảnh thì có "Người" chèo thuyền hát bài Dân Ca Việt, Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là "Việt Nhân Ca". Xin trích "Thuyết Uyển" đễ dẫn chứng:

 

《Thuyết Uyễn-说苑》Chuyện kể...《 Tương Thành Quân thủy phong chi nhật-襄成君始封之日》: Dịch nghĩa...: Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong Quan Tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc-缟舄, đứng phía trên dòng nước, đại phu gỏ nhạc, đánh trống, Hiệu lệnh, Rằng "ai có thể đưa đưa bổn vương lên Đò?", Sở đại Phu Trang -Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng "thần nguyện nắm tay cuả Quân Vương, Có được không ?" Tương Thành Vương phẩn nộ, biến sắc và im lặng.

Trang - Tân mất mặt, phủi tay và nói rằng " Quân Vương không nghe qua chuyện Ngạc Quân Tử Tích-鄂君子皙 dạo thuyền trên làn sóng mới sao? trên thuyền Thanh Hàn-青翰, cấm cờ xí , khoác áo choàng đẹp, Trong tiếng chuông trống , người chèo thuyền là người Việt đã hát , lời hát là "Lạm hề biện thảo biện dư, xương Hoàn trạch dư xương châu châu, Thực thẩm châu châu yên hô tần tư tư, mạn dư hô chiêu, thẳn tần du sâm, đề tùy hà hồ

滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖 "

 

Ngạc Quân Tử Nói " Ta không hiểu Việt Ca, thử Cho ta hiều bằng tiếng Sở." thế là triệu cho người phiên dịch, bằng tiếng Sở nghiã là "Kim tịch hà tịch hề, khiên trung châu lưu, kim nhật hà nhật hề, đắc dĩ vương tử đồng Chu. mông tu bị hảo hề, bất hiềm cấu sĩ. tâm kỷ phiền nhi bất tuyệt hề, tri đắc vương tử. Sơn hửu mục hề mục hửu chi, tâm thuyết quân hề quân bất tri.-

 

今夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知.

 

"Thế là Ngạc Quân Tử Tích săn tay áo , đến ôm lấy, dùng mền thêu mà đấp lên. Ngạc Quân Tử Tích là em cùng mẹ với Sở Vương, Quan làm Lịnh-Doãn, tước vị cao sang, mà còn có thể cùng vui tận hết ý với người chèo Thuyền Việt. Nay thì sao Quân Vương lại do dự hơn Ngạc Quân Tử Tích, thần tại sao không bằng 1 người chèo thuyền, muốn nắm tay Quân vương , taị sao lại không được ?" Tương Thành Quân đưa tay ra bước tới, nói "ta từ nhỏ đã được người lớn khen đàng hoàn, chưa từng bất ngờ gập qua cảnh nầy. từ nay về sau xin nghe lời chỉ dạy của tiên sinh dậy."

 

II Việt Nhân Ca và "Mê hồn Trận"

 

"Dân Tộc Việt" ngày xưa có "Bách Việt" , Nhiều gịong Việt "địa Phương" là dĩ nhiên, (...ngày nay thì người Sài Gòn hay người Hà Nội chưa chắc nghe và hiểu được 1 người Huế nói tiếng Huế và rặc giọng huế !) 1 người Việt nào đó đã hát bài dân ca Việt theo 1 giọng địa phương trung -nam -bắc nào đó?, 1 người Việt khác lại "ký âm" ghi lại bằng tiếng Sở cho Ngạc Quân Tử Tićh và trở thành "Việt nhân Ca" trong lịch Sử, Bản thân của "bản gốc-ký âm Việt Nhân ca" đã là "tiếng Việt của Sở ngày Xưa" tương đương tiếng "thuần Việt" chúng ta dùng ngày nay...,

 

Lưu Hướng Dùng Nhả Ngữ ( Nhả ngữ=tiếng Việt "Văn-Ngôn-Văn : thịnh hành từ thời Khổng Tử...Gọi là Hán Văn thời nhà Hán tương đương tiếng Việt Ngữ vùng Quảng Đông ngày nay ) đễ mà giãi thích ý nghiã là " Kim tịch hà Tịch hề.....v v...",

 

Tam Sao thất bổn, và những ngộ nhận do ai đó gây ra...Thế là Từ đó , có sự lầm lẩn "Bản gốc của Việt Nhân ca" không phải là tiếng Sở! và cho rằng tiếng Sở ngày xưa là tiếng "Hoa"!!! ??? Và bây giờ người ta lại đi tìm mỏi con mắt và cho rằng "Việt Nhân Ca-Bản gốc" là tiếng "Choang" cuả người Choang (Tiếng Thái) ! ? ! ...

 

Sự "bình tỉnh" và "vô Tư" theo "tinh thần khoa học" của các chuyên gia ngôn ngử học đâu rồi ??? làm ơn xem lại lịch Sử đi ! Sở楚 là Shan楚 là Sơ-Tân -Lang 疋檳榔=疋木木=楚, là Văn -Lang , "Sở và Việt đồng tông đồng tộc", vua cuả Sở là những vị "Hùng Vương 熊王", quan cuả Sở gọi là Quan "Lang" ( gọi là 令尹Lịnh Doãn=Loan=Lang ), làm ơn vào các trang nhà của vùng Động Đình Hồ là tỉnh Hồ -Bắc và Hồ Nam ngày nay đễ mà nghiên cứu hay trực tiếp đi gập dân địa phương để hiểu về "Cổ ngữ" của Sở, đễ biết rỏ "sở" ngữ thì con ngổng gọi là "ngang" hay "ngo", ăn-2 là "ăn-hại", lá Cây trúc là "lá", tiểu nam nhi là "trai" hay "tsai", trương...ra gọi là "mở", và các từ ngữ khác như "phan", "bán mạng", "thấy" v v...đều là y như tiếng Việt của người Việt ở Việt Nam bây giờ,..cây "sáo" là nhạc cụ đễ thồi SÁO của người Việt thì "Tiếng -sở" vẫn gọi là "Sáo"... xin hảy tìm hiểu càng nhiều càng tốt và Hiểu rỏ "Cổ ngử của Sở" đễ biết rằng:

 

---bản gốc cuả "Việt nhân ca":


_滥兮抃草滥予 Lạm hề biện thảo lạm dư


_昌枑泽予昌州州 Xương hằng trạch dư xương châu châu


_饣甚州焉乎秦胥胥 Thực Thầm châu yên hồ tần tư tư


_缦予乎昭 Mạn dư hồ chiêu


_澶秦逾渗惿随河湖 thìn tần du sâm, đề tuỳ hà hồ.

 

Bản nầy đã là tiếng VIệt, là tiếng Sở ngày xưa. Như là Tiếng Việt "thuần Việt" cuả Người Việt đang dùng ngày nay. Vậy mà bị ngộ nhận do cách trình bài trong "THuyết uyễn" cuả LƯU HƯỚNG.

 

---Và "bản phiên dịch Việt nhân ca" như Lưu Hướng trình bài trong "THuyết Uyễn" và cho rằng đó là tiếng Sở thì thật ra cũng là tiếng Việt "Hán Việt" mà ngày xưa thời xuân thu-chiến quốc gọi là Nhả ngữ, đến thời Hán thì gọi là Hán Ngữ : Nhưng khi Lưu hướng kể chuyện trong sách Thuyết Uyễn thì biến thành đây là "sở" ngữ:


Kim tịch hà tịch hề?khiên chu trung lưu.


Kim nhật hà nhật hề?đắc dữ vương tử đồng chu!


Mông tu bị hảo hề,bất hiềm cấu sỉ.


Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề,đắc tri vương tử.


Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi,tâm thuyết quân hề quân bất tri! "

 

- Sở Tương Vương lên ngôi vua trước công nguyên 298 năm=cách nay hơn 2300 năm.


-Sở Ngạc Vương lên ngôi vua trước công nguyên 799 năm=cách nay hơn 2800 năm.

 

-"Việt Nhân ca" đã có tuổi hơn 2800 năm,

 

-Chữ "Hoa" và tiếng "Hoa" hiện giờ giãi thích "Việt Nhân ca" không đúng vì đã lạc vào "mê hồn trận" của chử nghiã mà quên đi cái gốc âm thanh của tiếng nói, Và chử nghĩa chỉ là phương tiện, bỏ đi và không tìm hiểu cái gốc thanh và ngử của lịch sử nơi địa phương mà mình đang nghiên cứu mà chỉ theo cái ngọn của sách "thuyết uyễn" và hiện giờ và cho rằng vùng đó là "hoa ngữ" thì dể lầm lẩn là dĩ nhiên thôi, vì thế cho nên bất cứ người nào nghiên cứu "Việt Nhăn Ca" mà lạc vào "mê hồn Trận" cuả riêng chử nghĩa cuả đa số hiện giờ cứ cho là "chử tượng hình" là chử "Hoa" thôi là sẽ lạc lối ngay, chỉ cần "vô Tư" và "Thực tế" thì sẽ tìm ra những ngộ nhận do "tam sao thất bổn" hay là "ai đó" gây ra! ghi chú: "Sách" "THuyết Uyễn" thời Hán thật sự còn không ? thời đó đa số là viết trên thẻ tre ! "thuyết uyễn" sau nầy là được ghi lại thời nảo ? đời nhà Tống, Minh, hay Triều nhà Thanh cho "ghi soạn lại hết" thành TỨ KHỐ TOÀN THƯ ???

 

Ký âm để viết lại Việt Nhân ca của thời xưa được lưu lại là:


1_滥兮抃草滥予 Lạm hề biện thảo lạm dư


2_昌枑泽予昌州州 Xương hằng trạch dư xương châu châu


3_饣甚州焉乎秦胥胥 Thực Thầm châu yên hồ tần tư tư


4_缦予乎昭 Mạn dư hồ chiêu


5_澶秦逾渗惿随河湖 thìn tần du sâm, đề tuỳ hà hồ

 

Ký âm nầy ...khi phiên ra Hán-Việt thì thường Gập là : Các bài phiên dịch tôi đọc được đa số thấy thường là thiếu hết 1 chử ở câu số 3 :" 饣" , đó chính là chử 飠 -Thực.

 

Phiên dịch ra Hán Việt cho 1 bài dùng chử tượng hình cồ xưa đễ "phiên âm" tiếng Việt thì sẽ rất là Khó!!! Vì có chử không còn được dùng nưã, nên rất khó tra tự điển, mà dù cho có tra tự điễn thì chưa chắc đúng được! bỡi vì gịong đọc ở các địa phương khác nhau, và cách nhau mấy trăm năm, ngàn năm thì tiếng nói và cách dùng chữ viết của 1 số chử điều có thể thay đỗi, và lại biến âm theo từng miền ngôn ngữ v v...

 

Ký âm nầy ...cho đến khi tôi đang viết bài nầy thì người ta vẫn nghĩ là phiên âm đễ ghi lại tiếng "Choang" tức là tiếng "THÁI" của Tráng Tộc

 

_ ký âm Việt Nhân Ca được phiên dịch ra Hán-Việt như sau :……

-Lưu-Hướng-刘向 cuả đời nhà Hán đã sưu tầm và viết ra trong《Thuyết Uyễn-说苑》là: (..ghi chú- Câu "Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi山有木兮木有枝" là do người phiên dịch cho Ngạc Hoàng Tử cuả Sở thêm vào).


Kim tịch hà tịch hề?khiên chu trung lưu.


Kim nhật hà nhật hề?đắc dữ vương tử đồng chu!


Mông tu bị hảo hề,bất hiềm cấu sỉ.


Tâm kỉ phiền nhi bất tuyệt hề,đắc tri vương tử.


Sơn hữu mộc hề mộc hữu chi,tâm thuyết quân hề quân bất tri!

 

-Trích 1 đọan dịch ra Việt Ngữ trên Diễn Đàn của Viện Việt Học: [Tạm dịch ra Việt ngữ] :Re: "Việt nhân ca" có liên hệ tới Tráng ngữ Posted by: Trần Nam Phong(162.105.112.---)Date: April 16, 2007 10:19PM)


Đêm nay đêm nào chừ, chèo thuyền giữa sông


Ngày này ngày nào chừ, cùng vương tử xuôi dòng.


Thẹn được chàng mến yêu chừ, nào chê phận thiếp long đong


Lòng rối ren mà chẳng dứt chừ, được gặp chàng vương tông


Non có cây chừ, cây có cành chừ; lòng yêu chàng chừ, chàng biết không?

 

-Xin qúi vị chú ý: bản dic̣h văn xuôi nêu trên rất hay và đúng ý so với bên bản Hoa Văn và Hán Việt mà hiện giờ ai cũng đã hiểu theo nghiã nầy.

 

III: Phân Tích và giãi mã bí mật Việt Nhân ca theo tiếng Việt.

 

Toàn bộ "Việt Nhân CA" bản gốc :là phiên âm gồm 33 chử.


Biết bao nhiêu chuyên gia ngôn ngữ học cuả nhiều thế kỷ cận đại đã bỏ công nghiên cứu Ký âm của Việt Nhân Ca là ngôn ngữ gì? tập hợp cuả tập thể nghiên cứu Việt nhân ca gồm những người am hiểu hầu hết các ngôn ngữ, họ dẫn chứng là ký âm của Việt nhân ca có thể giãi thích bằng tiếng nói các dân tộc : Tráng tộc壮族、Đồng Tộc侗族, Bố y Tộc布依族, Thái tộc傣族, Thủy tộc水族, Mao Nam tộc毛南族, Hạ lào tộc仫佬族, Lê tộc黎族...Vì các dân tộc nầy đều có nguồn gốc từ Cổ-Việt-Tộc古越族。Và cuối cùng thì Thuyết Ký âm Việt Nhân Ca được kết luận là của người Choang-Tráng Tộc ...; Nhưng:

Nhưng *xin chú ý ":

 

A/ ___những chữ phiên âm ghi giống nhau, thì khi tìm hiểu, phiên dịch, phải là cùng 1 chữ. Nếu không, thì là Sai. Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục khuyết điễm nầy.

Ví dụ:_滥滥,予予予,昌昌,州州州,乎乎,胥 胥

 

B/___những chử phiên âm và câu chuyện là của người "Sở" nói về "Bài Ca VIệt", phải hiểu "SỞ và Việt Đồng tông , đồng Tộc" như Sử ký Tư Má Thiên đã chép..., phải hiểu các phương ngữ ngày nay có liên quang đến cổ sử cuả Sở và Bách Việt không chỉ riêng tiếng Việt ngày nay, mà còn tiếng Việt của "Việt Ngữ ở QuảnG Đông" , "Sở Ngữ-Mân Việt ngữ ở Phước Kiến, Triều Châu", "Bộc Việt cuả Người Hẹ-Hakka", "Sở ngữ-Tương NGữ ở Giang Tây", "NGô Việt ngữ ở THượng Hải và Giang Tô" "Hoa Ngữ ở phía Bắc từ thời nhà CHu", phạm vi ảnh hưỡng của "Sở" và tiếng Sở đã qúa rộng lớn thời xa xưa, và càng ảnh hưỡng mạnh sau khi Hạn-Vỏ và Lưu - Bang đều là người Sở đã khỡi nghĩa đễ tiêu diệt nhà Tần của Tần Thủy Hoàng. Cho nên phải đối chiếu các phương ngữ của cả 1 vùng rộng lớn có liên quang đến Bách Việt, liên quang các ngôn ngữ Bách Việt đã phân hóa thành các phương ngôn cuả hiện thời. Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục khuyết điểm nầy.

 

C/___Ngôn ngữ ngày nay không thể hoàn toàn giống như xưa, và Ngược lại ! Người ta "quên" rằng ngôn ngữ "đơn âm" ngày nay có nguồn gốc là "đa âm" của ngày xưa..., Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục khuyết điểm nầy.

 

D/___Bài "thơ" "Việt Nhân Ca" là 1 khúc hát dân ca của người Việt thời Xưa, Sau khi đã Dịch ra tiếng "CHoang" và cho là đúng rồi, mà không hoàn toàn phù hợp đễ hát theo thể điệu dân ca cuả Dân tộc Choang ! Chỉ là miễn cưỡng ...vậy mà vẫn chấp nhận cái chưa hoàn hảo rồi kết luận đã tìm ra ý nghiã và sự thật cuả "Việt Nhân Ca" là qúa mức chủ quan, thiễn cận và thiếu tinh thần khoa học. Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục khuyết điễm nầy.

 

E/___"Việt Nhân Ca" có "Việt" là chử quang trọng Nhất, không tìm hiểu hết nghĩa của chử "Việt" và không hiểu hết thi - ca với dân ca của người Việt chính thức mang tên Việt ở nước Việt Nam ngày nay là 1 khuyết điễm lớn nhất, Vì câu chuyện và bài hát là nói về Dân Ca của 1 người Việt đang chèo Ghe. Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân ca" là Vì không khắc phục khuyết điễm nầy.

 

F/___Việt Ngữ và Hoa ngữ "liên-Quang" như thế nào ? không hiểu song ngữ Việt-Hoa thì khó lòng phiên dịch được, Sở dĩ người ta phiên dịch sai "Việt Nhân Ca" là vì không khắc phục điễm nầy.

 

Tôi không cho rằng bài phiên dịch "Việt Nhân Ca" của tôi là Hoàn toàn chính xát, nhưng ít nhất cũng là "cơ bản" chính xát vì đã theo yêu cầu cần phải có khi muốn phiên dịch "Việt Nhân Ca", và muốn càng chính xát thì càng phải theo những điều "Xin chú ý" nêu trên, Nếu có người khác phân tích được cái sai của bài tôi phiên dịch thì tôi sẽ hoàn toàn vui vẽ mà chấp nhận sự thật.

 

-Việt nhân Ca có tất cà chử viết phiên âm được thể hiện bằng 33 chữ:xin trình bài lại và xấp theo số cho rỏ.

 

-Xin xấp sếp lại 1 lần nữa, vì rất quang trọng, cho đúng thơ lục -bát 6-8:

Và nghiã là: chú ý: 2 chử có ghạch nối là "đa-âm" của 1 chử.

 

Lạm hề Biện-Thảo lạm Dư
Xương Hoàng Trạch-Dư xương Châu Châu Thực
THẩm Châu yên Hô-Tần Tư Tư
Mạn Dư hô-Chiêu thẳn tần Du sâm Đề-Tùy.
...Hà Hồ.

 

-Xin viết lại bằng cách có sưã chưã đa âm thành đơn âm và điều chỉnh ký âm (xưa) không chính xát trở thành chính xát khi theo tiếng Việt ngày nay (Là đã có biến âm khác xưa chút đỉnh là điều chắc chắn):Nghĩa là...

 

Năm nầy **Bảo ** năm xưa
Thương Hoàng **Tử** thương Chiều chiều Xưa
Sớm chiều em **Hận** Tương Tư
Mà ai **hiểu** đặng tình yêu Sâu đầy.
....Hò Hớ.

 

...kết quả khảo cứu của tôi là "Việt Nhân ca-Bản gốc" là thơ lục bát cuả Tiếng Việt , phù hợp với câu hò cuả Dân ca Việt. Mà lại phù hợp với "cổ Sở Ngử" và chính là tiếng Sở, cho nên đối với tôi thì "Sách thuyết uyễn" của LƯU_Hướng thời Hán để lại ...đã có vấn đề, hoặc là tam sao thất bổn !!!

 

....Nhưng dù thế nào đi nưã thì tôi đã chứng minh được 滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣飠甚州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖 là điệu dân ca hát trên sông hồ theo thể thơ LỤc-Bát.

 

..Nếu thể hiện Việt Nhân Ca với những chử có đánh dấu trở thành Đa-âm là vừa đúng bằng thể thơ" lục bát" , và cách thể hiện ngày nay là Chử đa âm rút gọn thành đơn âm thì nên thêm vào chử thay thế cho đúng thơ 6-8 sẽ là:

 

HÒ......Hớ...
Năm nầy bảo với năm xưa
Thương chàng hoàng tử thương chiều chiều xưa
Sớm chiều em hận tương tư
Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy.

 

Điều phát giác thú vị nhất của tôi khi khảo cứu Việt NHân ca : (Lời "tâm sự"): _Khi khảo cứu và giãi mã bí mật của "VIỆT NHÂN CA

 

" ...đối với tôi ...rất là dễ!!! bỡi vì đối với tôi thì chử "tượng hình" là chử Việt, và tôi thường đọc "chử tượng hình" theo nhiều phương ngôn khác nhau là Bắc kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Hán Việt...khi nghiên cứu cổ sử, Cho nên có thể nói là nhìn vào Việt Nhân Ca là "thấy được bài thơ lục -Bát tiếng Việt liền!",

 

...thích thú với chi tiết 2800 năm về trước tiếng Việt đã dùng "Biện-Thảo" là "bảo" , "Nầy" Kia, "Nầy" Xưa, "thương Chiều Chiều xưa", "em Hận tương tư" v v,...Nhưng điều thích thú nhất là tôi chưa bao giờ biết "Hò...hớ" là nghĩa gì ? ...và cũng chưa bao giờ nghỉ đến sẽ tìm hiểu "Hò......Hớ" là gì !!! ...Vậy mà nhờ Việt Nhân ca bản gốc của 2800 năm về trước

 

...đã làm tôi kinh ngạc và "ngộ" ra rằng "Hò...Hớ" chính là Dân Ca cuả Người Việt khi gắng bó với sông hồ , với ghe, thuyền...:

 

-Hò ...Hớ : là Dân ca của người Việt với SÔNG HỒ trên ghe thuyền.


-Hò...Hớ: nghĩa là "Hà 河" ..."Hồ 湖"...nếu không nhờ có Việt Nhân Ca thì tôi không thể nào biết được ý nghĩa nầy.

 

_***Giãi thích: những ký âm của "Việt Nhân ca" là giống như các phương ngôn Việt...

 

滥 -"Lạm" là "Lam" hay "nam" tức là "Năm", "L" và "N" thường là biến âm, ngày nay maù "Lam" bên tiếng Triều Châu là "Nam", và rất nhiều nơi ở Quảng <tri vi="" l="" v=""></tri>

 

兮-Hề ...hầy, nầy, nè , đây...nhiều biến âm.

 

抃草-Biện -thaỏ '' là Đa âm của "Bảo" ,

 

予-"Dư" còn có âm "ia" (Triều Châu, Bắc kinh): Năm "dư" có thể như ngày nay là "năm kia", "năm Xưa"

 

昌-ký âm "xương" là "thương", ngày nay tiếng Quảng Đông-Thuần Việt là "Sẹc", Triều Châu-thuần Mân Việt là "Siaiê"

 

枑-"Hằng" hay "Hoàng"

 

泽予-"Trạch-Dư" hay "Trạch-Dử" là "Trử' hay "Tử",

 

飠- Thực , tiếng Quảng Đông >sực, Bắc kinh> Sưã: phát âm như là "Xưa"

 

甚 -Thẩm,hay THậm >là Sẩm, sửm, sơm bên tiếng tiếng Quảng Đông, và Bắc kinh "Sum" phát âm như "Sớm"

 

州-Châu, > phát âm mân Việt -Triều châu thì chử nầy đọc là "Chiêu" , "Chiệu"như "Chiều"


焉-̣(zen)...(phiên âm theo English hiện giờ là "yan") phát âm tiếng bắc kinh như "em".

 

乎秦 -"Hô-tần" đa âm ,là "Hận" cuả Đơn âm ,

 

乎昭 -"Hô-chiêu" đa âm là "Hiểu" đơn âm.


澶-"Thẳn" hay "Đặng" hay "được", ...nếu tra tự điễn và phiên dịch là "Thìn" hay "chiền" là không đúng! bên trái là bộ chử "Thủy", và bên phải là chử "Đàn", Đọc là "Thẳn" hay "đặng" và nghiã là "nước xối ...thẳn, thông, Đặng", tiếng Quảng Đông : "Thànn" , Tiếng Triều Châu : "thànn" hay "thạnn"

 

胥胥- "tư Tư" là Tương Tư ,

 

秦 踰 - Tần Du, là ký âm "Tình duyên" hay "tình Yêu", 秦 là Tsình của tiếng Tiều Châu ngày nay, 踰, du, Duyè (Quảng đông), Dua (Triều Châu)

 

渗-"Sâm" là Sâu, Tiếng Quảng Đông ngày nay "sâu" vẫn là "Sâm"

 

惿随 -"Đề-Tuỳ" đa âm là "đuỳ" đơn âm, là "đầy"

 

河- Hà

 

湖- Hồ

 

Trước khi kết thúc bài nầy ...Xin copy font chử Nom Viết Việt nhân ca theo 1 cách khác cho vui, xin ghi lại Việt Nhân ca Bằng chử Nom :

 

Hò ..Hớ
Năm nầy bảo với năm xưa
Thương chàng hoàng tử... thương chiều chiều xưa...
sớm chiều em hận tương tư
Mà ai hiểu được... tình yêu sâu đầy...

 

---Và Cũng phiên dịch ra "Hoa" văn cho vui, qúi vị nào dịch ra Hoa Văn hay hơn tôi nhiều thì nên viết bài để chia xẽ cùng mọi người, bài phiên dịch qua Hoa văn của tôi như sau :

………………………………


Nhạn Nam Phi / Đỗ N. Thành.

 

*** -Tôi không cho rằng bài viết nầy hoàng toàn đúng ! mà phải chờ đọc giả chỉ ra những khuyết điểm hay ủng hộ và công nhận của nhiều người ! Nếu có gì sai xót thì xin qúi vị đọc giả góp ý kiến và viết bài phê bình ! tinh thần "Vô tư" và "khoa Học" là luôn cần thiết nhất cho tất cả sự việc .-xin Chân thành cảm tạ qúi đọc giả đả đọc đến đây , và cầu chúc qúi vị bước qua năm mới 2010 vui vẽ và An Lành.

 

...Ghi Chú: Tham Khảo, Đọc thêm các trang :

Việt nhân ca - Bài ca Việt nữ cổ:Th.s Nguyễn Ngọc Thơ (Trường ĐH khoa học xã hội và Nhân Văn TP. HCM).


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?

ArticleID=220916&ChannelID=119
Thảo luận Việt Nhân ca: Viện Việt Học
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,34172,page=3
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?13,28483
-Nhà nghiên cứu: Phùng Minh Tường- 冯明洋:Việt Nhân Ca- 越人歌 có liên hệ Tráng Ngữ? -Dân tộc Choang-: không chính xát, vì không phù hợp thể điệu dân ca Tráng Ngữ :http://www.ce.cn/kjwh/ylmb/ylzl/200907/11/t20090711_19510768.shtml
Yue-Rin-Ge : http://www.persee.fr/web/revues/home/

 

prescript/article/clao_0153-3320_1991_num_20_2_1345
Thảo luận và phân tích Việt Nhân Ca bên tiếng Hoa ...rất hay, nhưng rất tiếc...chưa đúng:http://forum.bomoo.net/showthread.php?t=1851
-Dùng Từ "越人歌" search trên Google:sẽ thấy 69,900 trang
-Dùng từ "越人歌" tìm trên Baidu.com: sẽ thấy 196,003 trang:
-Có rất nhiều bloger sưu tầm và thảo luận "越人歌"


Nguồn: An Việt Toàn Cầu

 

1.11.2011

 

Ảnh (Wiki): Poster của phim nhận được nhiều giải: phim Dạ Yến (The Banquet). Bài "Việt Nhân Ca" cách đây 2800 năm là bài ca chính trong phim. Theo tác giả Đỗ Thành thì bài ca đã hoàn toàn bị dịch sai vì họ, Trung Hoa, không hiểu tiếng Việt cổ. Vì không hiểu rõ nguồn gốc của bài ca nên người Trung Hoa cho rằng Việt Nhân Ca là văn hóa của họ. Nhưng oái ăm thay sự thật không phải vậy, Việt Nhân Ca có trước người Hán và bài ca ấy thuộc về nền văn hóa của dân tộc Bách Việt.