|
Quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa
Nguyễn Nhã - Ph.D thesis
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
3.2 Cơ sở pháp
lý của việc xác lập và bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa
3.2.1 Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập
chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo
Từ thế kỷ XV tới đầu thế kỷ XVI, theo quan niệm pháp
lý quốc tế của Phương Tây, chủ quyền lãnh thổ được xác định theo
các sắc lệnh của Giáo Hoàng. Sắc lệnh ngày 4 tháng 5 năm 1493 do
Giáo Hoàng Alexandre VI ký xác định nguyên tắc phân chia các vùng
lãnh thổ mới phát hiện ngoài Châu Âu giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha.
Theo sắc lệnh này, tất cả các vùng lãnh thổ bao gồm
“tất cả các đảo và đất liền đã tìm thấy và sẽ
tìm thấy, đã phát hiện và sẽ phát hiện ở phía Đông một đường tưởng
tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác qua phía Tây đảo Cap
Vert 100 hải lý là thuộc Bồ Đào Nha” [82 , 44].
Còn các vùng lãnh thổ ở phía Tây đường đó là thuộc
Tây Ban Nha. Theo hiệp ước Tordesillas do Tây Ban Nha và Bồ Đào
Nha ký kết với nhau ngày 7 tháng 6 năm 1494 và được Giáo hoàng Jules
II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng tượng được dịch về phía
Tây 170 hải lý. [ 82, 44 ]
Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX,
các nước Hà Lan, Anh, Pháp cũng phát triển dần trở thành cường quốc,
bị đụng chạm quyền lợi, không chịu chấp hành sắc lệnh nói trên.
Từ thực tế này, các nước đã tìm ra nguyên tắc mới về thiết lập chủ
quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ phát hiện. Đó là thuyết "quyền
ưu tiên chiếm hữu" một vùng lãnh thổ thuộc về quốc gia
nào đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên. Đó chính là thuyết
"quyền phát hiện" [ 82, 44].
Theo thuyết này thì chỉ cần các nhà hàng hải của
một quốc gia cắm một lá cờ lên một hòn đảo, thậm chí một thuyền
trưởng của một nước nhìn thấy một vùng đất mới, quốc gia đó có quyền
ưu tiên chiếm hữu.
Trên thực tế, việc phát hiện như trên chưa bao giờ
tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó
xác định chính xác thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện
và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vùng lãnh
thổ. Vì thế việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm
hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh
thổ phải để lại dấu vết trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện.
Quốc gia nào có một bia hay một mốc chủ quyền hay
một dấu hiệu quốc gia có giá trị hợp lệ mới có chủ quyền lãnh thổ.
Thuyết quyền phát hiện đã được thay thế bằng thuyết
chiếm hữu về danh nghĩa đã được các quốc gia áp dụng từ thế kỷ XVI
đến cuối thế kỷ XIX. Song thuyết chiếm hữu về danh nghĩa càng ngày
càng bộc lộ những nhược điểm, xảy ra tình trạng có những nước vô
tình hay cố ý lại “phát hiện” và đặt dấu hiệu như cắm cờ, cột mốc,
bia về chủ quyền lên những lãnh thổ mà các quốc gia khác đã xác
nhận.
Do đó mà nảy sinh ra nhiều vụ tranh chấp. Các luật
gia càng ngày càng thấy việc phát hiện, kể cả việc phát hiện có
để lại dấu vết chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện vùng lãnh thổ
một danh nghĩa phôi thai, chưa hoàn chỉnh, cốt để chỉ xí phần. Danh
nghĩa này có thể bị mất đi nếu như nó không được củng cố bằng những
hành động thực tế tích cực.
Chủ quyền muốn được xác lập thì phải là thật sự,
có hiệu quả, tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm
hữu trên vùng lãnh thổ đó. Sau hội nghị Berlin về châu Phi năm 1885
của 13 nước Châu Âu và Hoa Kỳ và sau khoá họp của Viện Pháp Luật
Quốc Tế ở Lausanne ( Thụy Sĩ) năm 1888, nguyên tắc chiếm hữu thật
sự trở thành quan điểm chiếm ưu thế trên thế giới.
Điều 3, điều 34 và 35 của Định Uớc Berlin ký ngày
26 tháng 6 năm 1885 xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật
sự và các điều kiện chủ yếu để có việc chiếm hữu thật sự như sau:
“Phải có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các
nước ký định ước trên".
"Phải duy trì trên những vùng lãnh thổ mà
nước ấy chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các
quyền mà nước ấy đã giành, được tôn trọng”.
Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm
1888 đã nhấn mạnh “mọi sự chiếm hữu muốn tạo nên một danh nghĩa
sở hưũ độc quyền” thì phải là thật sự tức là thực tế, không phải
là danh nghĩa. [82, 45]
Chính tuyên bố trên của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne
đã khiến cho nguyên tắc chiếm hữu thật sự của định ước Berlin có
giá trị phổ biến trong luật pháp quốc tế chứ không chỉ có giá trị
với các nước ký định ước trên. Nội dung chính của nguyên tắc chiếm
hữu thật sự là:
1.Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước
tiến hành. Tư nhân không có quyền thiết lập chủ quyền lãnh thổ vì
tư nhân không có tư cách pháp nhân quốc tế, vì quan hệ quốc tế là
quan hệ giữa các quốc gia.
2. Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà
bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ (res nullius) hoặc
là đã được quốc gia làm chủ chủ động từ bỏ (derelicto). Dùng võ
lực để chiếm một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp.
3. Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực hiện
những hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều
kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó.
4. Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên vùng
lãnh thổ đó.
Ngày 10 tháng 9 năm 1919, công ước Saint Germain
đã được các cường quốc lúc bấy giờ ký tuyên bố hủy bỏ định ước Berlin
năm 1885 với lý do là trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa
và như thế nguyên tắc chiếm hữu thật sự không còn giá trị pháp lý
nữa. Song do tính hợp lý của nguyên tắc này, các luật gia trên thế
giới vẫn vận dụng nó khi phải giải quyết các vụ tranh chấp chủ quyền
trên các hải đảo.
Như phán quyết của toà án trọng tài thường trực quốc
tế La Haye tháng 4 năm 1928 về vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ
và Hà Lan, phán quyết của toà án quốc tế của Liên Hợp Quốc tháng
11 năm 1953 về vụ tranh chấp các đảo Minquiers và Écrehous giữa
Anh và Pháp. Những thay đổi trong pháp luật quốc tế nửa đầu thế
kỷ XX đã làm thay đổi phương pháp thủ đắc chủ quyền lãnh thổ trên
thế giới.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Liên Hợp Quốc được
thành lập tiếp theo Hội Quốc Liên. Từ các cuộc chiến tranh xâm lược,
Hiến Chương Liên Hợp Quốc đưa ra nguyên tắc (điều 2 khoản 14) có
giá trị như một nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tất cả các quốc gia.
Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trên đã được phát triển và tăng cường
trong Nghị Quyết 26 /25 năm 1970:
“Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối
tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với
các quy định của Hiến Chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể
là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi
dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt
được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp
pháp”.
Nghị quyết trên cũng qui định:
“Các quốc gia có bổn phận không dùng đe dọa
hay sử dụng vũ lực để vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của
một quốc gia khác hay như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc
tế , kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến
các biên giới của các quốc gia.”
Năm 1982, Công ước về luật biển Liên Hợp Quốc gọi
là “United Nations Convention on Law of Sea", viết tắt là UNCLOS
Convention công bố ngày 10-2-1982 tại Montego Bay ở Jamaica đã được
159 quốc gia ký nhận. Sau khi có đủ 60 quốc gia duyệt y (ratification),
kể từ ngày 16-11-1994 thoả ước UNCLOS hay LOS Convention trở thành
luật quốc tế đối với các quốc gia phê chuẩn và được mang ra, thi
hành, đã xác định về chủ quyền trên biển của mỗi quốc gia.
Như thế trước khi bị các nước ngoài xâm phạm chủ
quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tức đầu thế kỷ
XX trở về thế kỷ XVII, theo pháp lý quốc tế theo kiểu Phương Tây
lúc bây giờ, sự xác lập chủ quyền Việt Nam một cách thật sự, liên
tục, hoà bình là cơ sở pháp lý quốc tế đương thời.
Đến khi chủ quyền của Việt Nam bị xâm phạm, vào thời
đểm 1909, pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện
Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888. Sau đó Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc và Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành
viên ký kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam
ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Mã
Lai, Brunei đều phải tôn trọng.
3.2.2 Tính pháp lý quốc tế của sự xác lập
chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Vào đầu thế kỷ XVII, từ đời Chúa Nguyễn Phúc Lan
hay chúa Nguyễn Phúc Tần đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, Việt Nam đã
chiếm hữu thật sự, hoà bình và thực thi liên tục theo đúng nguyên
tắc pháp lý quốc tế lúc bấy giờ.
Đối với quần đảo Hoàng Sa:
Một là với tính cách nhà nước, đội
Hoàng Sa, một tổ chức bán quân sự đã được giao nhiệm vụ, riêng một
mình kiểm soát và khai thác định kỳ, liên tục và hoà bình hải sản
quý cùng các sản vật kể cả súng ống của các tàu đắm tại các đảo
Hoàng Sa suốt thời Đại Việt, trong thời các chúa Nguyễn và thời
Tây Sơn, tức từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1801 và sau đó là buổi đầu
triều Nguyễn từ 1802 đến trước 1815. Từ năm 1816, đội Hoàng Sa phải
phối hợp với thủy quân. Hàng năm, đội Hoàng Sa hoạt động trong 6
tháng từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến tháng 9 dương
lịch) để phù hợp với điều kiện thời tiết ở vùng biển của quần đảo
Hoàng Sa.
Hai là suốt thời nhà Nguyễn, bắt
đầu từ 1816 , thủy quân được giao trọng trách liên tục kiểm soát,
bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.
Ba là về mặt quản lý hành chánh
liên tục suốt trong 4 thế kỷ từ thế kỷ XVII đến năm 1974 (khi Trung
Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm), Hoàng Sa được các chính quyền ở Việt
Nam để thể hiện quyền lực tối thiểu của mình, đặt dưới sự quản lý
hành chánh của Quảng Ngãi (khi là phủ hoặc là trấn hay tỉnh qua
từng thời kỳ lịch sử) hoặc của tỉnh Thừa Thiên (thời Pháp thuộc)
hoặc của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (thời chia cắt Nam Bắc) rồi đến
thành phố Đà Nẵng (thời thống nhất đất nước).
Việc xác định sự quản hạt này hoặc đựợc ghi trong
các sách địa lý của nhà nước biên soạn như bộ Hoàng Việt Địa Dư
Chí hoặc Đại Nam Nhất Thống Chí dưới triều Nguyễn, hoặc do chính
hoàng đế hay triều đình (Bộ Công) như thời vua Minh Mạng khẳng định,
hoặc bằng các dụ, sắc lệnh, quyết định của chính quyền ở Việt Nam
như dụ của Bảo Đại, triều đình Huế, Toàn Quyền Đông Dương ở thời
Pháp thuộc, hoặc tổng thống, tổng trưởng trong thời kỳ Việt Nam
bị chia cắt, hoặc quyết định, nghị quyết của nhà nước, quốc hội
thời độc lập thống nhất. Điều này khác với Trung Quốc, chỉ xác định
sự quản lý hành chánh sau năm 1909 tức vào năm 1921 và rồi vào năm
1947, có nghĩa là sau Việt Nam hơn 3 thế kỷ. Còn tất cả chỉ là suy
diễn không có bằng chứng cụ thể rõ ràng.
Chính quyền ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, ngay
cả thời Pháp thuộc, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam ở
quần đảo Hoàng Sa, nên ngay cả khi bị Trung Quốc chiếm đóng trái
phép sau chiến tranh thế giới thứ 2 hay năm 1974, quần đảo Hoàng
Sa vẫn được tỉnh Quảng Nam và từ năm 1997 đến nay là thành phố Đà
Nẵng quản lý.
Bốn là trước thời kỳ bị xâm phạm,
bất cứ dưới thời đại nào, nhà nước ở Việt Nam cũng có những hành
động tiếp tục khẳng định và thực thi chủ quyền hàng năm như đo đạc
thủy trình, để vẽ bản đồ do đội Hoàng Sa cuối thời chúa Nguyễn hay
do thủy quân từ năm 1816 dưới triều Nguyễn (bộ Đại Nam Thực Lục
Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên hoặc Đại Nam Hội Điển Sự
Lệ của Nội Các, hoặc Châu Bản triều Nguyễn đã ghi rất rõ, đã được
trình bày trong phần tài liệu). Sau này, từ đầu thế kỷ XX cho đến
năm 1974, Việt Nam cũng tiếp tục tổ chức các đoàn thám sát, đo đạc,
vẽ bản đồ.
Năm là trước thời kỳ bị xâm phạm,
dưới triều Nguyễn, nhất là từ năm 1836 trở thành lệ, hàng năm đều
luôn luôn tổ chức xây dựng bia chủ quyền từng hòn đảo. Trong thời
bị xâm phạm cũng thế, các chính quyền ở Việt Nam luôn tiếp tục cho
dựng bia chủ quyền thay thế bia bị hư hỏng.
Sáu là trước thời kỳ bị xâm phạm,
các triều đại Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng của triều Nguyễn
đã cho dựng miếu thờ làm bằng nhà đá (đá san hô), đào giếng mà năm
1909 các đoàn khảo sát đầu tiên của Trung Quốc ở Hoàng Sa đã trông
thấy và khẳng định không biết có từ thời nào. Riêng tại đảo Phú
Lâm, tài liệu Trung Quốc [48] ghi có miếu ghi rõ Hoàng Sa Tự của
Việt Nam. Sau khi có sự xâm phạm, chính quyền ở Việt Nam cũng tiếp
tục cho xây miếu và nhà thờ.
Bảy là trước thời kỳ bị xâm phạm,
dưới triều Nguyễn nhất là thời vua Minh Mạng đã cho trồng cây tại
các đảo để cho thuyền bè ở đàng xa nhận thấy, tránh bị nạn, và các
nhà nghiên cứu thực vật như La Fontaine cũng thừa nhận các thực
vật cây cối ở Hoàng Sa phần lớn có nguồn gốc ở Miền Trung Việt Nam.
Tám là trước thời kỳ bị xâm phạm,
dưới triều Gia Long như tài liệu phương Tây của Gutzlaff viết trong
The Journal of The Geographical Society of London, vol 19, 1849,
trang 97, đã cho biết Việt Nam đã thiết lập trại binh nhỏ và một
điểm thu thuế. Đến thời kỳ bị xâm phạm từ năm 1909, các chính quyền
Việt Nam lại là chính quyền sớm nhất đã tổ chức các trại lính đồn
trú ở đảo Hoàng Sa (Patlle). Trong khi Trung Quốc chỉ cho quân chiếm
đóng một thời gian ngắn sau chiến tranh thế giới lần 2 rồi rút đi
(năm 1956, Trung Quốc chiếm lại đảo Phú Lâm (Ile Boisée). Đến năm
1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm trái phép các đảo còn lại trong
các trận đánh trên đảo và ở biển với hải quân Việt Nam Cộng Hoà,
kết thúc vào ngày 20-1-1974).
Chín là chính quyền ở Việt Nam đã
cho xây trạm khí tượng đầu tiên tại đảo Hoàng Sa (Pattle) vào năm
1938 hoạt động trong thời gian dài cho đến khi Trung Quốc chiếm
đóng bằng vũ lực năm 1974.
Mười là trước thời kỳ bị xâm phạm
tức năm 1909, chính các hoàng đế Việt Nam như vua Minh Mạng và triều
đình, cụ thể là Bộ Công đã lên tiếng khẳng định Hoàng Sa là nơi
hiểm yếu trong vùng biển của Việt Nam, nằm trong cương vực của Quảng
Ngãi.
Mười một là trước khi bị xâm phạm, chưa có một hải
đảo nào được nhiều tài liệu chính thức của nhà nước, từ chính sử
địa lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn như Đại Nam Thực Lục Tiền Biên,
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, hoặc địa dư như Hoàng Việt Dư Địa Chí,
Đại Nam Nhất Thống Chí hoặc sách hội điển, một loại pháp chế ghi
những điển chương pháp chế của triều đình như Khâm Định Đại Nam
Hội Điển Sự Lệ. Cũng chưa có một hải đảo nào tại Việt Nam lại được
những nhà sử học lớn của nước Việt Nam đề cập đến như Lê Quí Đôn
trong Phủ Biên Tạp Lục (1776), Phan Huy Chú (1821) trong Lịch Triều
Hiến Chương Loại Chí , Dư Địa Chí, hay Nguyễn Thông trong Việt Sử
Cương Giám Khảo Lược. Đặc biệt việc xác nhận chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa lại còn do sách của chính người Trung
Hoa viết như Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán viết năm 1696. Đó
là chưa kể nhiều tác giả tây Phương như là Le Poivre (1749), J Chaigneau
(1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849) cũng đã khẳng định rõ
ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam! Mười hai là bản đồ An Nam
Đại Quốc Họa Đồ Của Giám mục Taberd trong cuốn Tự Điển Việt - La
Tinh (Dictionarium Anamatico-Latinum), xuất bản năm 1838 đã ghi
rõ: Paracel Seu Cát Vàng ở Biển Đông. Trong khi bản đồ "An
Nam" này chỉ vẽ có Paracel Seu Cát Vàng, lại không có vẽ Hải
Nam của Trung Quốc trong biển Đông. Rõ ràng bản đồ An Nam Đại Quốc
Hoạ Đồ đã minh chứng Cát Vàng tức Hoàng Sa chính là Paracel nằm
trong vùng biển của Việt Nam.
Đối với quần đảo Trường Sa:
Điều cần nói rõ rằng hơn 2 thế kỷ từ thế kỷ XVII
đến đầu thế kỷ XX, Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo
Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm ở Biển Đông, nên gọi là
Vạn Lý Trường Sa (bãi cát dài vạn dặm) hay còn gọi là Đại Trường
Sa (bãi cát dài lớn) hay còn gọi là Cát (Kát)Vàng hay Hoàng Sa (Hoàng
có nghĩa là Vàng, Sa có nghĩa là Cát). Chính vì lẽ đó mà chính quyền
Ngô Đình Diệm vào năm 1956 gọi các hải đảo được sáp nhập vào tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu ở Nam Việt cũng là Hoàng Sa, cùng tên gọi với
các hải đảo được sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên ở Trung Việt.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, bản đồ Đại Nam Nhất Thống
Toàn Đồ tuy có ghi Hoàng Sa ở phía Bắc và Vạn Lý Trường Sa ở phía
Nam của Biển Đông, song hai quần đảo vẫn được vẽ trong một dải kéo
dài liên tục từ Bắc xuống Nam, chưa thật sự có sự phân biệt rõ rệt
như người Pháp sau này thể hiện ý muốn cho thấy Vạn Lý Trường Sa
(tức phần phía Nam) thuộc về Nam Kỳ thuộc xứ thuộc địa, trong khi
Hoàng Sa ở Trung Kỳ lại thuộc xứ bảo hộ.
Quan niệm trên cũng giống quan niệm của các nhà hàng
hải Phương Tây khi trong các bản đồ do họ vẽ suốt từ thế kỷ XVI
đến thế kỷ XVIII, tên gọi là Parcel hay Pracel hay Paracels đều
chỉ một dải dài các hải đảo ở Biển Đông dọc theo bờ biển Miền Trung
của Đại Việt, từ vĩ độ 17o xuống vĩ độ 100.
Ngoài ra Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quí Đôn
cũng đã xác định một cách rõ rằng vị trí của “Đại Trường Sa gần
xứ Bắc Hải”. Mà Côn Lôn với Hà Tiên cũng thuộc phạm vi hoạt động
của đội Bắc Hải. Như thế Đại Trường Sa hay Hoàng Sa vào cuối thế
kỷ XVIII kéo dài đến ở phía Nam của Biển Đông, tức vị trí của Trường
Sa hiện nay. Cuốn Tây Sa Văn Vật do Viện Bảo Tàng tỉnh Quảng Đông
Trung Quốc biên soạn và nhà xuất bản Bác Vật tại Bắc Kinh xuất bản
năm 1975 cũng xác định rằng “Bắc Hải là vùng quần đảo Nam Sa”, tên
Trung Quốc chỉ Trường Sa của Việt Nam.
Về mặt pháp lý quốc tế vào đầu thế kỷ XX, trước khi
Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam, quần đảo Trường Sa tức Đại
Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa đã được Việt Nam chiếm hữu thật sự,
hoà bình và thực thi chủ quyền liên tục, với những bằng chứng sau
đây:
Một là nhà nước ở Việt Nam trong
3 thế kỷ từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã tổ chức đội Bắc Hải
đi tìm kiến hải vật ở khu vực Bắc Hải tức khu vực quần đảo Trường
Sa và cả Côn Đảo, Hà Tiên cũng ở phía Nam của Đại Việt.
Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quí Đôn và rồi Đại
Nam Nhất Thống Chí (khởi soạn 1848, in năm 1910) của Quốc Sử Quán
Triều Nguyễn đều khẳng định “đội Bắc Hải, khiến đội Hoàng Sa kiêm
quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật".
Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quí Đôn còn cho
biết thêm rằng sở dĩ nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm quản
đốc đội Bắc Hải này vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể
trên mà thôi tức là những hàng đồi mồi, hải ba, đôn ngư (cá heo
lớn như con heo), lục quí ngư, hải sản (con đỉa biển), còn những
vàng bạc và các của cải quí báu khác thì ít khi họ tìm kiếm được.
Vậy là do đội Bắc Hải ít khi tìm kiếm được các sản
vật quí trong đó có vàng bạc hay súng ống nên các chúa Nguyễn đã
để cho cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Điều này cũng dễ hiểu, bởi các
sản vật quí trong đó có vàng bạc hay súng ống mới là mối quan tâm
của các chúa Nguyễn, mà những thứ sản vật ấy chỉ có được do các
tàu đắm. Bởi lẽ Đại Trường Sa ở phía Nam tức Trường Sa hiện nay
ít nguy hiểm hơn đối với các tàu biển vì vùng này ít xảy ra bão.
Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền Chúa Nguyễn
coi quan trọng như đội Hoàng Sa, không cần định suất hoặc lấy những
người tình nguyện song đội Bắc Hải vẫn do nhà nước quản lý. Phủ
Biên Tạp Lục quyển 2 nói rất rõ “ai tình nguyện thì cấp giấy sai
đi và chỉ thị sai phái đội ấy (Bắc Hải) đi làm công tác và những
người được bổ sung vào đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng
các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò”. Đây là bằng
chứng về tính cách nhà nước một cách rõ ràng của đội Bắc Hải. Đội
Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, mà nhiệm vụ của đội Hoàng Sa
không những để khai thác tài nguyên mà còn có nhiệm vụ kiểm soát
các hải đảo vùng biển Việt Nam.
Thời gian đội Bắc Hải hoạt động cũng bắt đầu từ lâu,
trước khi Phủ Biên Tạp Lục ra đời (1776), cũng như phải sau khi
đất Bình Thuận bắt đầu thuộc Đại Việt (1697) đến đầu Nhà Nguyễn.
Hai là Trường Sa chịu sự quản lý
hành chánh của Quảng Ngãi. Bởi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được
coi là một. Tỉnh Bình Thuận chỉ cung cấp suất đinh cho đội Bắc Hải
mà thôi. Mà chúng ta đã biết Hoàng Sa nằm trong cương vực, vùng
biển của Quảng Ngãi, do Quảng Ngãi quản hạt.
Đến năm 1933, quần đảo Trường Sa mới được tỉnh Bà
Rịa (Nam Kỳ) quản lý về mặt hành chánh. Năm 1956, tỉnh Bà Rịa được
đổi tên là Phước Tuy (Nam Bộ). Năm 1982 lại do tỉnh Phú Khánh (Trung
bộ) quản lý và trở thành một huyện đảo.
Ba là những hoạt động liên tục,
định kỳ của thủy quân từ đầu nhà Nguyễn, cụ thể bắt đầu từ năm 1816
tại quần đảo Hoàng Sa mà như ta đã biết thời kỳ này Hoàng Sa và
Trường Sa là một. Đó là những việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ
của thủy quân, việc cắm mốc chủ quyền, dựng bia thành lệ hàng năm
đến từng hòn đảo được ghi trong sách Hội Điển triều Minh Mạng.
Bốn là năm 1933 khi chưa có nước
nào, kể cả Trung Quốc đặt vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa,
chính quyền Pháp ở Việt Nam đã tổ chức chiếm hữu theo nghi thức
truyền thống Phương Tây. Như thế, nhân danh vương quốc An Nam theo
hiệp ước Pháp - Việt 1874 cũng như hiệp ước 1884, chính quyền thực
dân Pháp ở Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Trường Sa trong tình
trạng không có nước nào chiếm hữu.
Chính quyền thực dân Pháp đã làm đầy đủ thủ tục chiếm
hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây với một hạm đội đem đến
mỗi đảo một văn bản chiếm hữu do các thuyền trưởng ký được đóng
kín trong một cái chai được gắn trong một trụ xi măng xây trên mỗi
đảo. Người ta kéo cờ và thổi kèn trên từng hòn đảo Spratly, Caye
d’Aboine, Itu - Aba, Loaito, Thị Tứ cùng các tiểu đảo phụ thuộc.
Sau đó Bộ Ngoại Giao Pháp đã có một thông tri đăng công báo Pháp
ngày 26 tháng 7 năm 1933 về sự chiếm hữu đảo Spratley ngày 13 tháng
4 năm1930 và các đảo Aboine, Itu - Aba, Loai Ta, Thị Tứ và các đảo
phụ cận từ ngày 7 tháng 4 năm 1933 đến ngày 12 tháng 4 năm 1933.
Những hoạt động liên tục hàng năm của đội Bắc Hải
thời Chúa Nguyễn và đầu thời nhà Nguyễn, cũng như những hoạt động
của thủy quân trong suốt triều Nguyễn đã chứng minh một cách hùng
hồn quần đảo Trường Sa không phải là đảo vô chủ. Song hành động
của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam tổ chức chiếm hữu theo
nghi thức cổ truyền phương Tây chẳng qua là để hợp thức hoá việc
chiếm hữu đúng theo pháp lý quốc tế lúc bấy giờ để tránh mọi sự
tranh chấp của các nước khác, đồng thời cũng thể hiện ý đồ chính
trị của Pháp, sáp nhập Trường Sa vào xứ Nam Kỳ thuộc địa, thay vì
xứ Trung Kỳ bảo hộ. Điều cần nói thêm là, khi chính quyền thực dân
Pháp tổ chức chiếm hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây vào
năm 1930 đến 1933, thì cũng chưa có một quốc gia thứ ba nào đặt
vấn đề tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa (Spratley).
Năm 1907, Trung Quốc chỉ mới bắt đầu tranh chấp với
Nhật ở quần đảo Pratas và đến năm 1909, Trung Quốc mới khảo sát
trái phép theo phương thức cổ truyền Phương Tây chỉ với đảo Hoàng
Sa hay Paracels mà Trung Quốc cho là vô chủ (sic! ). Lúc này Trung
Quốc chưa có hành động nào đối với quần đảo gọi là Nam Sa hay Trường
Sa của Việt Nam. Mãi đến tháng 4 năm 1935 mới xuất hiện địa danh
Nam Sa trên bản đồ, song lúc ấy tên gọi Nam Sa chỉ là dùng để gọi
bãi đá ngầm Macclessfield (tức Trung Sa).
Mãi đến khoảng năm 1947, Trung Quốc mới đặt Nam Sa
ở vị trí quần đảo Trường Sa (hay Spratley) của Việt Nam. Sự tổ chức
chiếm đóng theo nghi thức Phương Tây của chính quyền thực dân Pháp
ở Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa như thế, rồi Trường Sa được
sáp nhập vào đất thuộc địa Nam Kỳ chỉ có ý nghĩa là tái xác lập
chủ quyền vốn đã có từ lâu đời của Việt Nam mà Pháp chiếm làm thuộc
địa. Ngoài ra khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, Trường Sa
được bàn giao cho chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý đã bảo đảm
tính liên tục thực thi chủ quyền một cách hoà bình của Việt Nam
đối với Trường Sa.
Năm là ngoài sự sáp nhập Trường
Sa về mặt hành chánh của chính quyền thực dân Pháp vào cảng Bà Rịa,
Vũng Tàu, đất Nam Kỳ theo hiệp ước Pháp Việt 1862, 1874, chính quyền
thực dân Pháp ở Việt Nam đã có những hành động cụ thể như xây dựng
bia chủ quyền, xây dựng trạm khí tượng, trạm vô tuyến ở đảo Itu
- Aba cùng trại binh ở quần đảo Trường Sa. Suốt thời gian từ 1927
đến 1945, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã thường xuyên tổ
chức khảo sát hay khai thác ở quần đảo này.
Sáu là các chính quyền ở Việt Nam
có trách nhiệm quản lý vùng Biển Đông trong các thời kỳ chủ quyền
bị xâm phạm cũng luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam, chưa bao
giờ từ bỏ chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Cách Mạng Tháng
Tám thành công năm 1945 chấm dứt chế độ thuộc địa và kết thúc sự
tồn tại của triều đình Huế, khiến cơ sở pháp lý của các hiệp ước
1874 và 1884 không còn giá trị, song thực dân Pháp đã chiếm lại
Sàigòn từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, thành lập chính quyền Nam Kỳ
tự trị của người Việt thân Pháp và sau đó thành lập chính phủ Bảo
Đại thân Pháp, ký kết với Bảo Đại hiệp ước năm 1947 và tranh thủ
sự công nhận của các nước Phương Tây để chống lại chính phủ do Chủ
Tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang tổ chức kháng chiến chống Pháp. Các
chính quyền thân Pháp ở Việt Nam hoặc thực dân Pháp đã liên tục
quản lý quần đảo Trường Sa với các hải đảo đã chiếm hữu kể trên,
kế tục sự chiếm hữu trước đó thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
Chúng ta cần lưu ý rằng chế độ cai trị ở Nam Kỳ mà
quần đảo Trường Sa được sáp nhập là chế độ thuộc địa, trực trị khác
với chế độ bảo hộ ở miền Trung. Vì thế cung cách xử lý chủ quyền
đối với quần đảo Trường Sa của Pháp cũng khác với Hoàng Sa, ngoài
việc nhân danh vương quốc An Nam theo hiệp định 1884, Pháp còn nhân
danh chính quyền thực dân trực trị để chiếm hữu Trường Sa, nên đã
làm thủ tục nghi thức truyền thống phương Tây. Song dù với danh
nghĩa gì đi nữa thì việc sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa, lãnh
thổ của Việt Nam là một thực tế, đã có một giá trị pháp lý quốc
tế trong khi chưa có một nước thứ ba nào chiếm hữu thực sự quần
đảo Trường Sa.
Những tình tiết trên đây là những bằng chứng rõ ràng
về sự chiếm hữu thật sự, liên tục và hoà bình của Việt Nam đối với
quần đảo Trường Sa, chỉ bị gián đoạn một thời gian ngắn khi bị Nhật
dùng vũ lực trái phép đem quân chiếm đóng một thời gian (ngay khi
Nhật đảo chính Pháp và tước khí giới quân Pháp đồn trú ở Trường
Sa ngày 9-3-1945). Cuối 1946 qua năm 1947, cũng trong một thời gian
ngắn, lợi dụng thời gian tranh tối tranh sáng, quân đội, Trung Hoa
Dân Quốc lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã đến chiếm đóng đảo Ba
Bình (Itu - Aba) vốn bị Nhật chiếm vài năm trước đó. Song đến đầu
năm 1950, quân Trung Quốc đã rút. Sau đó đến năm 1956, cũng lợi
dụng tình hình tranh tối tranh sáng giao quyền hành, Trung Hoa Dân
Quốc đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu - Aba) của Trường Sa và Cộng
Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã chiếm đảo Phú Lâm của Hoàng Sa. Đó đều
là những hành động trái phép đối với luật pháp quốc tế. Nếu các
nước ngoài bằng vũ lực xâm chiếm tranh giành chủ quyền ở Hoàng Sa
và Trường Sa, thì sự xác lập chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam về
mặt pháp lý quốc tế vẫn còn có giá trị của nó.
Bảy là từ sau tháng 4/1956, khi
quân Viễn Chinh Pháp rút, các chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý
Trường Sa, luôn có những hành động bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường
Sa. Đến năm 1975, khi giải phóng Miền Nam Việt Nam, quân đội nhân
dân Việt Nam đã tiếp quản, tiếp tục trấn giữ, thực thi chủ quyền
của Việt Nam đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa. Mọi sự xâm
chiếm bằng vũ lực của Trung Quốc cũng như các nước khác trong các
thời kỳ đã qua cũng như hiện nay đều vi phạm pháp lý quốc tế.
3.3 Phản bác các luận điểm
biện minh cho sự xâm phạm chủ quyền Việt Namtại quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
3.3.1 Phản bác các luận điểm của Trung Quốc
biện minh cho sự xâm phạm
chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
Kể từ năm 1909 đến nay, Trung Quốc đã có nhiều thay
đổi về luận điểm, luận cứ, luận chứng để biện minh cho sự xâm phạm
chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. So với
hồi đầu, sự bất nhất về luận điểm, luận cứ, luận chứng cũng như
bất nhất về tên gọi khi thì Nam Sa khi chỉ Macclesfield, khi chỉ
Spratley, tự bản thân nó đã bộc lộ sự không có thật trong lịch sử.
Những văn kiện ngoại giao của Cộng Hoà Nhân Dân Trung
Hoa sau Cách Mạng thành công năm 1949 đến nay luôn luôn đưa ra luận
điệu: Chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa (Hoàng Sa của Việt
Nam) và quần đảo Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) là “bất khả tranh
nghị”.
Mãi đến ngày 30 tháng 1 năm 1980, Cộng Hoà Nhân Dân
Trung Hoa lần đầu tiên đưa ra văn kiện có hệ thống đầy đủ của Bộ
Ngoại Giao: “Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa
và Nam Sa là không thể tranh cãi được”. Tiếp theo, một bộ tư
liệu đồ sộ: Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên của nhóm Hoàn Chấn
Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân (dày 795 trang) được bắt đầu biên
soạn từ năm 1985, đến năm 1988 hoàn thành và được nhà xuất bản Phương
Đông (Bắc Kinh) xuất bản, minh hoạ cho nội dung văn kiện Bộ Ngoại
Giao nói trên.
Đọc kỹ và phân tích văn kiện ngoại giao và bộ tư
liệu kể trên, người ta thấy rất rõ những thủ thuật cắt xén, hoặc
suy diễn chủ quan, thiếu cơ sở khoa học để minh chứng chủ quyền
của Trung quốc hoặc với quan niệm “phi lịch sử” để phản bác các
tài liệu lịch sử của Việt Nam.
Trước hết với Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam):
Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng Đông
khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào
năm 1909, là cho rằng quần đảo "Tây Sa" là đất vô chủ
(res nullius). Bản thân hành động của hải quân tỉnh Quảng Đông cắm
cờ trên đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa
năm 1909, đã nói lên chủ ý hành động của Trung Quốc lúc này cho
Hoàng Sa là đất vô chủ.
Sau đó để phản bác những bằng chứng mà chính quyền
thuộc địa Pháp ở Việt Nam nêu lên, Trung Quốc lại đưa ra những luận
điểm như:
“Chính phủ đời Thanh năm 1909 đã cử tới đây
một đơn vị hải quân để nghiên cứu các điều kiện của các đảo và thực
hiện hành vi chiếm hữu thật sự đối với các quốc gia khác trên thế
giới, cờ Trung quốc đã được kéo lên và được chào mừng bởi các loạt
sứng đại bác trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Chính phủ Pháp cùng vào
thời kỳ đó đã không phản ứng gì”
“Trăm năm trước đây Đông Dương vẫn dưới sự bảo
trợ của Trung Quốc, nên các đảo Paracels đã là lãnh thổ của Trung
Quốc, Đông Dương không có quyền gì thực hiện những hành động chiếm
đóng đất đai của tôn chủ họ”.
Theo “Điều 3 Công Ước Trung Quốc ký kết với Pháp
ngày 26-6-1887 hoạch định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, Paracels
ở về phía Đông kinh độ qui định 108o2 Đ đương nhiên thuộc về Trung
Quốc” [ 48 ]
Việc chính phủ Pháp vào thời kỳ ấy chưa phản ứng
ngay hành động xâm phạm của chính quyền địa phương Quảng Đông, theo
luật pháp quốc tế thời ấy không vì thế mà Việt Nam mất chủ quyền.
Không thể coi Việt Nam như nước chư hầu thời phong kiến châu Âu
để mà nói “lãnh thổ Việt Nam hay các đảo Paracels đương nhiên thuộc
Trung Quốc”. Càng không thể nói: “Việt Nam đã xin thần phục “Thiên
Triều Trung Quốc” lại dám xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc suốt ba thế
kỷ”.
Chẳng khi nào xảy ra các đảo Paracels đã là lãnh
thổ Trung Quốc mà các thành viên đội Hoàng Sa làm nhiệm vụ, gặp
bão, trôi dạt vào cảng Thanh Lan năm 1754, được chính quyền Hải
Nam tra xét thực hư, lại chu cấp cho trở về Việt Nam một cách dễ
dàng và được Chúa Nguyễn Phúc Khoát gửi thư cám ơn như Phủ Biên
Tạp Lục cũng như Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đã ghi rành rành như
thế! Công ước Trung - Pháp năm 1887 chỉ quy định biên giới ở “Vịnh
Bắc Kỳ” mà Hoàng Sa ở ngoài vịnh Bắc Kỳ, từ vĩ tuyến 17 trở xuống
nên dẫn Công Ước 1887 là không đúng.
Đến cuối thập niên 40 thế kỷ XX, sau chiến tranh
thế giới thứ hai, Bản Trích Lục Báo Cáo Những Vấn Đề Nghiên Cứu
Quần Đảo Tây Sa do Ủy Ban Thu Thập Biên Soạn Về Tây Sa, Nam Sa của
chính phủ Quảng Đông vào năm 1947 [ 48 ] đề xuất những luận điểm
dưới đây:
Một là Tổng đốc Quảng Đông Trương
Nhân Tuấn vào năm Quang Tự thứ 33, đã phái người ra điều tra Đông
Sa rồi cả Tây sa. Năm Tuyên Thống thứ nhất, phó thủy sư đô đốc Lý
Chuẩn chỉ huy 2 quân hạm Phục Ba, Thấm Hàng, xuất phát từ cảng Du
Lâm đã qua 14 đảo Tây sa, đảo nào cũng đặt tên, khắc đá, cắm cờ,
bắn pháo, công bố trong ngoài đã tốn phí hơn 40 vạn lạng quốc tệ,
có 1 quyển sách ghi chép về tuần biển, đồng thời có đo đạc, vẽ bản
đồ còn cất giữ. Nếu quần đảo này thuộc về nước Pháp, tại sao bấy
giờ chưa nghe thấy có sự phản đối.
Hai là năm Tuyên Thống thứ 1, tổng
đốc Quảng Đông Trương Nhân Tuấn kiến nghị mở mang quần đảo Tây sa,
sai người điều tra, lấy phân chim và phân bón san hô do đảo sản
xuất và quặng lân Đông Sa đem trưng bày ở Nam Dương, Nam Kinh.
Ba là đầu thời Dân Quốc, thương
nhân kinh doanh phân chim quần đảo Tây Sa, qua sự phê chuẩn của
nhà đương cục Quảng Đông trước sau 5 lần.
Bốn là trường Đại Học Trung Sơn
cùng cơ quan Thiên Hậu khu Nam Quảng Đông ra điều tra về mỏ lân
ở Tây Sa.
Năm là Tư lệnh hải quân Pháp ở Sàigòn
đã trả lời cho Công ty thực phẩm Nam Hương của Nhật Bản ngày 20
tháng 9 năm 1920 yêu cầu cho biết Tây Sa có phải lãnh địa của nước
Pháp không? Viên sĩ quan này đã trả lời rằng “Hồ sơ lưu trữ
của hải quân Pháp tuyệt không có tài liệu liên quan đến quần đảo
Tây Sa”. Đến năm Dân Quốc thứ 27, Pháp thông báo cho Anh biết
việc chiếm Tây Sa, lấy lý do cũng chỉ vì Nhật chiếm đảo Hải Nam
uy hiếp An Nam mà chiếm chứ không phải là vì chủ quyền của quần
đảo này.
Sáu là căn cứ vào kiến nghị của
đài trưởng đài quan sát khí tượng An Nam. Bảy là người Trung Quốc
thời Tống, Nguyên đã phát hiện Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch
Đường, căn cứ vào sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Thích (Quát)
đời Nam Tống có chép rằng;
“Năm Trinh Nguyên thứ 5, lấy Quỳnh Châu làm
đốc phủ. Đến Cát Dương là nơi cùng cực của biển quên về theo đường
bộ, bên ngoài có chăng gọi là Ô Lý, là Tô Cát Lãng, phía đối diện
với Chiêm Thành, Tây nhìn sang Chân Lạp, Đông là Thiên Lý Trường
Sa, Vạn Lý Thạch Đường xa rộng, mờ mịt, không bờ bến, trời nước
một mầu”.
“Thuyền bè qua lại chỉ lấy kim chỉ nam làm chuẩn,
ngày đêm coi giữ cẩn thận, mảy may sai lại quan hệ đến sống chết”.
Sau đó, Trung Quốc còn viện dẫn lời Uông Đại Uyên
đời Nguyên trong sách Đảo Di Chí Lược (phụ lục 3.24 )viết: “Trên
sợ Thất Châu, dưới sợ Côn Lôn” (Thượng phạ Thất Châu, Hạ phạ
Côn Lôn) và việc Trịnh Hoà bảy lần xuống Tây Dương, thế tất phải
qua quần đảo Tây Sa cũng như việc ông Phí Tín, Mã Hoan viết lộ trình
từ Phúc Kiến đi về hướng Tây Nam đến Chiêm Thành xuôi gió 10 ngày,
thì hẳn phải qua Tây Sa. Trung Quốc còn viện dẫn phát hiện đồng
tiền Vĩnh Lạc Thông Bảo ở Tây Sa năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 9. Cũng
từ đó các viên chức ngoại giao Trung Quốc luôn khẳng định rằng chủ
quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa là không thể tranh cãi được.
Hầu hết các luận điểm trên đến nay không còn giá
trị và chính Trung Quốc không còn nhắc tới nữa, bởi những bằng chứng
về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam không thể chối cãi là
những phản bác hùng hồn tất cả những luận điểm trên của Trung Quốc.
Trung Quốc có kể hàng trăm hành động từ năm 1909 thì cũng vô ích
vì đó chỉ là những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam.
Không thể vì việc lên tiếng phản đối chậm trễ của
Pháp như đã trình bày trên theo luật pháp quốc tế thời bấy giờ,
mà Việt Nam mất chủ quyền. Còn việc hỏi Tư Lệnh Hải quân Pháp ở
Sài gòn thì đúng là đã không hỏi đúng địa chỉ, nếu hỏi viên Khâm
Sứ Pháp ở Trung Kỳ như Khâm Sứ LeFol hay hỏi Nam Triều về chủ quyền
Hoàng Sa thì chắc chắn sẽ có câu trả lời rõ ràng, xác thực như lời
khẳng định “chủ quyền của Việt Nam không có gì để tranh cãi ở Hoàng
Sa” của thượng thư Thân Trọng Huề vào năm 1925.
Đến khi Cách Mạng Trung Quốc thành công năm 1949,
tài liệu đầu tiên của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đưa ra những luận
điểm về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là bài báo nhan đề “Notes on the Namwei and Sisha Islands”
(không ký tên) đăng trong bán nguyệt san People’s China (Nhân Dân
Trung Quốc) do nhà xuất bản Ngoại Văn (Foreign Language Press) xuất
bản tại Bắc Kinh ngày 1-9-1951. Như thế,so với trước năm 1949, Trung
Quốc đã bắt đầu quan tâm hơn đến luận điểm cho rằng chủ quyền về
Hoàng Sa của Trung Quốc đã có từ lâu đời, với nhiều luận cứ, luận
chứng, còn công việc “chiếm hữu theo cung cách Phương Tây” như cắm
cờ, bắn 21 phát súng đại bác vào năm 1909 chỉ là thứ yếu.
Như thế Trung Quốc cơ bản đã thay đổi luận điểm,
thay vì cho rằng vào thời điểm năm 1909, quần đảo Tây Sa là vô chủ
và Trung Quốc đã có “hành động chiếm hữu”, nay lại cho rằng quần
đảo Tây Sa đã thuộc về Trung Quốc từ lâu đời. Sau khi dùng vũ lực
một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa vào trung tuần tháng
giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán
ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của
các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo
Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung
Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các
triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu
lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh nhật báo, 24
tháng 11 năm 1975).
Sau đó như đã nói trên, ngày 30 tháng 1 năm 1980,
Bộ Ngoại Giao Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa đã công bố văn kiện ngoại
giao, chính thức hoá những luận điểm đã đưa ra trong bài báo nói
trên và năm 1988, đã xuất bản bộ tư liệu đồ sộ của Nhóm Hàn Chấn
Hoa như đã nêu trên đây.
Nói gì thì nói, cho dù Trung Quốc tìm kiếm được bằng
chứng phát hiện thật sớm hơn đời Hán, chứ không phải chỉ đời Tống
như hồi ban đầu, thì người Hán cũng chỉ vượt qua sông Dương Tử xuống
đất Bách Việt, rồi tới Hải Nam và Biển Đông rất chậm sau những cư
dân bản địa, Bách Việt trong đó có Lạc Việt hay người Lê ở Hải Nam
cũng có ở Thanh Hoá Việt Nam và cũng phải đến sau những cư dân dọc
miền Trung Việt Nam trong đó có người Chăm, một thành phần của cộng
đồng dân tộc Việt Nam hiện nay.
Người Chăm lại là những người rất giỏi đi biển. Các
vua Chămpa đã nhiều lần đi biển và có vua đã bị chết trên Biển Đông.
Đó là chưa kể hầu hết những tài liệu Trung Quốc dẫn chứng đều là
sách viết về nước ngoài “chư phiên”, tức không phải chép việc của
Trung Quốc như Nam Châu Dị Vật Chí (phụ lục 3.25) của Dương Phù,
Chư Phiên chí (phụ lục 3.26 ) của Triệu Nhữ Quát.
Vả lại với cơ sở pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ XX
đến nay, việc chiếm hữu thật sự, hoà bình cùng sự thực thi liên
tục mới có giá trị, nên điều đáng quan tâm trong các luận điểm mới
của Trung Quốc là những bằng chứng giả tạo về sự quản hạt sớm nhất
của Trung Quốc được ghi trong các tài liệu nghiên cứu của nhóm Hàn
Chấn Hoa cũng như trong tản mát các tài liệu khác cũng như trong
văn kiện ngoại giao sách trắng năm 1980 của Trung Quốc.
Trung Quốc đã cố gắng tìm ra địa danh có trong lịch
sử Trung Quốc để cố gán ghép cho quần đảo Tây Sa như Cửu Nhũ Loa
Châu, vốn là một hòn đảo ven biển Trung Quốc. Vả lại ngay như tài
liệu Trung Quốc viện dẫn, chính Cửu Nhũ Loa Châu lại ở phía Đông
của Nhai Châu của đảo Hải Nam như tấm bản đồ “Quảng Đông Dương Đồ”
trong sách Dương Phòng Tập Yếu hoặc Thất Châu Dương chép trong một
số sách như Tuyền Châu Phủ Chí (đời Thanh) hoặc trong sách Độc Sử
Phương Dư Kỷ Yếu, vốn chỉ cách huyện Văn Xương của Hải Nam về phía
Đông 100 dặm.
Trong khi đó, phía Đông của đảo Hải Nam lại không
phải là quần đảo Tây Sa. Để minh chứng cho sự xác lập chủ quyền
của mình ở Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc
lại cũng đưa ra những luận điểm được coi là vững mạnh “nhất” như
sau:
Một là Trung Quốc khẳng định các
đảo Nam Hải đã thuộc phạm vi quản hạt của Trung Quốc từ năm thứ
5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường năm 789. Đúng sử sách Trung Quốc
như sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát có chép những thay đổi
về qui chế hành chính từ đời Hán đến đời Tống, trong đó có việc
Quỳnh Sơn, một quận của đảo Hải Nam thời đó ( xin nhấn mạnh) (nay
thuộc thành phố Hải Khẩu) được đặt thành “phủ đô đốc” vào năm thứ
5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường tức năm 789. Nhưng qua các sách
Đường Thư, Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Dư Địa Kỷ Thăng (1221), Quảng Đông
Thông Chí (1842) thì vào năm thứ 5 niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường
tại đảo Hải Nam, chỉ thấy có chuyện kể viên đô đốc nhà Đường là
Lý Phục mang quân sang lấy lại đảo Hải Nam sau hơn 100 năm dân bản
địa nổi dậy làm chủ đảo và xin vua Đường đặt phủ đô đốc ở quận Quỳnh
Sơn, không hề có chuyện “sáp nhập bất kỳ đảo ở biển Nam Trung Hoa
vào đảo Hải Nam”. [ 58 ]
Hai là việc Trung Quốc
phái thủy quân đi “tuần tiễu”, Trung Quốc đã viện dẫn các sự kiện
để chứng minh. Đó là việc triều đình Bắc Tống “đặt định thủy quân
tuần tiễu” ở Quảng Châu, chép trong Vũ Kinh Tổng Yếu của Tăng Công
Lượng đời Tống (960-1279, việc viên tướng nhà Nguyên đi qua “Thất
Châu Dương, Vạn Lý Thạch Đường” trên đường đi đánh Java năm 1293,
chép trong Nguyên Sử, hay việc chính quyền Quảng Đông phái binh
thuyền ra biển phòng ngự, chép trong Quảng Đông Thông Chí của Vương
Tá, đời Minh (1368-1644); việc viên phó tướng Quảng Đông Ngô Thăng
đi tuần từ Quỳnh Nhai đến Tứ Canh Sa khoảng năm 1700-1712, chép
trong Tuyền Châu Phủ Chí của Hoàng Nhiệm, đời Thanh (1616-1911).
Trước hết về luận cứ "phái thủy quân tuần tiễu
cương giới biển", luận chứng của nhóm Hàn Chấn Hoa chỉ dựa
vào một đoạn trong sách Vũ Kinh Tổng Yếu, với nội dung như sau:
"Quận Nam Hải thuộc Quảng Châu là đất Bách
Việt xưa đều là nơi người Man, người Đản cư trú. Từ đời Hán về sau
đặt thành quận huyện. Đời Đường đặt làm Thanh Hải quân tiết độ.
Bản Triều dẹp Lưu Xương, lại đặt phương trấn, làm một nơi đô hội,
nắm binh giáp, giặc giã mười sáu châu, người Phiên, người Hán ở
lẫn lộn. Sai quân nhà vua ra trấn giữ, đặt dinh lũy thủy quân tuần
biển ở hai cửa biển Đông và Tây, rộng 280 trượng cách đồn Môn Sơn
200 dặm. Đóng tàu chiến kiểu đao ngư. Nơi đó (nơi đặt dinh lũy thủy
quân) phía Đông Nam đến biển cả 40 dặm, phía Đông đến Huệ Châu 420
dặm, phía Tây đến Đoan Châu 240 dặm, phía Nam đến An Châu 750 dặm,
phía Bắc đến Thiều Châu 250 dặm. Đường biển về phía Đông Nam 400
dặm. Đến đồn Môn Sơn 20 dặm, ngày có thể đi 50 dặm, cộng là 200
dặm. Từ Đồn Môn Sơn dùng gió Đông đi về phía Tây Nam bảy ngày đến
Cửu Nhũ Loa Châu, ba ngày nữa đến Bất Lao Sơn (thuộc địa giới nước
Hoàn Châu - nguyên chú thích của tác giả), lại đi ba ngày nữa về
phía Nam đến phía Đông Lăng Sơn (có nước ngọt - nguyên chú thích
của tác giả) . Đi nữa về phía Tây Nam là các nước Đại Thực, Phật
Sư Tử, Thiên Trúc không tính được hành trình" [58 ]
Những đoạn văn này hoàn toàn không chứng minh được
lập luận "Trung Quốc phái thủy quân tuần tiễu quần đảo Tây
Sa bắt đầu đời Tống”.
Trước hết nhóm Hàn Chấn Hoa đã cố gán ghép hai đoạn
văn vào với nhau gồm đoạn văn nói về lộ trình "Từ đồn Môn Sơn
đến các nước Đại Thực, Phật Sư Tử, Thiên Trúc” tiếp liền vào đoạn
văn đầu viết về "đặt dinh lũy thủy quân tuần tiễu ở hai cửa
biển Đông và Tây".
Điều này không đúng với nguyên bản Vũ Kinh Tổng Yếu
[ 58 ]. Đây chỉ là sự cố gán ghép "đầu Ngô mình Sở" để
cố minh chứng việc tuần tiễu thủy quân đời Tống qua đất "Cửu
Nhũ Loa Châu" mà nhóm này cho là Tây Sa. Song ngay địa danh
Cửu Nhũ Loa Châu cũng không có bằng chứng nào chắc chắn là Tây Sa,
trong khi có nhiều bằng chứng như đã trình bày chỉ là nhóm hòn đảo
ven bờ biển Trung Quốc.
Vả lại, không chỉ có Cửu Nhũ Loa Châu mà còn có những
nơi khác cũng được đề cập trong lộ trình đến các nước Đại Thực,
Thiên Trúc chẳng lẽ lại cũng thuộc về lãnh thổ Trung Quốc hay sao?
Đây là điều thật phi lý.
Về sự kiện tướng nhà Nguyên đi đánh Java năm 1293
thì khỏi phải bàn vì đây rõ ràng là cuộc xâm lược! Vả lại cũng thật
hồ đồ, sao có thể chắc chắn đoàn quân xâm lược ấy lại phải đi qua
Tây Sa, Nam Sa! Biển Đông vốn rộng mênh mông! Về việc chính quyền
Quảng Đông đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự, nhóm Hàn Chấn
Hoa dẫn sách Quảng Đông Thông Chí của Hoàng Tá đời Minh có đoạn
viết rằng:
"Đốc phái binh thuyền ra biển phòng ngự
… Từ cửa Nam Đình,(thuộc huyện Đông Hoàn) ra khơi đến ba biển Ô
Chư, Độc Chư, Thất Châu lấy kim la bàn (hướng) Khôn Mùi đến Ngoại
La”.
Để từ đó nói rằng từ đời Minh, Thanh trở đi, vùng
biển quần đảo Tây Sa, Nam Sa vẫn được đặt vào phạm vi tuần tiễu
của thủy quân (Trung Quốc) [58]
Xem đoạn văn trích dẫn trên, người ta thấy nội dung
tới từ hai sách khác nhau. Trong Quảng Đông Thông Chí, người ta
chỉ thấy một đoạn như sau:
"Cướp biển có ba đường, đặt quân quan chống
Ủûy (Nhật Bản) để phòng thủ, cuối Xuân đầu Hạ, khi gió thổi đốc
phái binh thuyền ra biển phòng ngự. Đường giữa từ Nam đầu Thành,
huyện Đông Hoàn, ra cửa Phật Đường, cửa Chữ Thập, Lãnh Thủy Giác,
các vùng biển" [ 58 ].
Tác giả chép việc tuần phòng vùng biển ven bờ tỉnh
Quảng Đông để chống nạn cướp biển Nhật Bản. Còn trong Hải Ngữ của
Hoàng Trung (1563) thì chép:
"Nước Xiêm La ở trong Biển Nam. Từ cửa Nam
Đình (thuộc huyện) Đông Hoàn ra khơi, đi về phía nam đến Ô Chư,
Độc Chư, Thất Châu (chú giải của tác giả : tên ba biển), kim la
bàn (hướng) Khôn - Mùi đến Ngoại La (Cù Lao Ré), kim Khôn-Thân,
45 trình đến cảng cũ Chiêm Thành (Qui Nhơn ngày nay), qua Đại Phật
Linh Sơn (Mũi Đại Lãnh), trên có đài đốt lửa là thuộc Giao Chỉ,
kim Mùi đến Côn Lôn Sơn (Côn Đảo ngày nay), lại kim Khôn-Mùi đến
Đồi Mồi Châu, đồi mồi ở Qui Sơn, kim Dậu vào cảng Xiêm La"
[58].
Tác giả chép đường biển từ cửa Nam Đình (cửa sông
Châu Giang) đến Xiêm La, tức Thái Lan ngày nay. Như thế, các tác
giả Bộ sưu tập đã cắt xén và ghép lời văn của hai tác phẩm khác
nhau trên đây thành lời văn của Quảng Đông thông chí theo dụng ý
của mình: Bằng cách gán ghép câu chữ như thế, bản thân tài liệu
đã mất đi giá trị chưa nói gì đến cái gọi là bằng chứng chứng minh
chủ quyền. [58]
Qua ghi chép ở hai cuốn sách trên,thấy rõ cuộc tuần
tra biển của thủy quân Trung Quốc lúc đó chỉ là "phòng ngự"
nhằm chống cướp biển đến từ nước Nhật mà thôi, không hề có chuyện
tuần tiễu quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Còn việc tuần tiễu của Ngô Thăng,
trước hết tìm hiểu vị trí các địa danh trên chúng ta được biết Quỳnh
Nhai là thủ phủ Quỳnh Châu ở phía Bắc đảo Hải Nam, Đồng Cổ là quả
núi cao 339m ở phía Đông Bắc đảo Hải Nam, Thất Châu Dương là phía
Đông đảo Hải Nam, Tư Canh Sa là bãi cát phía Tây đảo Hải Nam. Đây
chỉ là cuộc tuần tiễu của Ngô Thăng quanh đảo Hải Nam, chứ không
đến Tây Sa nên nhớ rằng Thất Châu Dương ở phía Đông đảo Hải Nam
nên không hề là Tây Sa tức Hoàng Sa của Việt Nam, vốn cách Hải Nam
hơn 350 hải lý về phía Đông Nam. [ 58 ]
Ba là việc đo đạc thiên văn của
Quách Thủ Kính năm 1279. Nguyên Sử chỉ chép rằng "Quách
Thủ Kính tiến hành đo đạc thiên văn " bốn biển" năm 1279
theo lệnh của vua Nguyên (quyển 48, tờ 7a -7b) để tìm hiểu vận động
của vũ trụ (mặt trời, mặt trăng, các vì sao) để làm lịch mới (quyển
164, tờ 4b - 5a) và tiến hành đo đạc ở 27 nơi trong đó có cả Cao
Ly, Thiết Lặc ( thuộc Sibia), Bắc Hải và Nam Hải. Ở Nam Hải, Quách
Thủ Kính đo ở 15 0 Bắc cực (tương đương với vĩ độ 14 047 B)"
[58]
Chúng tôi cũng xin dẫn thêm các chính sử của Việt
Nam như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán
triều Nguyễn đã trích thiên Nghiêu Điển trong Kinh Thư mà Khổng
Tử đã san định, chép rằng: “Vua Nghiêu lại sai Hy Thúc đến ở
Nam Giao (Giao Chỉ tại phương Nam), sắp đặt việc làm ruộng theo
thời tiết ở phương Nam, kính cẩn ghi bóng mặt trời ngày hạ chí là
ngày dài nhất và xem sao Đại Hoả ở phương Nam để định cho đúng tiết
trọng hạ, lúc đó dân cư tản mác." (Quốc Sử Quán nhà Nguyễn
( bài dịch), Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tiền biên,
quyển nhất, Sài gòn, Bộ Văn Hoá Giáo Dục, 1965, tr 27)
Sự kiện trên đây nếu theo cách lý luận của các nhà
nghiên cứu Trung Quốc chẳng lẽ lại giúp cho Trung Quốc khẳng định
cương vực Trung Quốc đã bao gồm cả đất Giao Chỉ tự đời Đường Nghiêu
(bao gồm cả Tây Sa) chứ không phải chỉ sau này đời Tần, đời Hán!
Vì thế, việc đo đạc thiên văn không thể lấy làm cơ sở để xác lập
chủ quyền. Điều quan trọng là nhiều tài liệu, trong đó các bản đồ
của Trung Quốc xuất bản trước năm 1909 đều xác định cực Nam của
Trung Quốc ở đảo Hải Nam ( xem các tài liệu dẫn ở dưới đây).
Bốn là các đảo Nam Hải đã được vẽ
vào bản đồ Trung Quốc. Các tác giả bộ sưu tập do Hàn Chấn Hoa chủ
biên cũng rất công phu đưa ra 13 bản đồ và chia làm hai loại.
Một loại là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh có vẽ các đảo Nam
Hải. Một loại khác là bản đồ Trung Quốc thời Minh Thanh và các nước
Phiên thuộc, cũng có vẽ các đảo Nam Hải.
Nghiên cứu kỹ các bản đồ mà Trung Quốc viện dẫn,
người ta thấy ngay các bản đồ loại 1 trên tức bản đồ Trung Quốc
đời Nguyên, Minh, Thanh có vẽ các hải đảo như bản đồ Trực tỉnh hải
dương tổng đồ trong Dương Phòng Tập Yếu không những có tên Vạn lý
Trường Sa, lại còn vẽ các địa danh khác như Tiểu Lưu Cầu, Đại Lưu
Cầu (nay là quần đảo Ryu - Kyu của Nhật), Đối Mã (đảo Tsuma của
Nhật). Chẳng lẽ những đảo trên của Nhật Bản có trên bản đồ Trực
Tỉnh Hải Dương Tổng Đồ cũng thuộc lãnh thổ Trung Quốc như Vạn lý
Trường Sa mà Trung Quốc đã gán ghép hay sao? Hoặc như bản đồ Quảng
Đông Dương Đồ cũng trong Dương Phòng Tập Yếu cũng ghi tên Cửu Nhũ
Loa Châu của hình núi cao (3 chóp non) và nằm cạnh Lê Đầu Sơn, Nam
Bành, hai địa danh này người ta lại thấy trên bản đồ phòng thủ biển
trong Quảng Đông Thống Chí Ngũ Nguyên ( 1822) chính lại là tên những
đảo ven bờ. Cửu Nhũ Loa Châu chính lại là địa danh của hòn đảo gần
bờ biển Trung Quốc, không phải là tên quần đảo Tây Sa Trung Quốc
mới đặt sau năm 1907.
Đối với loại bản đồ thứ hai là "loại bản đồ
Trung Quốc đời Minh Thanh và các nước phiên thuộc" lại càng
khó chứng minh bằng bản đồ, đảo nào thuộc Trung Quốc!
Trong khi ấy tất cả những loại bản đồ cũng như các
sách địa dư do nhà nước biên soạn từ đời Tống (960 -1279) đến đời
Thanh (1616 - 1911) lại không hề vẽ và ghi các đảo ở biển Nam Hải.
Ngược lại có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên,
Minh đến Thanh trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh
chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ,
xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910 đã vẽ cực nam của
lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào
khác ở Biển Đông và bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ
trong cuốn HoàngThanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang
Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu,
phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18độ 30phút Bắc, trong khi Tây Sa hay
Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17độ
5phút. Ngoài ra còn rất nhiều bản đồ của Trung Quốc khác, vẽ trước
năm 1909 đều xác định điểm cực Nam Trung Quốc là đảo Nam Hải. (Xem
các bản đồ của Trung Quốc trong phần hình ảnh) .
Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là
lãnh thổ của Trung Quốc.
Năm là vào năm 1883, người Đức tiến hành điều tra
quần đảo Tây Sa. Chính phủ Trung Quốc kháng nghị, người Đức đã ngừng
công việc này. Đây là luận điểm cũng rất tiêu biểu về sự mơ hồ của
Trung Quốc, chẳng có bằng chứng cụ thể về sự kiện này cả. Trong
khi có rất nhiều bằng chứng cho biết việc người Đức điều tra đo
đạc từ năm 1881 đến 1884 ở hấu hết các vùng biển từ Hải Nam đến
Bắc Hải, Vi Châu đến tận Hạ Môn, Phúc Châu không có gì trở ngại,
có kết quả tốt mà Sở Thủy đạc hải quân (Pháp) đã sử dụng vẽ bản
đồ Mer de Chine Méridionale - Archipel des Paracels, xuất bản năm
1885, mang mã số 4104, ghi rất rõ là"d'après les levés Allemands"
(1881-1883).
Trên đây là những luận cứ, luận chứng được “coi là
mạnh nhất” của Trung Quốc để dẫn chứng cho việc xác lập chủ quyền
của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Không cần nói nhiều đến những luận cứ rất yếu như
chính quyền địa phương Trung Quốc đã cứu giúp tàu thuyền nước ngoài
lâm nạn, viện dẫn 2 vụ việc thuyền nước ngoài bị đắm ở Cửu Châu
Dương (thuộc Vạn Châu) và ở Thất Châu Dương xảy ra vào đời Càn Long
thứ 20 (1755) và năm thứ 29 (1762), chính phủ nhà Thanh lệnh cho
quan chức địa phương chu cấp cho người sống sót về nước. Những vụ
đắm tàu lâm nạn trên cũng được chép cách sau rất lâu vụ đắm tàu
của những người lính Hoàng Sa được chúa Nguyễn sai đi làm nhiệm
vụ của đội Hoàng Sa, chẳng may gặp bão dạt vào cảng Thanh Lan được
chính quyền Quỳnh Nhai thuộc đảo Hải Nam tra xét đúng sự thực đã
chu cấp tử tế và đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát viết thư cám ơn
(như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn và Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
ghi rất rõ). Đối với Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) Khác với
quần đảo Hoàng Sa hiện chỉ có Trung Quốc xâm phạm, chủ quyền quần
đảo Trường Sa hiện có nhiều nước xâm phạm: Trung Quốc (gồm cả Đài
Loan), Philippines, Malaysia, Brunei.
Sự xâm phạm của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt
Nam ở Trường Sa thật sự xảy ra chậm hơn, chỉ bắt đầu từ chiến tranh
thế giới thứ 2 mà lại sau cả Nhật Bản. Nước này, vì nhu cầu chiến
tranh cần chiếm các vị trí quân sự chiến lược để kiểm soát Biển
Đông. Vào năm 1939, Nhật chiếm đảo lớn nhất Itu Aba mà Việt Nam
gọi là Ba Bình, song tại Hội nghị San Francisco năm 1951, Nhật đã
từ bỏ sự tranh chấp này. Hiện Đài Loan đã chiếm đảo lớn nhất Ba
Bình (Itu Aba), còn Trung Quốc chỉ mới chiếm bằng vũ lực gồm 9 đá
ngầm từ năm 1988 , Philippines chiếm 9 đảo và đá ngầm (4 đảo) ở
phía Đông quần đảo; Malaysia chiếm 5 đá ngầm ở phía Nam. Brunei
đòi chủ quyền vùng biển sát họ.
Indonésia và Việt Nam đã đàm phán nhiều lần về phân
định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo Công Ước Biển 1982.
Indonésia không có một tham vọng nào về chủ quyền lãnh thổ trên
quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam đang trấn
giữ 22 đảo, bãi đá ngầm (6 đảo) (Xem các bản đồ tình hình tranh
chấp hình số (3.57), (3.58), (3.59), (3.60), (3.61), (3.62) và danh
sách các đảo bị chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa ).
Vào năm 1909, Trung Quốc chỉ mới đặt vấn đề và có
hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Tây Sa tức
Hoàng Sa, chưa đề cập đến Nam Sa tức Trường Sa của Việt Nam. Từ
năm 1935, để phản ứng hành động của chính quyền thực dân Pháp ở
Việt Nam, Trung Quốc mới bắt đầu dịch hết các tên hải đảo ở Biển
Đông và gọi Nam Sa là quần đảo Macclessfield.
Đến năm 1947, Trung Quốc mới gọi Nam Sa để chỉ Trường
Sa của Việt Nam tức quần đảo Spratley. Như thế, từ thập niên 30
đến 70, ban đầu Trung Quốc chỉ đưa ra luận điểm “Nam Sa thuộc lãnh
thổ Trung Quốc từ lâu đời bất khả tranh nghị”, sau đó, cũng như
quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc mới đưa ra luận điểm “Trung Quốc là
nước phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất” và “quản hạt sớm
nhất”! Thời gian thì lại bất nhất. Khi thì vào đời Tống, khi thì
vào đời Hán.
Từ thập kỷ 80 trở đi, trong văn kiện Bộ Ngoại Giao
ngày 30-1-1980, cũng như trong Bộ Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa,
Trung Quốc bắt đầu đưa những tài liệu lịch sử để minh chứng những
luận điểm, luận cứ của họ. Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980 đã
dẫn cuốn Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn và cuốn Phù Nam truyện
của Khang Thái đời Tam Quốc.
Nghiên cứu nội dung của Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn
Chấn và Phù Nam Truyện của Khang Thái đời Tam quốc, chúng ta không
thấy có bằng chứng nào về sự phát hiện quần đảo Nam Sa cũng như
Tây Sa. [ 58 ] Các nhà nghiên cứu Trung Quốc như nhóm Hàn Chấn Hoa
đã tìm kiếm trong sách sử những địa danh như Từ Thạch, Trường Thạch,
Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, Trường Sa, Thạch Đường,
là những đảo san hô hay cát ven biển hoặc vùng biển ven bờ để chú
giải, gán ghép cho Nam Sa mà chính địa danh Nam Sa này cũng chỉ
mới đặt ra và lại di chuyển như đã nêu trên, từ đảo Macclesfield
(năm 1935) đến vùng Spratly (năm 1947), một khoảng cách xa hơn 500
cây số về phía Nam.
Sự tùy tiện gán ghép của các nhà nghiên cứu Trung
Quốc được thể hiện rất rõ khi thì Vạn Lý Thạch Đường chỉ Tây Sa,
Trung Sa, lúc thì chỉ Nam Sa. Văn kiện ngoại giao ngày 30-1-1980
còn dẫn các sách Mộng Lương Lục đời Tống, Đảo Di Chí Lược đời Nguyên,
Đông Tây Dương Khảo và Thuận Phong Tương Tống đời Minh, Chỉ Nam
Chinh Pháp và Hải Quốc Văn Kiến Lục đời Thanh, cho rằng những sách
đó không những đã lần lượt đặt cho 2 quần đảo Tây Sa và Nam Sa những
tên “Cửu Nhũ Loa Châu”, “Thạch Đường”, “Thiên Lý Thạch Đường”, “Vạn
Lý Thạch Đường”, “Trường Sa”, “Thiên Lý Trường Sa”, “Vạn Lý Trường
Sa” v.v
mà còn đặt cho các đảo đá ngầm và bãi cát thuộc 2 quần
đảo này nhiều tên gọi hình tượng linh động.
Chúng ta thử lật từng trang các sách dẫn trên hoặc
coi những đoạn trích mà các nhà nghiên cứu như nhóm Hàn Chấn Hoa
đã dẫn ra để chứng minh cho chủ quyền của Trung Quốc. Sách Mộng
Lương Lục của Ngô Tự Thu viết năm 1275 không viết gì ngoài việc
đề cập đến địa danh Thất Châu và Thất Châu Dương Côn Lôn, trong
một đoạn văn như sau: “Nếu dùng thuyền đi vòng ra nước ngoài buôn
bán, thì ra biển từ Tuyền Châu, đi liên tiếp qua Thất Châu Dương,
ở thuyền dò nước sâu hơn 70 trượng. Từ xưa người đi thuyền đã nói:
“Đi sợ Thất Châu, về sợ Côn Lôn” cũng sâu hơn 50 trượng. Nếu người
buôn chỉ đến Đài Ôn, Tuyền Phúc buôn bán, không phải qua biển lớn
Thất Châu Dương và Côn Lôn. Nếu có ra biển tất phải từ cảng Tuyền
Châu, đến cửa Đại Dũ mới có thể ra biển đi rộng ra nước ngoài.”.
Thế mà nhóm biên tập Hàn Chấn Hoa ghi chú rằng Thất
Châu ở đây là quần đảo Nam Sa, còn Thất Châu Dương chỉ vùng biển
một dải quần đảo Tây Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền thuộc Trung
Quốc! [ 58 ]. Sách Đảo Di Chí Lược của Uông Đại Uyên đời Nguyên
cũng chỉ đề cập đến Côn Lôn, Thạch Đường, Vạn Lý Thạch Đường và
cho rằng:
“ngày xưa núi Côn Lôn còn gọi là quần đồn sơn.
Núi cao mà vuông, bệ chân núi mấy trăm dặm rành rành giữa biển cả
đứng thành thế chân vạc với Chiêm Thành và núi Tây Trúc, dưới có
biển Côn Lôn, nhân đó mà có tên ấy. Thuyền buôn đi Tây Dương phải
qua (biển đó) cho nhanh, thuận gió thì 7 ngày đêm có thể vượt qua
được. Ngạn ngữ nói “Trên có Thất Châu, dưới có Côn Lôn””. Sách Đảo
Di Chí Lược còn chép rằng vỉa đá (xương) Thạch Đường sinh ra từ
Thiều Châu liên tiếp như con rắn dài, nằm ngang kéo dài trong biển.
Các nước vượt biển có câu: “Vạn Lý Thạch Đường”.
Thuyền từ cửa Đại Dũ treo 4 buồm, cưỡi gió rẽ sóng
trên biển như bay đến Tây Dương, có thể mất hơn 100 ngày, lấy số
dặm đi được trong một ngày đêm mà tính thì vạn dặm cũng chưa đủ.
Một mạch đến Qua Da (30), một mạch đến Bột Nê (31) đến Cổ Lý (địa
muộn), một mạch đến đất Côn Lôn xa xôi của Tây Dương cho nên Tử
Dương Chu Tử nói rằng đất hải ngoại cùng mạch đất Trung Nguyên liên
tiếp nhau có phải thế không? Xem biển cả mênh mông không bờ bến,
trong ẩn dấu Thạch Đường, ai mà rõ được? [ 58 ] Thế mà nhóm Hàn
Chấn Hoa ghi chú núi Côn Lôn là quần đảo Nam Sa và biển Côn Lôn
cũng chỉ quần đảo Nam Sa và hàm ý minh chứng chủ quyền thuộc Trung
Quốc!
Nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú rằng “Đăng Điền Phong
Bát cho rằng Vạn Lý Thạch Đường là quần đảo Trung Sa. Chúng tôi
(nhóm Hàn Chấn Hoa) cho rằng: Thạch Đường đã phân bố tại các khu
vực từ Triều Châu đến Java đến Bột Nê (Calimanlan), Cổ Lý địa muôn
(đảo Đế Uẩn) và Côn Lôn. Như vậy Vạn Lý Thạch Đường rõ ràng bao
gồm các đảo Nam Hải trong đó có các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung
Sa, Nam Sa”. [ 48 ]
Đông Tây Dương Khảo của Chương Tiếp (đời Minh) quyển
9, Châu Sư Khảo, Tây Dương Châm Lộ, bản có lời tựa năm Mậu Ngọ Vạn
Lịch đời Minh (1618) cũng vậy, có đoạn chép rõ vị trí của Thất Châu
Dương, Vạn Lý Thạch Đường như sau: “Ở Chư Sơn dùng kim la bàn đến
thành Tây Nam, đến khoảng 13 canh đến Thất Châu Sơn, Thất Châu Dương
(Quỳnh Châu)",và chỉ nói rằng:
"Trong biển phía Đông huyện Văn Xương 100
hải lý có núi, nhô liền 7 ngọn, trong có suối, nước ngọt ăn được
là nơi quân của Lưu Thân nhà Nguyên đánh đuổi Tống Đoạn Tông bắt
được người thân của vua Tống là Du Diên Khuê".
“Tục truyền xưa đây là Thất Châu, chìm xuống
thành biển, thuyền qua dùng sinh (Lòng trâu hoặc dê), cháo tế vua
đi tuần biển nếu không hung thần làm ác, thuyền qua đó rất nguy
hiểm. Hơi lấn sang phía Đông là Vạn Lý Thạch Đường tức là cái mà
Quỳnh Chi gọi là Thạch Đường Hải. Thuyền phạm vào Thạch Đường ,
ít cái thoát được. Thất Châu Dương đo độ sâu nước 130 sải".
“Thuyền đến Thất Châu Dương và Ngoại La gặp
mấy ngày này cần nhắc thân thuyền, không được lệch về Tây, Tây không
có nước, cần trệch về phía Đông. Phàm đi thuyền, phải xem nước phía
Tây sắc xanh, thấy nhiều ‘bãi lãng ngư’ (là lạng sóng), lấn về Đông
tất mầu nước đen; mầu xanh, có cây gỗ mục trôi và chim vịt kêu,
tiếng như chim trắng đuôi mang đen ấy là hướng đúng (chính chân).
Nếu ngại vào mà cho thuyền chạy lệch về phía Đông, chạy trong 7
canh là Vạn Lý Thạch Đường trong có 1 núi đá đỏ không cao. Nếu thân
thuyền cạn lại thấy đá phải đề phòng cẩn thận!” [ 48 ].
Đến đây, nhóm Hàn Chấn Hoa ghi chú Thất Châu Dương
là Tây Sa, Thất Châu, Vạn Lý Thạch Đường
chỉ chung các đảo Nam
Hải.
Sách Thuận Phong Tương Tống chép:
“Ngày xưa các bậc tiên hiền Thượng Cổ đi trên
biển, đều sử dụng phổ biến la bàn 24 vị (ngôi). Đường chính đi Thất
Châu Dương trên không rời Cấn (Đông Bắc đến Đông) dưới không rời
Khôn (Tây Nam đến Tây)” [58].
Hải Đạo Chân Kinh là hợp biên hai sách Thuận Phong
Tương Tống và Chỉ Nam Chính Pháp (cuối Khang Hy nhà Thanh) có đoạn
chép:
“Thất Châu Dương nước sâu 120 thác (sải tay).
Khi đi và khi về, tế cô (những cô hồn) bằng tam sinh (lợn, trâu,
dê) rượu ngọt, cháo. Thuyền lấn sang Đông chim nhiều, lấn sang Tây
cá nhiều" [ 58 ].
“Giao Chỉ Dương thấp phía Tây, có đảo cỏ, nước
chảy xiết, có lau sậy nhiều củi, các cá bay, lấn sangTây có bái
phong ngư. Đo độ sâu của nước được 45 sải. Lấn sang phía Đông đi
thuyền 7 canh có Vạn Lý Thạch Đường” [ 58 ].
Sách Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh cũng
chép vị trí của Vạn Lý Trường Sa:
"Phía Nam ngấn cát nối tiếp đến Việt Hải
là Vạn Lý Trường Sa. Phía nam cách một biển gọi là Trường Sa Môn.
Lại từ đầu phía nam cũng sinh ngấn cát đến Vạn Châu ở Quỳnh Hải
gọi là Vạn Lý Trường Sa. Phía nam bãi cát ấy lại mọc đá rạng đến
biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Trường Sa Môn ấy với
Nam Áo ở phía tây bắc và với đảo Đại Tinh ở Bình Hải đứng đối nhau
như ba chân vạc. Trường Sa Môn từ nam đến bắc rộng ước 5 canh đường.
Những thuyền Phiên, tàu Tây qua lại với các nước Nam Dương, Lữ Tông,
Văn Lai, Tô Lộc đều do Trường Sa Môn mà ra. Gió bấc thì lấy Nam
Aùo làm chuẩn, gió nồm thì lấy Đại Tinh làm chuẩn. Duy từ các tỉnh
Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến đi sang Đông Nam Dương thì qua
Sa Mã Kì Đầu Môn ở Đài Loan mà đến các nước Lữ Tống. Thuyền Tây
Dương đi phía Đông biển Côn Lôn Thất Châu ở phía ngoài Vạn Lý Trường
Sa, qua Sa Mã Kì Đầu Môn mà đến Phúc Kiến và Chiết Giang. Thuyền
Nhật Bản thì lấy thẳng đường dây cung mà đến Trung Quốc, đến Nam
Dương thì đi phía ngoài Vạn Lý Trường Sa, mênh mông không lấy gì
làm chuẩn được, đều từ Việt dương trong khoảng các đảo ấy mà đến
Thất Châu” [58 ].
Đến đây sách Hải Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh
(đời Nhà Thanh) đã bắt đầu viết rõ về vị trí của Vạn Lý Trường Sa
song không có cơ sở để nói rằng Vạn Lý Trường Sa chỉ Nam Sa hay
Trường Sa của Việt Nam. Càng không thể là bằng chứng về sự xác lập
chủ quyền của Trung Quốc trên quan điểm này.
Thật rối mù và tùy tiện! Khi thì các học giả Trung
Quốc cho Vạn Lý Thạch Đường chỉ quần đảo Trung Sa (32), có khi là
Vạn Lý Thạch Đường lại là quần đảo Tây Sa (đảo “Đá Đỏ” - Hồng Thạch
Dữ), lúc là “Thạch đảo” (đảo đá) trong cụm đảo Thượng Thất Đảo thuộc
quần đảo Nam Sa, khi Thạch Đường chỉ quần đảo Đông Sa. Đông Sa đã
di chuyển đầu tiên từ chỗ gần bờ biển Quảng Đông tới vị trí hiện
nay; khi thì cho “Thiên Lý Thạch Đường” chỉ quần đảo Nam Sa. Trong
phần chú của Hải Quốc Văn Kiến Lục, khi ghi chú Thiên Lý Trường
Sa, Vạn Lý Thạch Đường chỉ chung các đảo Nam Hải.
Trong phần chú các sử sách đời Thanh như trong dẫn
chứng Tổng Đồ vẽ phủ châu huyện sách đời Thanh năm 1800, trong Thanh
Hội Phủ Châu Huyện sách Tổng đồ do Hiền Phong vẽ năm 1800, lại chỉ
Thất Châu Dương là quần đảo Tây Sa. Có chỗ ghi Vạn Lý Thạch Đường
chỉ quần đảo Trung Sa và Nam Sa như ghi chú Đại Thanh Trung Ngoại
Thiên Hạ Toàn Đồ năm 1709 hay Thanh Trực Tỉnh Phân Đồ năm 1724,
Hoàng Thanh Các Trực Tỉnh Phân Đồ trước 1755, hoặc Trường Sa chỉ
quần đảo Tây Sa, Nam Sa trong ghi chú Đông Nam Hải Di đồ trong sách
Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi năm 1621 và nhiều bản đồ khác!
Như chúng ta đã biết, với những dẫn chứng rất mơ
hồ và rối mù trên, các nhà học giả Trung Quốc cố gán ghép tùy tiện
cho Tây Sa hay Nam Sa. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ thì những sự kiện
xảy ra chỉ loanh quanh ở vùng biển gần Phúc Kiến, Quảng Đông, không
xa về phía Nam, rồi dần dần sau 1907 các địa danh Tây Sa, Trung
Sa, Nam Sa mới bắt đầu xuất hiện.
Chính Nam Sa cũng thay đổi di chuyển từ Trung Sa
hiện giờ xuống Nam Sa hiện nay cách hơn 500, 600 km! Côn Lôn được
người Trung Quốc sử dụng từ xưa trước Công Nguyên để chỉ một quả
núi mà truyền thuyết cho rằng Mục Thiên Tử nước Tần đã đến đây để
thăm Tây Vương Mẫu. Sau đó người Trung Quốc đã dùng chữ ấy để chỉ
nhiều ngọn núi cao, cuối cùng chỉ cả núi Himalaya.
Từ thế kỷ 17, người Trung Quốc lại dùng chữ Côn Lôn
để chỉ một số đảo quốc ở miền Nam Hải. Khi ấy Côn Lôn hiện nay của
Việt Nam chưa có tên ấy.
Theo ông Pelliot cho rằng Côn Lôn của Việt Nam hiện
nay do phiên âm tiếng Mã Lai gọi đảo này là Pulau (Cù Lao) Kunder
hay là đảo Bí, người phương Tây gọi là Poulo Condor (33).
Việc tùy tiện gán ghép địa danh Tây Sa cũng như Nam
Sa như trên càng quá rõ ràng khi chúng ta phát hiện tài liệu của
Trung Quốc được sưu tầm trong Bộ sưu tập sử liệucủa nhóm Hàn Chấn
Hoa, đã xác định rõ ràng vị trí của Vạn Lý Trường Sa như sách Quảng
Đông Đồ Chí của Mao Hồng Tân chép Vạn Lý Trường Sa thuộc Việt Hải
(ở ngoài biển có huyện Quỳnh Châu) càng chia ra nhiều đảo nhánh,
đảo lớn nhỏ lô nhô, có nhiều bãi ngầm, đá ngầm, càng hiểm trở đó
là Vạn Lý Trường Sa.
Đây là những tên cửa biển Việt (Quảng Đông) từ Đông
Vạn Châu đến tận Nam Áo ( Sách Quảng Đông Đồ Chí, khắc bản Đồng
Trị 5 (1860), quyển 67, phủ Quỳnh Châu , tr 3).
Sách Quỳnh Châu Phủ Chí của Minh Nghi, sách Nhai
Châu Chí của Chung Nguyên Đệ, sách Cảm Ân Huyện Chí của Chu Văn
Hải cũng ghi Thiên Lý Thạch Đường, Vạn Lý Trường Sa thuộc Quỳnh
Dương, Việt Hải là biển Đông của Quảng Đông, xứ Bách Việt xưa, Quỳnh
Dương là biển Đông cùa Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam đều thuộc vị
trí kế cận tỉnh Quảng Đông, không thể xuống tận Nam Sa hiện nay
được [ 58 ].
Rất nhiều sách của Trung Quốc tả lộ trình đi biển
đều nói rất rõ về Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đương, không
thể nào ở xa như vị trí Nam Sa hiện nay. Sách Hải Quốc Văn Kiến
Lục của Trần Luân Quýnh mô tả đường đi từ Hạ Nam đến xứ Quảng Nam
khi thấy Ngoại La Sơn (Cù lao Ré) của xứ Quỳnh, nếu chệch về Đông
thì phạm vào Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường mà chệch về
Tây sợ rằng thuyền chạy vào vịnh Quảng Nam. Như thế cho tới giữa
thế kỷ 19 và mãi cho tới năm 1947, Vạn Lý Trường Sa chưa bao giờ
được Trung Quốc chỉ Nam Sa hay Spratley hay Trường Sa của Việt Nam.
Điều này cũng phù hợp với thực tế, cho tới năm 1909,
chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc quan tâm đến việc chiếm hữu
các quần đảo ở Biển Đông. Riêng quần đảo Nam Sa mà Trung Quốc gọi
là Đoàn Sa năm 1935 và đổi tên là Nam Sa từ năm 1947, còn bị chậm
hơn Tây Sa ít ra gần ba chục năm. Khi chính quyền thực dân Pháp
ở Việt Nam làm thủ tục chiếm hữu theo truyền thống Phương Tây vào
những năm 1930 đến 1933 thì Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có
ý đồ xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này với thực dân Pháp đang bảo
hộ Việt Nam về mặt ngoại giao. Tên “Nam Sa” cũng không có nhiều
bằng chứng dù là giả tạo như Tây Sa mà Trung Quốc viện dẫn về sự
phát hiện. Không có gì giá trị vì đại loại cũng giống như những
viện dẫn về Tây Sa mà chúng ta đã biết ở trên đây.
Văn kiện Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 cũng như
Bộ Sưu Tầm Tư Liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa cũng nêu tư liệu văn vật
khảo cổ hay tư liệu Canh Lộ Bạ của các ngư dân ở đảo Hải Nam. Thật
uổng công, bởi dù có tìm thấy nhiều cổ vật Trung Quốc hay đồng tiền
cổ (như tiền Vĩnh Lạc) thì cũng giống như các nhà khảo cổ Pháp tìm
thấy nhiều đồng tiền La Mã và cổ vật của thời La Mã cổ đại ở di
chỉ Óc Eo (Nam Bộ Việt Nam). Không thể kết luận người La Mã đã phát
hiện hay có chủ quyền đối với Việt Nam.
Điều tai hại trong tư liệu văn vật khảo cổ mà Trung
Quốc dẫn chứng ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) lại ghi rõ có “Hoàng
Sa Tự” là bằng chứng chủ quyền của Việt Nam như đã trình
bày. Cũng thế Canh Lộ Bạ của ngư dân đảo Hải Nam lại ghi Đông Hải
mà Đông Hải là biển phía Đông. Phía Đông của đảo Hải Nam hay của
nước Trung Hoa thì ở đâu ai cũng đều biết. Vị trí của Hoàng Sa,
Đoàn Sa đều ở phía Nam của đảo Hải Nam hay Trung Quốc!
Với những luận cứ, luận chứng phi lý, mơ hồ, thiếu
xác thực như trên, văn kiện Bộ Ngoại Giao Trung Quốc năm 1980 lại
phê phán lập luận trong sách trắng Việt Nam năm 1979 rằng “phần
đầu những tư liệu đó một ngón chỉ hươu nói là ngựa, còn phần sau
thì hoàn toàn không thể đứng vững được và cũng là không có giá trị
luật pháp”.
Văn kiện trên cho rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa của Việt Nam vốn hoàn toàn không phải là quần đảo Tây Sa, Nam
Sa của Trung Quốc, mà chỉ có thể là những đảo và cồn cát ở ven biển
miền Trung Việt Nam, mà nhóm Hàn Chấn Hoa còn nói bừa rằng Hoàng
Sa chính là Cù Lao Ré hay Cù Lao Chàm. Trong khi chính ngay Phủ
Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, tài liệu mà Trung Quốc viện dẫn lại
có nhiều đoạn ghi rất rõ Bãi Hoàng Sa ở gần địa phận Phủ Liêm Châu
thuộc Hải Nam hay sự kiện hai lính Hoàng Sa trong khi đi công tác
bị giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) vào năm Càn Long thứ 18 (1754).
Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 viết rằng
cuốn sách trắng của Việt Nam 1979 không tìm ra được bất cứ một tài
liệu lịch sử nào có giá trị công nhận Trường Sa tức là quần đảo
Nam Sa của Trung Quốc. Điều này là đương nhiên vì Nam Sa của Trung
Quốc không có thật, bất nhất: năm 1935 Nam Sa ở bãi đá ngầm Macclesfield,
đến năm 1947 Nam Sa lại chuyển xuống phía Nam như đã nhắc đến nhiều
lần.
Rồi đây Nam Sa có ngừng ở vị trí 4 độ Bắc hay còn
di chuyển thêm nữa? Sách Phủ Biên Tạp Lục đã xác định rõ Đại Trường
Sa hay Trường Sa của Việt Nam cũng ở xứ Bắc Hải mà xứ Bắc Hải lại
ở phía Nam Biển Đông, tiếp tới đảo Côn Lôn. Như vậy là đủ rồi!
Văn kiện ngoại giao Trung Quốc năm 1980 còn rêu rao
rằng nhà cầm quyền Việt Nam đã lật lọng: “Giờ đây, nhà cầm quyền
Việt Nam lại tráo trở lật lọng, nuốt trôi những lời họ đã nói, hoàn
toàn làm sai trái với lập trường trước đây của họ công nhận quần
đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là
điều luật pháp quốc tế quyết không cho phép được”.
Trước hết, nếu nói đến luật pháp quốc tế có giá trị
cho tất cả các nước (trong đó có cả Trung Quốc) đã ký hiệp định
Genève năm 1954, thì Miền Nam Việt Nam ở từ vĩ tuyến 17 trở xuống
trong đó bao gồm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa do quân đội viễn
chinh Pháp sau năm 1956 giao lại cho chính quyền ở Miền Nam Việt
Nam quản lý.
Chính quyền Sài Gòn và sau đó chính phủ Cách Mạng
Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam mới có trách nhiệm quản lý,
bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Chưa bao giờ hai chính quyền
Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam cũng như Việt Nam
Cộng Hoà đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền này cả. Bất cứ chính phủ nào,
kể cả chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, không phải các chính
quyền ở Nam Việt Nam, theo hiệp định Genève lúc bấy giờ không trực
tiếp quản lý lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, dù tuyên bố như
thế nào cũng chỉ có giá trị về chính trị thời bấy giờ, không ảnh
hưởng gì đến chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa!
Chính khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa tháng 1 năm 1974,
chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam đã từng tuyên bố rằng vấn
đề này là vấn đề lịch sử để lại, cần giải quyết bằng giải pháp hoà
bình Vì thế, bất cứ lời tuyên bố của bất cứ chính quyền nào kể cả
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cũng không có giá trị pháp lý
quốc tế về chủ quyền tại hai quần đảo này. Lập trường của chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đối với sự kiện
Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm 1974 đã phản ảnh trung
thực đường lối của Cách Mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam
lãnh đạo. Còn bất cứ điều gì khác chỉ phản ánh những hành động cùng
nhau đấu tranh chống kẻ thù chung.
Ngoài ra Trung Quốc đã xuyên tạc lời tuyên bố của
thủ tướng Phạm Văn Đồng. Thủ tướng chỉ tán thành bản tuyên bố quyết
định về hải phận của Trung Quốc, của chính phủ Cộng Hoà Nhân Dân
Trung Hoa mà thôi. Trong thực tế, Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc
không phải là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, chỉ là sự gán
ghép, suy diễn, không hề có sự chiếm hữu trong lịch sử của Trung
Quốc trước năm 1909 đối với Tây Sa và trước 1935 đối với Nam Sa.
Văn Kiện Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Sưu Tập Tư Liệu của nhóm Hàn
Chấn Hoa cũng đã tốn công quá nhiều để dẫn chứng nhiều nước trên
thế giới thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Tây Sa và Nam Sa.
Đồng minh thì thời nào, nuớc nào cũng có, sẵn sàng
ủng hộ chủ trương ngoại giao của một nước nào. Cũng như tại Hội
Nghị San Francisco năm 1951, Trung Quốc cũng được Liên Xô đề nghị
Hội Nghị chấp nhận là chủ các quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Song Hội
Nghị San Francisco 1951 cũng như sau này chưa hề có một hội nghị
quốc tế nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo này.
Chỉ thấy Trung Quốc có hành động vũ lực năm 1974 đối với Hoàng Sa
và năm 1988 đối với một số đảo ở Trường Sa, vi phạm hiến chương
Liên Hiệp Quốc mà thôi !
Sau văn kiện ngoại giao ngày 31 tháng 1 năm 1980,
Trung Quốc còn công bố bị vong lục năm 1988 đồng thời có nhiều công
trình nghiên cứu như “bộ sưu tập sử liệu" của nhóm Hàn Chấn
Hoa đã dẫn chứng.
Tuy có cố gắng sưu tầm nhiều hơn song luận điểm không
có điều gì mới mẻ đáng kể, cũng cho rằng người Trung Quốc phát hiện
sớm như kinh doanh, sản xuất sớm nhất và quản hạt sớm nhất. Song
vì không có thật nên dù có công phu đến bao nhiêu cũng chỉ là công
trình xây lâu đài trên bãi cát và uổng công “dã tràng xe cát biển
Đông”.
Và vì thế trong văn kiện ngoại giao của Trung Quốc
có đưa ra nhiều bằng chứng về sự bảo vệ chủ quyền cũng như những
nước ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường
Sa của Việt Nam đều không đáng quan tâm vì những luận cứ và luận
chứng về sự chiếm hữu thật sự của Trung Quốc đã không đứng vững,
không có cơ sở khoa học, không có tính thuyết phục.
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
|