|
Từ Phan Liêu, Đặng
Dung đến Nguyễn Trãi
Nguyễn Xuân Phước - 18.04.2005
Tâm sự của một thế hệ trước những biến động của
đất nước ở đầu thế kỷ thứ XV.
1.
Hình: tượng vua Trần Nhân Tông
Vào
cuối thế kỷ thứ 14 nước Đại Việt bắt đầu một giai đoạn suy vong.
Đầu thế kỷ thứ 13, chỉ 200 năm trưóc đó, đoàn quân
bách chiến bách thắng của Thành Cát Tư hãn và Hốt Tất Liệt đã phải
bị khuất phục trưóc những chiến công hiển hách của Trần Hưng Đạo,
Trần Quang Khải. Nhưng đến cuối thế kỷ thứ 14 nước Đại Việt bắt
đầu một giai đoạn suy vong, nhà Trần đã mất đi năng lực quốc phòng
để gìn giữ biên giới. Các vị vua cuối cùng nhà Trần nhu nhược, yếu
hèn. Từ những chiến công hiển hách đại thắng quân Nguyên của Trần
Hưng Đạo, Trần Quang Khải ở đầu thế kỷ thứ 13, đến giai đoạn nầy,
nhà Trần đã mất đi năng lực quốc phòng để gìn giữ biên giới. Nước
Chiêm Thành nhỏ bé ở phương nam, dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga,
đã hơn 10 lần đem quân vượt biên giới phía nam xâm phạm lãnh thổ
và ba lần đem quân tàn phá kinh đô Thăng Long.
Trong bối cảnh đó, Hồ Quí Ly xuất hiện như một cái
phao cứu vãn nhà Trần. Ông đã giúp triều đình cũng cố lại triều
chính và quân đội. Thủy quân Đại Việt đã giết được Chế Bồng Nga,
chấm dứt được hoạ xâm lược của Chiêm Thành. Nhưng cái phao cứu sinh
Hồ Quí Ly đã trở thành sợi dây thòng lọng lịch sử cho nhà Trần.
Với khôn ngoan và mưu lược cùng với quyền lực trong tay, ông đã
chấm dứt nhà Trần và mở ra triều đại nhà Hồ.
Hồ Quý Ly là một con người đầy tham vọng, và là một
nhà chính trị tài giỏi quyền biến. Nhưng Hồ Quý Ly phải đương đầu
với tham vọng to lớn hơn ở phương bắc. Đó là tham vọng của Minh
Thành Tổ, một hoàng đế thông minh đảm lược vừa mới cưóp ngôi người
cháu ở Kim Lăng, Trung Hoa.
Đầu thế kỷ 15 là thời gian Trung Hoa đã được bình
định và bước vào giai đoạn phục hưng. Năm 1398, Minh Thái Tổ băng
hà. Ông truyền ngôi lại cho cháu đích tôn, tức là Huệ Đế. Năm 1402,
Huệ đế bị chú là Yên Vương Lệ (Chu Di) cứớp ngôi. Yên vương Lệ lên
ngôi tức là Minh thành Tổ.
Dưới thời Minh Thành Tổ, ông đã cho tổ chức hạm đội
viễn dương với 48 chiếc tàu và 28.000 thủy binh dưói quyền chỉ huy
của đô đốc Trịnh Hoà viễn du khắp nơi trên thế giới. Sử cho biết
hạm đội Trịnh Hoà (Zheng He) thực hiện 7 chuyến viễn du, đã chinh
phục các nuóc Nam Á, qua tận Phi châu, đem về cho Minh Thành Tổ
rất nhiều vật lạ quí hiếm và sự thần phục của các vương quốc xa
xôi.
Sự kiện nầy nói lên một điều là đối lực của dân quân
Đại Việt bấy giờ là Minh Thành Tổ, một triều đại cực thịnh của Trung
Hoa.
Minh Thành Tổ muốn mở rộng biên giới về phương nam.
Nhân cơ hội một số quan lại nhà Trần chạy qua Kim Lăng dâng sớ tố
cáo nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhà Minh đã phất ngọn cờ Diệt Hồ
Phù Trần, để đem quân sang Đại Việt.
Năm 1406 Minh Thành Tổ phong Chu Năng làm Chinh Di
Đại Tướng Quân, Trương Phụ làm Chinh Di Hữu Phó Tướng Quân cùng
Mộc Thạnh làm Chinh Di Tả Phó tướng quân thống lĩnh 80 vạn quân
chia làm hai cánh tràn xuống nước ta. (ĐVSKTT 307)
Hình: thành nhà Hồ, Thanh Hóa
Thực
chất của chiến dịch chinh nam với 800 ngàn quân dưới nhãn hiệu Diệt
Hồ Phù Trần của nhà Minh là cuôc chiến tranh xâm lược đi liền với
một cuộc di dân vĩ đại. Minh Thành Tổ muốn giải quyết vấn đề biên
giới phương nam một lần đủ cả. Cái tàn dư của nòi giống Bách Việt
ngoan cố luôn luôn là cái gai và thách đố văn hoá với nòi Hán. Ông
muốn bình định Đại Việt để Đại Việt trở thành quận huyện của Trung
Hoa như Ngô Việt, Mân Việt trước đây. Do đó, cuộc chinh nam lần
nầy không phải chỉ là một cuộc viễn chinh quân sự thuần túy. Minh
Thành Tổ đã phát động chiến tranh xâm lược tổng hợp quân sự, văn
hoá và huyết thống. Đoàn quân 800,000 người đó có tác dụng pha loãng
giòng máu của dân Việt ở phương nam, và làm thay đổi nếp sống và
văn hoá Việt để đồng hoá vào Trung Hoa.
Đồng thời, mặt trận tâm lý với khẩu hiệu Diệt Hồ
Phù Trần của Minh Thành Tổ đã đánh vào nhược điểm về giá trị chính
thống của chính quyền Hồ Quí Ly. Đòn tâm lý nầy gây giao động mạnh
mẽ trong quần chúng và chi phối mạnh mẽ ý chí chống xâm lăng của
quân dân Đại Việt. Mất tính chính thống, Hồ Quí Ly mất năng lực
đạo đức để lãnh đạo công cuộc kháng chiến. Hồ Quí Ly đã thất bại
trên mặt trận chiến tranh chính trị trước khi mặt trận quân sự bị
sụp đổ.
Sự thất bại của nhà Hồ trong việc lãnh đạo công cuộc
chiến đấu chống quân Minh đã đưa Đại Việt vào vòng nô lệ bắc triều
lần thứ hai.
2.
Phan Liêu, Đặng Dung và Nguyễn Trãi là ba thanh niên
sinh ra lớn lên thời Trần mạt. Ba người đều là dòng dõi của những
đại quan làm việc vói triều đình nhà Trần. Khi nhà Hồ cướp ngôi
nhà Trần, thân sinh cả ba đều hợp tác với chế độ mới. Họ là những
gương mặt tiêu biểu cho thế hệ thanh niên của đầu thế kỷ 15 phải
chứng kiến sự phá sản của triều đại nhà Trần với những di sản lịch
sử to lớn.
Nguyễn Trãi, Đặng Dung và Phan Liêu, giống như tuổi
trẻ chúng ta ngày hôm nay, đều có tâm sự riêng trước hoàn cảnh bế
tắc của dân tộc. Cả ba đều sinh ra và lớn lên cùng thời kỳ. Nguyễn
Trãi và Đặng Dung đi tìm con đường cứu nước. Nguyễn Trãi đã thành
công và Đặng Dung đã phải tuẩn tiết. Riêng Phan Liêu đã đầu hàng
giặc để làm quan.
Hình: Trương Phụ và Mộc Thạch
Phan
Liêu là con của quan thái phó Nghệ An Phan Quí Hữu. Nghệ
An là cửa ngõ vào Hoá Châu. Lúc ấy lực lượng của Giản Định Đế và
Trùng Quang Đế đang nắm giữ vùng Nghệ An Thanh Hoá. Năm 1413, Trương
Phụ đem quân đánh Nghệ An. Phan Quí Hữu ra hàng. Phan Liêu được
Trương Phụ cho làm tri phủ Nghệ An. Quân của Trùng Quang Đế chạy
về Hoá châu. Phan Liêu đem thông tin quân số của Trùng Quang Đế
cho Trưong Phụ biết. Nhờ đó, Trương Phụ đã tiêu diệt được lực lượng
Nghĩa Quân. Trùng Quang Đế và Đặng Dung đều bị bắt trong trận Hoá
Châu nầy và sau đó tự vẫn trên đưòng giải về Kim Lăng. Do sự phản
bội của Phan Liêu, chế độ nhà Trần hoàn toàn cáo chung. Đến năm
1419, Phan Liêu bất đồng quan điểm với Mã Kỳ, một tướng lãnh quân
Minh, nên đem quân giết quan quân nhà Minh ở Thanh hoá và chạy qua
Ai Lao.
Phan Liêu không đầu hàng ở giai đoạn đầu của cuộc
chiến tranh xâm lược. Ông đầu hàng vào năm 1413, tức là 6 năm sau
khi Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân tràn vào Đại Việt. Như vậy
trong thời gian đó, Phan Quì Hữu đang làm quan cho nhà Hậu Trần,
đang làm công tác phù Trần.
Ở giai đoạn nầy động lực cho sự hợp tác với quân
Minh không còn là phù Trần nữa. Sau 6 năm chiếm đóng Đại Việt quân
Minh không hề quan tâm đến việc đưa con cháu nhà Trần trở lại ngai
vàng. Chiến dịch Diệt Hồ Phù Trần đã hiển nhiên trở thành cuộc chiến
tranh xâm lược. Ở giai đoạn nầy, hàng quân Minh là sự chọn lựa giữa
cái chết vinh vì đất nước và cái sống nhục theo quân xâm lược, là
chọn lựa giữa đi với Trùng Quang vào núi kháng chiến và theo giặc
Minh làm quan. Phan Liêu chọn con đường thứ hai.
Cuộc nổi loạn của Phan Liêu năm 1419 chắc chắn đã
gây giao động mạnh trong hàng ngũ quân Minh. Nhưng vì cuộc nổi loạn
không có tầm vóc lớn nên không gây ảnh hưởng rộng rãi và bị tiêu
diệt ngay. Sau đó ông đã trốn sang Ai Lao và mất hút vào trong lịch
sử.
Ở Phan Liêu chúng ta thấy được tính chất bất định
của một con người đã mất định hưóng dân tộc. Ông hành xử bởi cá
nhân và vì cá nhân. Ngay cả khi ông nổi loạn chống quân Minh, cái
động lực chính là mâu thuẩn quyền lợi và cá tính giữa ông và Mã
Kỳ. Do đó, ông không thấy được lực lượng Lam Sơn đang lớn mạnh,
đang xoay đổi vận hội của dân tộc.
Hình: Đặng Dung
Đặng
Dung là con của quốc công Đặng Tất một đại quan nhà Trần.
Cũng như tất cả những quan lại dứoi triều mạt Trần, Đặng Tất đã
hợp tác với chính quyền Hồ Quí Ly.
Khi Trương Phụ đem quân xâm chiếm nước ta, Đặng Tất
đang làm Đại Tri Châu ở hạt Hoá Châu. Lúc đầu ông theo giặc Minh
được Trương Phụ cho tiếp tục giữ chức vụ cũ. Đến khi Giản Định Đế
khởi nghĩa thì ông đem thành Nghệ an dâng cho Giản Định, và dâng
con gái vào hậu cung. Đặc biệt Hoá Châu là vùng địa đầu ở phía nam
của Đại Việt. Địa thế hiểm trở. Năm 1413 Trương Phụ đem quân đánh
Hoá Châu. Mộc Thạnh trình với Trương Phụ như sau: “Hoá Châu núi
cao bể rộng khó lấy lắm.” (TTK tr. 204) Với truyền thống gia đình
và địa phương anh linh như thế, Đặng Dung đã được hun đúc trở thành
một võ tướng của nghĩa quân nhà hậu Trần. Trong lúc gian nan chỉ
huy cuộc kháng chiến, ông đã để lại cho chúng ta bài thơ Cảm Hoài
được sử gia Trần Trọng Kim dịch như sau:
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay,
Vai khiên trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài vầng nguyệt đã bao rày.
Bài thơ nầy được danh sĩ Lý Tử Tấn, một học giả thời
Lê, tác giả Chuyết Am Văn Tập, nhận xét:”không phải người hào kiệt,
không thể làm được.” Qua bài thơ, chúng ta có thể thấy được Đặng
Dung không những là một võ quan, một người yêu nước, mà còn là một
người nghệ sĩ tài hoa. Cho đến ngày hôm nay, không ai trong chúng
ta đọc hai câu cuối của bài Cảm Hoài mà không xúc động trước lòng
yêu nước tuyệt vời của ông.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài vầng nguyệt đã bao rày.
Sau khi cha ông bị Giản Định Đế Trần Ngỗi giết chết,
ông thấy được viễn ảnh đen tối của cuộc kháng chiến dưới sự lãnh
đạo của Trần Ngỗi. Con người Trần Ngổi quá thiển cận, cục bộ và
thiếu tự tin. Ông ta không thể tiếp tục lãnh đạo công cuộc chống
xâm lăng. Đặng Dung thấy nhu cầu của thế hệ mới đứng ra nhận trọng
trách của lịch sử. Từ suy nghĩ đó, ông đã cùng người bạn đồng cảnh
ngộ là Nguyễn Cảnh Dị đón Trần Quý Khoách, là người cùng trang lứa
với ông, để lập làm vua vào năm 1409. Trần Quí Khoách là con Mẫn
vương Trần Ngạc. Mẫn vương là con vua Trần Nghệ Tông và là anh của
Giản Định Đế. Trùng quang Đế gọi Giản Định Đế bằng chú.
Để tạo sự đoàn kết trong công cuộc kháng chiến Đặng
Dung cùng Trần Quý Khoách và những ngưòi bạn đồng chí hướng đã tái
phối trí lại lực lượng kháng chiến. Trong tổ chức mới, quyền hành
của thế hệ lớn tuổi bị giảm thiểu và những ngừoi trẻ đứng ra nắm
binh quyền. Giản Định Đế đưọc bố trí làm thái thựơng hoàng, một
vị trí uy tín nhưng không có thực quyền.
Hình: Trần Quý Khoách
Đặng
Dung cố gằng tạo sinh khí mới cho công cuộc kháng chiến bằng cách
tạo điều kiện cho thế hệ trẻ đứng ra nắm chủ động việc lãnh đạo
cuộc kháng chiến. Nhưng sinh lực nhà Trần đã hết. Sau một vài chiến
thằng nhỏ, quân kháng chiến đã phạm một số sơ suất chiến lược làm
mất cơ hội bắt sống Trương Phụ. Từ đó, lực lượng kháng chiến yếu
dần. Đồng thời quân Minh gia tăng hành quân và Giản Định Đế bị bắt
đưa về Kim lăng. Sau trận chiến ở Hoá Châu, năm 1413 Đặng Dung và
Trùng Quang Đế cũng bi bắt. Đến đây nhà Trần hoàn toàn cáo chung.
Trên đường bị giải về Kim Lăng vua tôi đã trầm mình
tự vận. So với việc Giản Định Đế chiụ nhục về Kim Lăng, hành động
đi tìm cái chết của Trùng Quang, Đặng Dung cũng như các tướng Nguyễn
Cảnh Dị, Nguyễn Súy cho chúng ta thấy được dũng khí của một thế
hệ trẻ yêu nước, rất lãng mạn, rất hào hùng, nhưng vô cùng bất hạnh.
Cuộc đời của Đặng Dung là tượng trưng cho lòng yêu
nước trung trinh, để nợ nước lên trên thù nhà. Ông mang tâm sư “Vai
mang trái đất mong phò chúa” đến hơi thở cuối cùng. Tận trung với
vua, với nhà Trần cho đến tận cùng cái vận hạn của triều đại ấy.
Khi bàn đến cái thất bại của nhà Hậu Trần, Sử thần
Ngô Sĩ Liên viết:
"Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn
Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều
tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc
sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải
người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không?.
Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng
vẫn vinh quang, vì sao vậy?. Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống
với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng,
hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm,
kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng,
khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước
của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!"
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết về nhận định của Lê
Lợi về phong trào kháng chiến của Giản Định Đế và Trùng Quang Đế
như sau:
"Trước đó, bọn Đặng Tất, Nguyễn Súy ở Châu
Hóa cùng lập con cháu nhà Trần là Trần Ngỗi, Trần Khoáng làm vua.
Nhưng vua [tức Lê Lợi] thấy họ yếu hèn, lại say đắm tửu sắc, biết
là chẳng làm nên chuyện, mới ẩn náu chốn núi rừng, dụng tâm nghiền
ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân chúng
lưu ly, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn." (ĐVSKTT
tr. 325)
Hình: Nguyễn Trãi
Nguyễn
Trãi là con của Nguyễn Ứng Long tự là Phi Khanh và bà Trần
Thị Thái, là con thứ ba của Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán. Ông Nguyễn
Phi Khanh là một học sinh nhà nghèo học giỏi. Sử sách kể rằng quan
tư đồ Trần Nguyên Đán thấy Ứng Long học giỏi nên yêu mến mời làm
thầy dạy cô con gái. Hai thầy trò yêu nhau bà Thái có thai ngoài
vòng lễ giáo. Ứng Long bỏ trốn. Quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán cho người
đi kiếm về để gã cô con gái đang mang thai cho Nguyễn Ứng Long.
Lúc đó ông mới 19 tuổi. Khi lấy bà Thái xong, Nguyễn Ứng Long học
tiếp thi Thái học sinh và đâu bảng nhãn. Tức là đậu thứ nhì trong
kỳ thi tiến sĩ. Bà Thái là người đàn bà đã được đọc sách thánh hiền
từ thuở nhỏ. Cha bà là Trần Nguyên Đán là một thần đồng, đậu tiến
sĩ năm 14 tuổi và là dòng dõi Thượng tướng Trần Quang Khải, con
thứ của vua Trần Thái Tông. (DVSKTT 277)
Mang trong mình truyền thống thông minh xuất chúng
Nguyễn Trãi đậu tiến sĩ năm 21 tuổi dưói triều Hồ Hán Thưong. Ông
làm đến chức ngự sử đài chính chưởng cho đến khi nhà Minh xâm lược
nước ta.
Hình: Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Khanh
Năm
1407, Nguyễn Phi Khanh và hai em của ông bị bắt sang Trung Hoa.
Khi chia tay ở Ải Nam Quan, Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi
phải về lại Thăng Long để lo việc báo thù cho cha. Lúc đó Nguyễn
Trãi 27 tuổi. Trở về Thăng Long, Nguyễn Trãi nhìn đất nước tan hoang,
lòng người ly tán không khỏi cảm thấy đau thương. Trương Phụ, Mộc
Thạnh và 800 ngàn quân Minh đã vào Thăng Long và đóng binh khắp
miền đất nước. Một số lớn nhân sự của triều đình Hồ Quý Ly bị bắt
về Kim Lăng. Người hàng giặc. Kẻ đi kháng chiến. Về phương diên
gia tộc, Trần Thúc Dao, con trai của Trân Nguyên Đán, và là cậu
ruột của Nguyễn Trãi, đã hàng quân Minh và được Trương Phụ cho giữ
đất Diễn Châu. Sau nầy Thúc Dao bị Giản Định Đế giết chết. (DVSKTT
tr. 313)
Từ khi Nguyễn Trãi chia tay với cha ở Ải Nam Quan
năm 1407 đến khi ông tìm đến Lê Lợi năm 1416 là 10 năm. Đó là giai
đoạn trong cuộc đời của Nguyễn Trãi không được lịch sử nói gì đến
nhiều. Đó là 10 năm mà người sau nghĩ rằng Nguyễn Trãi đã nằm yên,
không vọng động.
Có lẽ trong giai đoạn đó ông cũng biết công việc
khởi nghĩa của Đặng Dung. Có lẽ ông đã nghe bài thơ Cảm hoài của
Đặng Dung lưu truyền trong đám sĩ phu yêu nước. Chắc Nguyễn Trãi
cũng biết câu chuyện về khí tiết của Nguyễn Biểu khi ông mắng Trương
Phụ và bị nhục hình đến chết. Nếu ông là ngưòi yêu nước tại sao
ông không chia xẻ quan điểm chính trị với Đặng Dung để phù Trần
diệt Minh? Tại sao ông, là con cháu của nhà Trần, không gia nhập
phong trào kháng chiến của Giản định đế và Trùng Quang Đế để khôi
phục nhà Trần, để giành lại độc lập cho tổ quốc?
Liệu thái độ im lặng của ông có bị người đương thời
“chụp mũ” là thiếu tinh thần … “phù Trần” chăng?
Người đương thời nghĩ gì khi Nguyễn Trãi cùng với
người anh em con cô con cậu là Trần Nguyên Hãn tìm đến người nông
dân Lê Lợi ở Lam Sơn năm 1416?
Lê Lợi sinh năm 1385 nhỏ hơn Nguyễn Trãi 5 tuổi.
Ông gặp Lê Lợi năm ông 36 tuổi và Lê Lợi 31 tuổi. Phải chăng ông
chọn Lê Lợi vì Lê Lợi là hình ảnh của một thế hệ mới. Nhưng nếu
chọn thế hệ mới tại sao ông không chọn Trùng Quang Đế Trần Quí Khoách
làm minh chủ để cùng với Đặng Dung Phù Trần Diệt Minh?
Hình: Lê Lợi và Nguyễn Trãi
Về
quan điểm thế hệ, Nguyễn Trãi rất gần với Đặng Dung. Cả hai đều
quan niệm rằng cuộc chiến mới phải do thế hệ trẻ lãnh đạo. Thế hệ
cũ, đại biểu là Giản Định Đế Trần Ngổi, không có đủ năng lực để
lãnh đạo cuộc chiến chống nhà Minh. Giản Định Đế vừa lên ngôi trong
hoàn cảnh kháng chiến khó khăn đã lo tuyển thê thiếp vào hậu cung.
Chiến thắng Bô Cô chưa ráo máu giặc, Giản Định đã nghe lời hoạn
quan trong triều đình giết hai danh tướng có công đầu là Đặng Tất
và Nguyễn Cảnh Chân. Những sự kiện nầy cho thấy Trần Ngỗi là con
người, như Lê Lợi nhận định, ham mê dục vọng. Tệ hơn nữa, ông ta
là người lãnh đạo nhưng thiển cận, nghi kỵ và thiếu tự tin. Và do
đó, Giản Định Đế không có khả năng tập hợp và nuôi giữ nhân tài
để lãnh đạo công cuộc kháng chiến.
Đặng Dung tìm đến ngừơi hậu duệ trẻ tuổi của nhà
Trần là Trần Quí Khoách để tôn lên làm vua. Còn Nguyễn Trãi tìm
đến Lê Lợi, một hào trưởng vô danh ở Thanh Hoá, để tôn lên làm minh
chủ.
Nhưng sự việc quan trọng hơn là Nguyễn Trãi tìm đến
Lê Lợi để dâng Bình Ngô Sách. 10 năm từ khi chia tay với cha ở Ải
Nam Quan, Nguyễn Trãi đã dành thời giờ suy nghĩ về một chiến lược
mới để cứu nước. Bình Ngô Sách là kết tinh của những suy nghĩ của
Nguyễn Trãi.
Ngày nay Bình Ngô Sách đã thất lạc. Nhưng qua tác
phẩm Bình Ngô Đại Cáo chúng ta có thể thấy ngay đuợc sách lược của
cuộc kháng chiên của Lê Lợì.
Sách lược chính yếu của Bình Ngô Sách là Mưu Phạt
và Tâm Công. Đánh bằng mưu và đánh vào lòng người. Đó là ý nghĩa
của cuộc chiến tranh nhân nghĩa. Ông xây dựng quan điểm đúng đắn
về chiến tranh chính nghĩa để đương đầu lại với cuộc chiến tranh
giả nhân nghĩa dưới khẩu hiệu diệt Hồ phù Trần bịp bợm của Minh
Thành Tổ. Ông dùng chiến tranh tâm lý chính đạo để đối phó chiến
tranh tâm lý tà đạo của quân xâm lược.
Hình: Lê Lợi
Ngay
ở đề tựa Bình Ngô Sách, ông đã gọi Trung Hoa là giặc Ngô. Đây là
cách dùng chữ để nhấn mạnh rằng rằng thái độ ngạo mạn của Trung
Hoa gọi nguời Việt là Di, là mọi rợ, (như khi Minh đế phong Chu
Năng làm “Chinh Di” Đại Tưóng Quân), là một điều xúc phạm đến truyền
thống văn hoá lâu đời của Đại Việt. Ông muốn nhắc lại cho mọi ngưòi
biết rằng chính Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương khi cn là giặc cỏ
cũng tự phong là Ngô Vương. Xuất xứ của Chu Nguyên Chương là từ
Ngô Việt, một bộ phận của Bách Việt đã bị đồng hoá vào Trung Hoa.
Ông gọi cuộc chiến nầy là cuộc chiến “bình Ngô” để trả lại Minh
Thành Tổ chữ “chinh Di” mà ông dùng để gọi Đại Việt. “Bình Ngô”
cũng xác định cuộc chiến nầy là một cuộc chiến văn hoá, để đối đầu
với chiến dịch “chinh Di” của Minh Thành Tổ nhằm đồng hoá Đại Việt.
Chính vì thế trong phần mở đầu của Bình Ngô Đại Cáo Nguyễn Trãi
khẳng định giá trị truyền thống lâu đời của văn hoá phương nam:
“Như nưóc Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến
đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia, Phong tục bắc nam cũng
khác”.
Đồng thời, ông bổ xung ý niệm nhân nghĩa mông lung
của Nho Giáo bằng cách đưa ý niệm nầy vào thực tế chính trị. Theo
ông, đối tượng của chính trị là nhân dân, không phải là huyết thống
hay dòng họ. Vai trò của nhà cầm quyền phải làm sao cho nhân dân
sống an cư lạc nghiệp. Do đó, nhân nghĩa không nằm ở khẩu hiệu,
ở tuyên truyền. Nó nằm ở chổ khi thực hiện cái mà ngưòi ta gọi là
điều nhân nghĩa đó, có làm cho nhân dân đưọc hạnh phúc ấm no hay
không. Ông đưa ra tiêu chuẩn bắt buộc những người lãnh đạo ưa nói
điều nhân nghĩa phải chứng minh đưọc khả năng đem lại cơm no áo
ấm cho nguời dân cách cụ thể. Cái cụ thể đó ngày nay đưọc gọi là
lợi tức bình quân đâu ngưòi và những chỉ số phát triển kinh tế quốc
gia.
Và nữa, nếu phải phát động một cuộc chiến tranh nhân
nghĩa thì mục đích của nó là để triệt tiêu bạo quyền, chứ không
phải để xây dựng một chế độ cường bạo hơn, độc ác hơn. Khi một chế
độ mới độc ác hơn đưọc thiết lập để thay thế chế độ cũ, lập tức,
mọi khẩu hiệu nhân nghĩa trong cuộc chiến đều mất giá trị. Và cuộc
chiến đó trở nên mất chính nghĩa.
Do đó, nhân danh “phù Trần” hay bất cứ một lý tuởng
vĩ đại nào để thay đổi văn hoá dân tộc, để ngăn sông cấm chợ, để
bóc bột nhân dân, làm đời sống nhân dân bất ổn định, làm cho nhân
dân cùng khổ một điều bất nghĩa, là một tội ác. Ông gói ghém quan
điểm nầy trong câu mở đầu của Bình Ngô Đại Cáo:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo.
Suốt hai trăm năm trước đó, Vạn Kiếp Tông Bí Truyền
Thư và Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Đạo được coi như sách lược
quốc phòng của Đại Việt và của triều đại nhà Trần. Hai bộ sách nầy
biểu tượng của đỉnh cao về tư duy quốc phòng giúp nhân dân Đại Việt
chiến thắng giặc Nguyên Mông ở thế kỷ 13. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ
15, sách lược quốc phòng của Trần Hưng Đạo không giúp nhà Trần gìn
giữ ngai vàng và bảo vệ đất nước.
Có lẽ Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư và Binh thư Yếu
Lược của Trần Hưng Đạo không còn đủ “linh nghiệm” để cứu nước và
cứu nhà Trần. Hậu duệ của Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo không còn
hùng khí của cha ông để giữ Thăng Long trước những đợt tấn công
của Chế bồng Nga.
Không phải đến đời Hồ Quí Ly nhà Trần mới mất ngôi.
Trước Hồ Quí Ly, nhà Trần đã một lần mất ngôi khi Trần Dụ Tông nhường
ngôi lại cho Dương Nhật Lễ (1369-1370). Nếu Trần Nghệ Tông không
diệt được Dương Nhật Lễ để giành lại ngôi thì nhà Trần đã cáo chung
từ năm 1369. Nhưng Trần Nghệ Tông là một vị vua nhu nhược, yếu hèn.
Ông lên ngôi để kéo dài giai đoạn hấp hối của nhà Trần. Chính Trần
Nghệ Tông đã mở đường cho Hồ Quí Lý cướp ngôi nhà Trần sau nầy.
Trong mười năm yên lặng, Nguyễn Trãi đã nghiền ngẫm
sách lược của tổ phụ và suy nghĩ đến vận nước và vận hạn của nhà
Trần. Khi viết Bình Ngô Sách, ông đã quyết định bước ra khỏi bóng
che vĩ đại của Trần Hưng Đạo. Bình Ngô Sách, do đó, là một đỉnh
cao mới trong lịch sử quốc phòng của dân tộc để tiếp nối đỉnh cao
của Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư và Binh Thư Yếu Lược.
Nhưng tại sao Nguyễn Trãi không dâng Bình Ngô Sách
cho Trùng Quang Đế mà phải tìm đến con người vô danh Lê Lợi ở núi
Lam Sơn?
Có lẽ Nguyễn Trãi thấy được nhà Trần đã suy vong.
Nói theo ngôn ngữ của dân gian thì vận số của nhà Trần đã hết. Phù
Trần không còn là lý tưởng và là khẩu hiệu có thể giải quyết vấn
đề đất nước. Phù Trần có thể là cứu nước. Nhưng cứu nước không hẳn
đồng nghĩa với phù Trần.
Quan điểm về triều đại và dân tộc của Nguyễn Trãi
đã bác bỏ quan điểm phù Trần của Đặng Dung. Trong khi Đặng Dung
trung trinh với nhà Trần dù cho cha ông bị Giản Định Đế giết chết.
Trưóc cái thảm hoạ xảy ra cho gia đình, ông không oán hận triều
đình . Ngược lại, ông vẫn quyết tâm theo đuổi con đường cần vương
phục quốc mà ông đã chọn lựa. Đặng Dung tìm cho được Trùng Quang
Đế để phò lên ngôi, để tiếp tục công việc cứu nước. Lòng yêu nước
và trung quân của Đặng Dung sáng chói.
Nhưng Đặng Dung gắn liền dân tộc với triều đại, với
những con ngưòi biểu tượng của quyền lực đã một thời rất vĩ đại,
rất vinh quang, nhưng đã phá sản. Đặng Dung không sai lầm. Nhưng
Đặng Dung chưa tìm được, chưa thấy được cái mới, cái xuất lộ cho
dân tộc.
Nguyễn Trãi khác hẳn. Mặc dù Nguyễn Trãi là hậu duệ
của nhà Trần, nhưng với ông, khẩu hiệu “yêu nước là yêu nhà Trần”
không còn đúng nữa.
Quan điểm nầy cũng phù hợp với quan điểm của Nguyễn
Phi Khanh. Là rễ của quan đại tư đồ Trần Nguyên Đán, nhưng Phi Khanh
bị phạt không được làm quan vì tội “trèo cao”, vì ông là con thường
dân nhà nghèo mà dám lấy con gái quan đại tư đồ. Do đó, khi Hồ Quí
Ly cướp ngôi, Nguyễn Phi Khanh nhanh chóng ra phục vụ nhà Hồ. Ông
chia tay với triều đình bên vợ không luyến tiếc.
Chính Nguyễn Trãi cũng có thiện cảm với nhà Hồ. Trong
Bình Ngô Đại Cáo ông viết “vừa rôi nhà Hồ chính trị phiền hà”. Dùng
chữ “chính trị phiền hà” để nói đến việc Hồ Quí Ly giết vua soán
ngôi, Nguyễn Trãi đã coi việc việc nhà Trần mất ngôi không phải
là chuyện to lớn.
Nguyễn Trãi đã giải quyết được một tâm lý cực kỳ
quan trọng của một thanh niên trước cái bế tắc của đất nước. Đó
là phải cắt dứt cho được cái não trạng trung quân, cần vương trong
công cuộc cứu nước tồn chủng. Ông đã bước ra khỏi tâm thức chính
trị trung quân của thời kỳ phong kiến để nhìn về phía tương lai
của dân tộc. Một triều đại đã chết không thể làm cho nó sống dậy,
và càng không thể coi nó là cứu cánh của cuộc kháng chiến. Nguyễn
Trãi coi sự sống còn của dân tộc quan trọng hơn là tồn vong của
một triều đại. Ông tách dân tộc ra khỏi chế độ. Ông phủ nhận quan
niệm “yêu nước là yêu nhà Trần”. Chính điều nầy đã đánh dấu sự trưởng
thành về ý thức dân tộc.
Từ những suy nghĩ trên, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên
Hãn, lả hai hậu duệ chính thống của nhà Trần, đi tìm con đường mới.
Đó là đường vào Lam Sơn. Vì chỉ có Lam Sơn mới có thể trở thành
trung tâm vận động lịch sử. Và chỉ có Lam Sơn mới làm cho đất nước
hồi sinh.
3.
Phan Liêu, Đặng Dung và Nguyễn Trãi trở thành hình
ảnh biểu tượng của ba thành phần thanh niên ở đầu thế kỷ thứ 15
Phan Liêu là đại biểu cho thành phần chọn cho mình
chổ đứng trong hàng ngũ quân xâm lăng.
Thành phần nầy có những xu hướng khác nhau. Có những
người nhẹ dạ tin tưởng vào khẩu hiểu Diệt Hồ Phù Trần của giặc nên
ra hợp tác với giặc Minh. Xu hướng nầy đại biểu cho lòng trung quân,
cần vương thiển cận, cục bộ. Họ muốn trả thù cho chúa nhưng quên
cái thảm hoạ mất nước. Họ sẳn sàng rước về cho dân tộc một thảm
hoạ nguy hiểm hơn cái thảm hoạ thay đổi chính trị, thay đổi triều
chính.
Xu hướng khác là những người thấy cái tuyệt vọng
trong việc giành độc lập nên đành đứng vào hàng ngũ giặc để tìm
đường sống cho cá nhân và gia đình.
Tất cả những xu hướng nầy đều đứng về phía giặc làm
công cụ và tay sai. Họ đã góp tay với giặc tiêu diệt sức sống văn
hoá dân tộc và mọi sức đề kháng chống xâm lăng để bảo toàn lãnh
thổ.
Những người nầy có những lúc cũng phản tỉnh, nổi
loạn. Những ngưòi phản tỉnh quyết liệt như Đặng Tất đã hy sinh tất
cả để theo kháng chiến. Những ngưòi phản tỉnh nửa vời, như Phan
Liêu, cũng nổi loạn rồi mất định hướng. Và dĩ nhiên còn lại những
ngưòi như Lương Nhữ Hốt theo giặc đến ngày giặc cuốn gói về nước.
Nhưng lịch sử cũng còn những Đặng Dung và Nguyễn
Trãi.
Ngày nay chúng ta không thể không rung động trước
bài thơ Cảm Hoài của Đặng Dung. Hình ảnh của một người tráng sĩ
mài gươm dưới ánh trăng mong phục thù cho chúa là hình đẹp nhất
trong lịch sử giành độc lập của dân tộc. Đó là cái đẹp của lòng
yêu nước chất chứa nỗi u hoài, tuyệt vọng. Hình ảnh đó của Đặng
Dung đã khơi dậy phong trào yêu nước lãng mạn, kích động được lòng
yêu nước nồng nàn của hàng bao thế hệ cho đến ngày nay. Chính những
hy sinh đó đã kết thành hồn sử linh thiêng của dân tộc và làm cho
ý thức dân tộc lớn lao lên.
Nguyễn Trãi bước một bước xa hơn. Ông gắn bó cái
lãng mạn của lòng yêu nước với tinh thần yêu nước thực dụng.
Yêu nước mù quáng sẽ dễ dàng trở thành tay sai cho
những chiêu bài nhân nghĩa giả dối bịp bợm của ngoại bang. Lòng
yêu nước loại đó có tác hại biến người yêu nước thành tay sai mà
họ tưởng mình làm cách mạng dân tộc. Họ quay mặt lại với tổ quốc,
với nhân dân, tiêu diệt văn hoá dân tộc mà lương tâm không bị cắn
rứt.
Yêu nước lãng mạn mà thiếu tinh thần thực tế như
Đặng Dung cũng không đủ liều lượng để giải quyết vấn đề đất nước.
Nguyễn Trãi quân bình giữa tình cảm yêu nước và lý
trí. Ông là người biết được thời và thế. Trong những bức thư dụ
hàng Vương Thông, Nguyễn Trãi đem chữ thời trong Kinh Dịch để thuyết
phục. Ông viết: “tôi từng xem Kinh Dịch 384 hào, mà cốt yếu là chữ
thời.”
Chữ thời cũng chính là xu thế lịch sử. Thuận xu thế
lịch sử là thuận với chữ thời. Phản xu thế lịch sử là nghịch lại
với chữ thời.
Khi thấy vận hạn nhà Trần đã chấm dứt, ông can đảm
chia tay với quá khứ, chia tay với triều đại Lý Trần. Ông bước ra
khỏi bóng che lớn của Trần Hưng Đạo để tìm đến Lê Lợi. Ông nối kết
những người yêu nước mới, không nặng nợ với quá khứ, để mở ra vận
hội mới cho dân tộc.
Ông quyết liệt phủ nhận và lật mặt nạ chiêu bài giả
dối Diệt Hồ Phù Trần của nhà Minh. Nhưng ông cũng không dứng trên
lập trường Diệt Minh Phù Trần để phò một triều đình đã bị phá sản.
Nguyễn Trãi phóng tầm nhìn vào tương lai để xác định
lập trường của ông. Ông đứng trên lập trưòng của một nước Đại Việt
mới, một nước Đại Việt sắp ra đời và sẽ phải ra đời.
Sách Tang Thương Ngũ Lục kể rằng Nguyễn Trãi và Trần
Nguyên Hãn đến tìm Lê Lợi hai lần. Lần đầu gặp ngày giổ, Nguyễn
Trãi thấy Lê Lợi vừa cắt thịt vừa ăn, ông thất vọng trở về. Lần
thứ nhì ông thấy Lê Lợi thức khuya nghiền ngẫm binh thư ông mới
vào ra mắt.
Có lẽ lần đầu Nguyễn Trãi thấy đưọc con người thật
rất tầm thường của Lê Lợi, một hào trưởng đã lột bỏ hết tất cả những
hào quang và huyền thoại. Khi Nguyễn Trãi gặp Lê Lợi lần thứ hai,
ông thấy Lê Lợi là con người của binh thư, của đất nước. Ông thấy
được Lê Lợi là con người có ý chí, biết học hỏi cầu tiến và biết
tự rèn luyện bản thân. Ông đem con mắt của một nhà khoa bảng yêu
nước ở Thăng Long để đánh giá một hào trưởng miền núi trong công
tác cứu nước. Ông nhìn được Lê Lợi xuyên qua cái bề ngoài quê mùa
thô lỗ của một nông dân. Ông thấy được những đức tính và khả năng
lãnh đạo trong con người của Lê Lợi. Những yếu tố nầy làm cho Lê
Lợi nổi bật lên gìữa gần 30 phong trào kháng Minh thời bấy giờ.
Về sau có người trách Nguyễn Trãi không có con mắt
nhìn xa để sau nầy bị hại đến bản thân và gia đình. Nhưng ở đây
Nguyễn Trãi đi tìm con đường và con người cứu nước, chứ không phải
đi tìm danh phận cho mình và dòng họ. Do đó, dù ông có tiên liệu
được phận bạc của mình với nhà Lê, vì công cuộc cứu nước, ông vẫn
dấn thân vào Lam Sơn. Đây là cái vĩ đại của con người Nguyễn Trãi.
Hình: Hội thề Lũng Nhai
Năm
1416, Nguyễn Trãi đã cùng 18 vị anh hùng Lam Sơn cùng nhau kết ước
ăn thề ở Hội Thề Lũng Nhai. Ý niệm hôi thề là một sáng kiến cách
mạng về mô hình tổ chức chính trị. Ý nghĩa của hội thề là sự ràng
buộc những người làm việc nước bằng qui ước đạo đức để giảm thiểu
tính chuyên chế, tham sân si, thủ cựu và đồng thời tăng cường tính
lý tưởng, tính khai phóng và rộng lượng của người lãnh đạo kháng
chiến, và người lãnh đạo đất nước trong tương lai. Nó là xã ước
thành văn đầu tiên của Đại Việt trong thời kỳ phong kiến. Nó nối
kết cuộc vận động thời đại với linh thiêng của dân tộc. Nó thiết
lập giá trị đạo đức cho công cuộc cứu nước. Hội Thề Lũng Nhai, do
đó, là một mô hình tập hợp dân tộc tân kỳ.
Biến cố Lũng Nhai, cũng như quan điểm về triều đại
của Nguyễn Trãi như đã nói trên, một lần nữa xác định sự trưởng
thành về ý thức dân tộc của thế hệ mới. Nhiệm vụ cứu quốc tồn chủng
không còn là độc quyền của một dòng họ, của triều đình, của giai
cấp quí tộc, mà là của mọi người, từ kẻ khoa bảng đến nông dân vô
danh.
Nhờ đó, Hội Thề Lũng Nhai đã xác định được giá trị
chính thống lịch sử của phong trào kháng chiến Lam Sơn, tái tạo
được đạo đức của tầng lớp lãnh đạo, xây dựng lại nội lực dân tộc,
để hình thành một triều đại mới và một nước Đại Việt mới.
Từ Hội Thề Lũng Nhai, Lam Sơn đã trở thành căn cứ
địa hồi sinh dân tộc. Xuất phát điểm lịch sử ấy đã đẩy cuộc khởi
nghĩa Lê Lợi đến thành công, đã giúp Lê Lợi giành được độc lập cho
tổ quốc, khai sáng triều đại nhà Lê, hoàn thành được sứ mệnh cứu
quốc tồn chủng của tiền nhân, và mở ra một thời đại phục hưng mới
và lớn lao cho Đại Việt.
4.
Đã gần một ngàn năm từ khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng
Long để củng cố nền tự chủ sau một ngàn năm bắc thuộc và mở ra thời
đại phục hưng lần thứ nhất . Từ đó, lịch sử dân tộc ta đã trãi qua
bao triều hưng phế.
Từ Triệu Đinh Lý Trần xây nền độc lập
Cùng Hán ĐưòngTống Nguyên hùng cứ một phương
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt thời nào cũng có
Ở mỗi thời kỳ suy vong, trong xã hội cũ đã chứa đựng
cái mầm sống của thời đại mới. Cái mầm sống đó là giấc mơ về một
tổ quốc sẽ được hồi sinh và sự trông ngóng vào một xã hội mới tươi
đẹp hơn, nhân bản hơn, khai phóng hơn. Cái lực của mầm sống đó là
công cuộc tập hợp dân tộc, tập hợp những hào kiệt của thời đại.
Cái định hướng để cho cái mới phải ra đời là tư tưởng chỉ đạo của
thời đại. Cuộc vận động cứu nước đòi hỏi người làm lịch sử phải
thấy được mầm sống của dân tộc trong mỗi một giai đoạn bế tắc.
Công việc khơi dòng lịch sử của thế hệ là thực hiện
cho được một cuộc tập hợp dân tộc mới. Đó là công tác quy tụ, gầy
dựng và vun trồng mầm sống ấy.
Nhưng tập hợp chưa đủ. Công tác lịch sử đòi hỏi ngươì
lãnh đạo phải có một viễn kiến, một tầm nhìn lớn về con đường phục
hưng dân tộc và công tác kiến thiết đất nước. Đó là nền tảng tư
duy thời đại. Nền tảng tư duy giúp người lãnh đạo phát hiện được
xu thế lịch sử của dân tộc và thế giới để làm định hướng cho mầm
sống dân tộc được bật ra và phát triển.
Khi mầm sống ấy đến ngày thành thục nó sẽ bộc phát
thành giòng thác thời đại, thành một bùng nổ lịch sử, nó sẽ làm
vỡ những bờ đê đóng cõi, những rào cản thời đại, quét đi những tàn
dư, những thối nát của xã hội cũ, để làm thành cái xuất lộ cho dân
tộc. Cái bộc phát ấy là đòi hỏi của lịch sử để sửa sai những cái
sai quấy của thời đại cũ, những cái bất hợp lý của xã hội cũ, những
cái vô lý xuẩn động và cục bộ của tư duy cũ.
Xuất lộ là khởi điểm của công cuộc xoay đổi thời
đại để mở ra thời kỳ phục hưng để làm cho dân tộc Đại Việt lớn lao
lên, để công tác bảo vệ bờ cõi bền vững hơn, để xây dựng một đất
nước hợp lý hơn, hợp với qui luật phát triển hơn, cho thuận xu thế
lịch sử hơn, cho hợp với con người hơn.
Đó là ý nghĩa của cách mạng và cũng là thông điệp
lịch sử của Nguyễn Trãi gởi đến cho thế hệ chúng ta ngày hôm nay.
Luật Sư Nguyễn Xuân Phước
Dallas 15 tháng 10 năm 2004
Sách tham khảo
- Trần Gia Phụng, Việt Sử Đại Cương, tập 1, Nhà Xuất Bản Non Nước,
Toronto, Canada, 2003
- Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương, Lịch Sử Trung Quốc 5000 năm, Nhà Xuất
Bản Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001
- Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, Nhà Xuất Bản Văn Hoá, Hà Nội, 1997
- Nguyễn Trãi Toàn Tập, Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, Nhà Xuất
Bản Văn Học, 2000
- Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Trãi Vê Tác Giả và Tác Phẩm, Nhà Xuất Bản
Giáo Dục, Hà Nội 2001
- Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ấn Bản Điện Tử
- Nguyễn Trãi, Lam Sơn Thực Lục Ấn Bản Điện Tử
- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Xuân Thu 1990, tái in ấn bản
của Trung Tâm Học Liệu VNCH năm 1971.
- Gavin Menzies, 1421 The Year China Discovered America, Published
by Harper Collins Publishers, Inc. New York, 2002
- Thích Phước An, Từ Nguyễn Trãi đến Ngô thời Nhậm và Đưòng Lên
Núi Yên Tử Thư Viện Hoa Sen
- Lý Đông A, Huyết Hoa, ấn bản điện tử do Hận Nam Quan ấn hành,
Chính Khí Việt :: Khơì giòng chính khi Việt
- Lý Đông A, Chu Tri Lục, ấn bản điện tử do Hận nam Quan ấn hành
Chính Khí Việt :: Khơì giòng chính khi Việt
- Lý Đông A, Việt Sử Thông Luận, ấn bản điện tử do Hận nam Quan
ấn hành Chính Khí Việt :: Khơì giòng chính khi Việt
@DVCOnline
|