|
Quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa
Nguyễn Nhã - Ph.D thesis
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
2.2.3.4 Tổ chức và nội dung
hoạt động của đội Hoàng Sa
Về tổ chức, Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh
vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa mang tính tư nhân
vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng
quản lý thời ấy ở Biển Đông, ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong
hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang mà người
đứng đầu đơn vị hành chánh lớn nhất là chưởng dinh. Cần có dinh
lũy để vừa cai quản về hành chánh, khai hoang vừa chỉ huy quân sự
sẵn sàng chiến đấu.
Đây là một tổ chức đặc biệt ở Đàng Trong cũng như
những tổ chức khác dưới triều Nguyễn như các sở đồn điền khẩn hoang,
mà đứng đầu mỗi đồn điền là một quản cơ.
Thời chúa Nguyễn, theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý
Đôn quyển 3, có nhiều tổ chức dân binh như đội thủ ngự (đội coi
về canh gác, ngăn chặn trộm cướp), đội thổ binh. Do đội là một tổ
chức dân binh nên tổ chức phải thể hiện hình thức tổ chức quân sự
của Đàng Trong.
Theo binh chế ở Đàng Trong, ngoài chính binh (tinh
binh còn gọi là nội binh), các quan trấn thủ, lưu thủ ở địa phương
thường lấy dân địa phương làm binh canh giữ các nơi, gọi là ngoại
binh (binh ấy còn gọi là thổ binh hoặc tạm binh, hoặc thuộc binh).
Số binh này rất đông, gấp mấy lần chánh binh mà lại không được trả
lương tháng như chánh binh, họ chỉ được miễn sưu thuế mà thôi. Phiên
chế gồm dinh, cơ, đội, thuyền.
Thuyền là đơn vị thấp nhất. Mỗi đội gồm từ 50, 60
hoặc 40, 50 người. Điều khiển đội có cai đội và đội trưởng. Đứng
đầu đội Hoàng Sa là một cai đội, những thành viên trong đội được
gọi là quân nhân, đã thể hiện tính quân sự hoá trên. Vì thế có dịch
giả Phương Tây dịch đội Hoàng Salà "compagnie Hoàng Sa",
phải hiểu là một tổ chức quân đội, chứ không phải là tổ chức hội
buôn, mới đúng.
Thời Chúa Nguyễn mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm
những nhiệm vụ của đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song còn
dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng
đặc biệt cho một đội dân binh như đội Hoàng Sa.
Cũng theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn đã gọi
quân nhân để chỉ những người trong đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người
bị trôi dạt vào Cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão vào năm Càn
Long thứ 17 (1754), còn tám người khác bị mất tích. Như thế mỗi
thuyền trong đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người.
Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ
còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ là ngôi miếu Hoàng
Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá voi, (tương truyền do binh Hoàng
Sa đưa từ Hoàng Sa về) và thờ lính Hoàng Sa , ngôi miếu này bị phá
hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu
này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.
Tại Cù Lao Ré nay là huyện đảo Lý Sơn vẫn còn Âm
Linh Tự tức miếu Hoàng Sa, ở thôn Tây xã Lý Vĩnh, tức phường An
Vĩnh xưa và Âm Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải tức phường An Hải
xưa.
Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền
lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống
để tiễn lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày
20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Hiện nay chỉ còn đình làng
xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa (xem hình 2.53 ).
Lính Hoàng Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm:
"lính Hoàng Sa đi dễ khó về". Trừ các chỉ huy như đội
trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia
đình, vừa khoẻ mạnh vừa không vướng vợ con.
Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao
Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người đi lính
Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh có
nhà thờ (hình 2. 54) và gia phả ông tổ Phạm Quang Ánh, người được
vua Gia Long cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815.
Trong buổi tế sống lính Hoàng Sa đó, họ làm những
hình nộm bằng khung tre và dán giấy ngũ sắc để giả hình người và
đem tế tại đình. Tế xong họ đốt đi, hoặc đóng thuyền bằng thân cây
chuối đặt hình nộm lên và thả trôi ra biển gọi là “khao lễ thế lính
Hoàng Sa” còn gọi là "lễ tế sống lính Hoàng Sa" với quan
niệm các hình nộm kia sẽ gánh chịu mọi hiểm nguy, tai nạn trên biển
thay cho đội Hoàng Sa và cầu mong cho người thân của họ bình an
trở về.
Ngày nay tại các nhà thờ tộc họ có người đi lính
Hoàng Sa đều có tổ chức tục lễ như thế và hiện tại gia đình các
tộc họ cũng còn giữ bài Văn Khao Thế Lính Hoàng Sa gồm một nửa chữ
Hán, một nửa chữ Nôm có đoạn:
“Ngày hôm nay (hoặc đêm nay, buổi sáng nay) có
theo ý người ______ ở tỉnh ______ nước Đại Nam, xin cúng thế một
cỗ thuyền mô hình, trôi theo đường thủy Hoàng Sa, mấy cỗ bàn, vàng
bạc, đáp lễ thần quan, xin dâng lên khảo thủy đạo một tiệc, thành
kính bày lễ la liệt...”
Văn tế do ông Nguyễn Xuân Cảnh, 72 tuổi, thôn Tây,
xã Lý Hải, huyện Lý Sơn cất giữ. [ 88 ] Về địa bàn hoạt động, đội
Hoàng Sa có không gian rất rộng. Khởi đầu những đảo gần bờ biển
nhất. Song trong 6 tháng hàng năm từ năm này qua năm khác, đội Hoàng
Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm
quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ.
Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung
Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính
đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự chính mình đi khắp nơi song lại
kiêm quản các đội khác (như đội Bắc Hải) thì phạm vi hoạt động rõ
ràng rất rộng, khắp các đảo Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các
tỉnh miền Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía
Tây Nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.
Các nhà cầm quyền Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII đã
biết rằng Hoàng Sa hay Bãi Cát Vàng hoặc Vạn Lý Trường Sa là một
dải dài hàng ngàn, vạn dặm chạy dọc Biển Đông. Khái niệm chung nhất
này cũng ở việc giao nhiệm vụ cho đội Hoàng Sa, đứng đầu là cai
đội hay đội trưởng do nhà nước bổ dụng, được kiêm quản đội Bắc Hải
ở Phía Nam cùng nhiệm vụ để thâu tóm vào một đầu mối. Đây cũng là
một quan điểm về quản lý các hoạt động kinh tế tại Biển Đông của
nước ta thời ấy.
Như trình bày trên, vì đội Hoàng Sa là một tổ chức
dân binh có nhiều chức năng, nhiệm vụ đặc biệt ở Biển Đông, nên
tổ chức này cũng rất đặc biệt. Đứng đầu là cai đội như Phủ Biên
Tạp Lục, quyển 2 đã ghi: “Lịnh cai đội Hoàng Sa tính quản”. Như
binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đã biết đội có cai đội và
đội trưởng chỉ huy. Chức cai đội Hoàng Sa thường được kiêm luôn
các chức khác như trường hợp Phú Nhuận Hầu kiêm cai thủ đồn cửa
biển Sa Kỳ, kiêm cai cơ thủ ngự, như theo tài liệu tờ kê trình của
Phú Nhuận Hầu, ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), tài liệu
hiện lưu trữ tại nhà thờ họ Võ phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã
Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thủ ngự là đơn vị cai quản,
tuần tra chống trộm cướp thời Nguyễn.
Tùy theo mỗi năm, số thuyền đi từ 4 hay 5 chiếc đến
18 chiếc. Mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản.
Thuyền cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn như chúng
ta đã từng biết. Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền , đều là
dân binh được gọi là “quân nhân” như Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 ghi
chép như đã trình bày ở trên. Những quân nhân này chủ yếu là dân
gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất liền và ngoài
đảo Cù Lao Ré.
Xã An Vĩnh và xã An Hải ở hai bên cửa biển Sa Kỳ.
Cùng với 2 phường An Vĩnh và phường An Hải do di dân đất liền ra
Cù Lao Ré, trong đó xã An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho đội
Hoàng Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ
riêng Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là
nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh tức hai phường An Vĩnh và An Hải
ở đảo Lý Sơn hay Cù Lao Ré.
Theo lời truyền miệng của dân địa phương Cù Lao Ré
để lại, cho biết việc tuyển lựa 70 suất của đội Hoàng Sa theo nguyên
tắc định suất cho các dòng họ. Song cụ thể vẫn là theo lệ bổ tuyển
quân nhân thời Chúa Nguyễn. Những người gọi là quân nhân ấy được
tuyển theo hệ thống xã, huyện, phủ. Do phải luân phiên, nên hàng
năm các đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh quân số sao cho đảm bảo
lệ này. Các quân nhân đội Hoàng Sa có nghĩa vụ của một dân binh
bình thường, không giống như binh lính chính qui, về mặt quyền lợi,
ngoài việc được miễn sưu thuế, họ còn được hưởng phần dư, phần còn
lại ngoài số qui định phải nộp cho Nhà Nước.
Lương thực mang đi cho 6 tháng được nhà nước cấp
phát. Song chủ yếu là gạo còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá,
bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang củi lửa và theo lối truyền
thống, bọn họ dấu những bếp ở mỗi thuyền bằng các nùi dây dừa khô
giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân trong đó có đội Hoàng Sa thời
chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân theo như Thích Đại
Sán đã tả, rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần mười hoa
lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai trưởng.
Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc nhà nước
có việc công, cai xã bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo
cơm đơm, gạo bới đi làm”.
Các quân nhân đội Hoàng Sa còn mang theo một đôi
chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may
có mệnh một ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng
làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre
nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người mất được
cài kỹ trong bó chiếu, cũng là dấu hiệu nhận biết nếu có ai vớt
được [ 88 ]
Đội Hoàng Sa sử dụng các loại thuyền buồm nhẹ và
nhanh. Theo J. Barrow viết trong A voyage to Cochichina thì các
tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới
thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels thuộc
nhiều kiểu dạng khác nhau.
Cũng theo cuốn du ký Suma Oriental của người Bồ (Tomé
Pires), được A. Cortesas dịch với nhan đề The Suma Oriental, an
account of the East, from the Red Sea to Japan, xuất bản tại London
năm 1944, khoảng những năm 1513- 1514 kể lại cuộc hành trình và
những nhận xét của tác giả về các miền đất đã đi qua ở Phương Đông
từ Biển Đỏ cho tới Nhật Bản, trong đó có tả vương quốc Cauchy -
chyna tức Đàng Trong nước Đại Việt thời Lê - Mạc. Tác giả cho biết
có rất nhiều cư dân khai phá vùng bờ biển với một số lớn các “lancharas”,
một loại thuyền buồm đi nhanh.
Trong các tài liệu cổ của Việt Nam đã dẫn trên cho
biết đội Hoàng Sa chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ gọi là “tiểu điếu
thuyền” (Phủ Biên Tạp Lục) hay “tiểu thuyền” (Dư Địa Chí và Hoàng
Việt Địa Dư Chí).
Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Kỷ Sự như đã trình
bày ở trên, cũng viết
“Thời quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh
cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền buôn
tấp vào. Mùa thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng Đông, bị một ngọn
sóng đưa thuyền đi có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió dâng mạnh,
sợ có hiểm họa Trường Sa...”. [ 116 ,125 ]
Cũng trong Hải Ngoại Kỷ Sự, Thích Đại Sán có nói
đến thuyền đánh cá ấy gọi là thuyền Điếu Xá. Chính chúa Nguyễn Phúc
Chu cũng đã cho thuyền Điếu Xá (thuyền đánh cá) đón tiếp đệ tử và
vật hàng của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa (Cù Lao
Chàm).
Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đông đi bằng loại thuyền
lớn, chứa tới bốn trăm người phải dùng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn
đường. Tuy thuyền đi mau như bay nhưng có lần bị mắc cạn, có lần
suýt bị nạn vì không theo lối thuyền con chỉ dẫn.
Căn cứ vào ghi chép của sách sử Việt Nam, phạm vi
hoạt động của đội Hoàng Sa đi bằng thuyền này, ngoài quần đảo Lý
Sơn ở đó có Hoàng Sa Chử, còn bao gồm đảo Chiêm Bà.
Thuyền đánh cá thế kỷ XVII, XVIII ở nước Đại Việt
giản dị nhất ở khu vực Sa Kỳ, Cù Lao Ré. Theo tài liệu được lưu
lại ở đảo Cù Lao Ré mà ông Nguyễn Hạp xuất thân từ gia đình ngư
dân lâu đời ở Cù Lao Ré đã vẽ, thì thuyền loại này có mê hay đáy
dưới bằng tre đan rồi quét cứt trâu, rồi dầu rái lên. Song phía
trên thành thuyền làm bằng gỗ trò hay sao, có 3 cột buồm bằng gỗ
kiền kiền và các bộ phận không quan trọngï như các then thì làm
bằng gỗ mù u có sẵn ở địa phương. Chính dân chài tự đóng thuyền
lấy. Tuy nhỏ song lại nhẹ dễ chạy nhanh và thường chạy bằng buồm,
có loại buồm như Thích Đại Sán kể giống chiếc rìu. Nhỏ, nhẹ, ít
người lại chọn thời điểm thuận gió thì thuyền đi nhanh gấp 10 lần
như Thích Đại Sán ghi chép như trên.
Thường thuyền ở khu Cù Lao Ré - Sa Kỳ có 3 cánh buồm
đan bằng lá, các dụng cụ như lu chứa nước đều bằng tre. Gần đây
ở Cù Lao Ré còn thấy một vài thuyền đánh cá có cấu trúc tương tự
như những thuyền truyền thống xưa của vùng này, đi biển xa như Hoàng
Sa. (xem hình vẽ 2.55 và 2.56).

Hình 2.55: Thuyền buồm dùng đi Hoàng-Sa
Sự thực lịch sử đã cho biết các thuyền đánh cá Việt
Nam với vật liệu nhẹ như trên, nhỏ bé đã dễ dàng né tránh các đá
san hô cũng như dễ dàng cập được vào bờ các đảo san hô ở Hoàng Sa
và cũng thích hợp hoàn cảnh dân chài biển vùng Sa Kỳ - Cù Lao Ré,
đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình.
Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên,
đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa
như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng
có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con
trai châu song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng
vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ , người ta có thể dùng để dát
các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội , tức con đồi mồi rất lớn
hay con hải ba (ba ba biển tục gọi là con trắng bông, cũng giống
như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).
Những hải sản quí trên tuy cũng có nộp cho nhà vua
theo qui định, song thường vẫn cho đội Hoàng Sa bán, thường thì
bán cho thị trường ở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá hơn. Quan trọng
nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí
Lộ Đồ Thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền
tệ, súng ống. Phủ Biên Tạp Lục thì ghi:
"những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng
đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen,
khẩu súng, ngà voi, sáp ong , đồ sứ."
Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong Phủ
Biên Tạp Lục có viết: “ông tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức
Hầu”, người chỉ huy đội Hoàng Sa trong nhiều năm đã vào Phú Xuân
nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa cụ thể như sau:
- Năm Nhâm Ngọ (1702) , đội Hoàng Sa lượm được bạc
30 thoi.
- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được thiếc 5100 cân.
-Năm Ất Dậu, lượm được bạc 126 thoi.
Còn từ năm Kỉ Sửu (1709) đến năm Quý Tị (1713), tức
là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi
mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy
cái bát đá và hai khẩu súng đồng. Chính P. Poivre viết trong du
ký năm 1750 rằng :
“Người ta đã thấy ở đô thành Huế những khẩu súng
thần công bằng sắt cỡ đạn 6 livres, có trang trí chữ ghi của công
ty Đông Aán Hà Lan, những khẩu súng này đã thu lượm được ở quần
đảo Paracels, trong số các di vật của các tàu đi qua đây bị đắm".
( Journal R.E.O, III, 1885).[66,16]
Chắc chắn trong thời còn chiến tranh, súng đạn thu
được ở các tàu đắm ở Hoàng Sa là rất quý giá. Việc đi biển xa (viễn
dương) khiến các thành viên đội Hoàng Sa rất giỏi đi biển. Chính
từ thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị thủy quân hoạt động mạnh
ở Hoàng Sa cũng đều nhờ những người hướng dẫn hải trình từ những
dân đi biển giỏi trong đó có dân binh đội Hoàng Sa. Chính vì thế,
các thuyền thuộc lưu lượng thủy quân triều Nguyễn từ kinh thành
Huế trước khi ra Hoàng Sa phải tới tập trung ở Quảng Ngãi.
2.2.4 Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm
quản của đội Hoàng Sa trong khu vực phía nam của Biển Đông tức quần
đảo Trường Sa và vùng phụ cận
Càng ngày càng có nhiều đội khác cũng có chức năng
và nhiệm vụ như đội Bắc Hải được thành lập, vì chính quyền Nhà Nguyễn
dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các
chúa Nguyễn vẫn để đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, hầu
có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông.
Như thế người chỉ huy đội Hoàng Sa là cai đội phải
là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức Hầu đã được Lê Quý Đôn tra
cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tị). Thuyên Đức
Hầu đã được phong tước hầu. Hoặc như Phú Nhuận hầu cũng thế trong
tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kiêm luôn
“khâm sai cai thủ” cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức “cai cơ thủ ngự”, kiêm
quản đội Hoàng Sa (tờ kê trình của Phú Nhuận hầu được lưu giữ tại
nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện
Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa
biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn.
Chính Phú Nhuận hầu được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ
đó có uy tín để kiêm quản các đội khác như đội Bắc Hải.
Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quý Đôn đã ghi chép
rất cụ thể việc đội Bắc Hải như sau:
“Họ Nguyễn còn thiết lập một đội Bắc Hải. Đội
này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính
(ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình-Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh-Dương
lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc- Hải. Ai tình nguyện
đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác”…
"Những người được bổ sung vào đội Bắc-hải
đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi
qua đồn tuần, qua đò. Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra
các xứ Bắc-hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà-Tiên để
tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi-mội, hải-ba, đồn-ngư (cá heo
lớn như con heo), lục-quý-ngư, hải-sâm (con đỉa biển)."
Như thế về tổ chức, đội Bắc Hải không định trước
bao nhiêu suất, số lượng tùy theo tình hình khả năng các thôn Tứ
Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương, tình nguyện và được
cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động.
Quyền lợi cũng như đội khác được miễn sưu cùng các
thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò. Không thấy miễn
tiền thuế. Cũng dùng thuyền tư nhân, thuyền câu. Phạm vi hoạt động
ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay, và cả Côn Lôn, Hà Tiên.
Ở phía Nam Biển Đông khu vực Trường Sa hiện nay ít có bão lớn, không
nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật
từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt
là loại cá heo (đồn ngư), ... Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các
thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam Thực Lục Tiền
Biên soạn xong năm 1844 chép rằng đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận,
Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo
ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản.
Đại Nam Nhất Thống Chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi,
soạn xong năm 1882 cũng còn viết
"đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải
vật cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản".
Không có tài liệu nào cho biết đội Bắc Hải
ngưng hoạt động trước hay sau đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn đội
Bắc Hải ra đời sau đội Hoàng Sa và trước năm 1776 tức là trước khi
Lê Quý Đôn viết Phủ biên Tạp Lục.
2.2.5 Các hoạt động của thủy
quân triều đình Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
2.2.5.1 Các hoạt động đo
đạc thủy trình, vẽ bản đồ về Hoàng Sa và Trường Sa
Từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hải và thám hiểm Bồ Đào
Nha, rồi sau đó Hoà Lan đã khảo sát và vẽ những bản đồ về quần đảo.
Hoàng Sa gọi là Parcel hay Pracel được vẽ trên bản đồ thành suốt
một vệt dài hình lưỡi kiếm từ vĩ độ 17 Bắc xuống tới vĩ độ 10 Bắc.
Càng xuống phía Nam, càng hẹp như đã trình bày ở trên đây. Sang
thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong bắt đầu quan tâm đến Biển
Đông.
Bản đồ xưa nhất có ghi Bãi Cát Vàng ở Biển Đông còn
lưu giữ đến ngày nay là bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo trong Toản Tập
Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686). (hình 1. 1)
Tuy nhiên, còn rất ít tài liệu được lưu giữ đến ngày
nay, một phần do chiến tranh tàn phá, song chắc chắn các chúa Nguyễn
đã có những cuộc khảo sát, đo đạc thủy trình để vẽ bản đồ ở vùng
biển Hoàng Sa, bởi không có công việc như thế, làm sao có được bản
đồ ghi Bãi Cát Vàng trong Toản Tập An Nam Lộ Đồ hay Toản Tập An
Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hoặc Thuận Hoá Quảng Nam Địa Đồ Nhật Trình
có vẽ “Trường Sa” ở ngoài xã Du Trường (Cù Lao Ré và đi mất 2 ngày!
Vả lại, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, quyển 8 còn chép:
"Năm Tân Mão, Hiến Minh Hoàng Đế năm thứ
20 (1711), mùa hạ, tháng 4 (âm lịch), sai đo bãi cát Trường Sa dài
ngắn, rộng hẹp bao nhiêu".
Cho dù bãi cát “Trường Sa” ở đây chính là Bãi Hoàng
Sa ở ngoài biển hay ở đất liền cũng có bãi gọi là “Trường Sa”, thì
đoạn văn ghi trên đã khẳng định một điều rằng Chúa Nguyễn đã có
kế hoạch đo đạc các bãi cát !
Đo đạc các bãi cát trong đất liền đâu có quan trọng
mà còn làm, huống chi bài cát dài ở ngoài biển còn có nhu cầu đo
đạc hơn nhiều nhất là cần thiết cho hàng hải, tất cũng phải đo đạc
không sớm thì chầy !
Trước khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng
đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó
có vùng quần đảo Hoàng Sa .
Lúc đầu đội Hoàng Sa có trách nhiệm xem xét đo đạc
thủy trình như thời Gia Long, tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm
Quang Ảnh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét
đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc
họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ
An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15,
năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối
hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình.
Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ
yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng
dẫn hải trình. Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165
:
“Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng
giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc
thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho
2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng
dẫn ra xứ Hoàng Sa”. [101]
Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi
ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công
cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có
vùng biển Hoàng Sa. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở
Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám
thành,với địa phương Quảng Ngãi và đội Hoàng Sa. Mỗi lần đi đo đạc
phải chọn được thợ lái có năng lực, biết được các nơi đường biển
nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm mà tránh, còn phải biết lấy núi
nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiết gió để chuyển phương hướng,
nên tiến hay dừng.
Theo sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển
220 của triều Nguyễn thì Bộ Công tâu rằng người nào mười phần am
hiểu thông thạo thì cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng
bình, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn đinh, ai đáng
đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng
cấp tiền gạo gấp đôi... thì kê sách tâu rõ đợi chỉ gia ân. Những
lời dụ và bàn được chuẩn y như sau:
"Thơ lại thủy sư thì cửa biển hiểm hay dễ,
xem gió, trông khí trời, nghiên núi, dò nước, nhìn kiếm tìm hướng,
nhớ rõ địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu,
ai được tám chín phần là hạng bình, ai được có năm sáu phần là hạng
thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng thì đề bạt
bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm
chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng thì đề bạt
bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết thì ưu tiên bổ nhiệm
ngay" [93].
Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 220 cũng
chép:
“Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều
lần, được xong xuôi ổn thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc,
cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường,
thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt
cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy
sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn
cả thì là hạng bình. Sai phái đường bể một lần xong xuôi yên ổn
là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt” [93]
Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển
và thủy quân đi đến Hoàng Sa vừa là dịp để khảo hạch và cũng là
dịp luyện tập thủy quân, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối
với việc đo đạc ở Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. Vì thế từ
thời vua Minh Mạng năm thư 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng
năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp
tục. Tỷ như năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ của vua Thiệu Trị
đình hoãn, đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng cho đình hoãn do
Bộ Công tâu xin hoãn. Sau đó đến thời Tự Đức không còn ghi chép
trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên
thời Tự Đức những việc đã thành lệ rồi không còn chép nữa.
Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa thì bắt
đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân, (kể từ kinh thành
Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh
thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất
một thời gian đáng kể . Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định
khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm
theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được . Lúc
đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến
hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian
hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.
Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao,
song nếu tùy tiện thì bị phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt.
Nếu hoàn tất tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16
(1835) , cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa
về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng,
song cho phục chức cai đội.
Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc
họ ở thôn Đông xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện có
hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn. Các viên giám
thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ
Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng
đi chuyến này những người trong đội Hoàng Sa như Võ Văn Hùng (tộc
họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An
Vĩnh, thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn còn
từ đường và khu "lăng" mộ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh, huyện
đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người
1 quan tiền Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng
Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền.
Cũng thế vào năm Minh Mạng 18 (1837), do khởi hành
chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn
Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh (lần trước
được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng
Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi
tiết trên đã minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt
Nam trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được qui định cũng rất
rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển
165 cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như sau:
”Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều
dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước
bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm
trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi
khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến
nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm
đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào?
và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi
nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên.
Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng
giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm” [93]. Như thế việc đo đạc phải kết
hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên
giám thành (2.26).
Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn
đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng
mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám
thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ
Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu
trên.
Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng
chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo dụ
vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng
Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo
Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ
trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản,
3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung , song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm
, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn [ xem phụ lục số 2.8 (a)
, 2.8(b) ]
Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam
vào thời kỳ nhà Nguyễn tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn còn
lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của Phương Tây lúc bấy giờ (2.27),
nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn
địa cầu. Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải
chỉ có hải đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến
những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi
qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được
lưu ở vệ giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công.
Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4 - 7 - 1885 và
cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh thành bị
đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ quý giá về Hoàng
Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy
quân triều Minh Mạng đã vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa.
2.2.5.2 Các hoạt động cắm cột mốc, bia chủ
quyền để xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa từ đầu thế kỷ XIX
Sang thế kỷ XIX, sau khi lên ngôi hoàng đế, thiết
lập triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, Nguyễn Ánh
đã bắt đầu tiếp tục tái lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa bằng các hoạt động của đội Hoàng Sa trong thời gian đầu
và của thủy quân.
Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh
Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành
động của vua Gia long như Chaigneau đã viết trong hồi ký Le mémoire
sur la Cochichine:
“Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm
hữu quần đảo ấy”, hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816
mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng
Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia
Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người
đánh cá Việt Nam ".
Những người Phương Tây trên không phải là những nhà
nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ
không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam như
thế nào ở Hoàng Sa. Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển
50 đã ghi chép hoạt động của đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy
trình do Phạm Quang Ảnh làm đội trưởng vào năm 1815.
Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên ban lệnh
cho thủy quân với sự hướng dẫn của dân binh đội Hoàng Sa đi xem
xét, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa (Đại Nam Thực Lục Chính
Biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).
Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đã
đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực
thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến
cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng
định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã
nói trên.
Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc là Hoàng Đế
Gia Long sử dụng thủy quân thay vì chỉ có đội Hoàng Sa xem xét,
đo đạc thủy trình , khai thác hải vật như trước.
Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng,
thủy quân hàng năm liên tục đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường
Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền,
và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực
thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh
phái và dân binh địa phương trong có dân binh đội Hoàng Sa. Kinh
phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng
chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong vệ thủy quân đóng
ở kinh thành hay ở cửa Thuận An.
Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành
trong vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình
bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng ngãi có nhiệm
vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân
công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng
Ngãi, Có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định như trong chuyến công
tác năm 1835 và 1837 đã dẫn trên đây.
Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn được hoàng
đế Việt Nam theo sát và ra chỉ dụ cụ thể nhất là dưới triều vua
Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm
này quan trọng đến chừng nào.
Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm
cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ
Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân,
chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải):
“Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu
Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê):
“Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”. Cũng
chính vua Minh Mạng theo dõi các chuyến đi công tác Hoàng Sa và
đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường dân binh đội Hoàng Sa
Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn
thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như cai
đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị
tội.
Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức
chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành
có vệ thủy quân là chính phối hợp với vệ giám thành, và tỉnh Quảng
Ngãi, Bình Định. Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ:
“Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng
giêng, chọn phái thủy quân biền binh (28) và giám thành đáp 1 chiếc
thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho
2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn
ra xứ Hoàng Sa”.
Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng
giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương
lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4
dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.
Thuyền ô là thuyền sơn đen từ mũi đến lái dài 4 trượng
thước, rộng 8 thước 4 tấc, 3 thước 2 tấc, 30 cọc chèo. Từ thời Minh
Mạng thứ 15 (1834), có chỉ dụ các tỉnh có vùng biển như tỉnh Quảng
Ngãi nên đóng hai ba chiếc thuyền nhanh, cứ mộ dân ven biển sung
làm thợ lái, thủy thủ, mỗi thuyền cần đủ trên dưới 20 người, làm
thủy binh thuộc tỉnh khi gặp việc khẩn cấp để tuần tiễu, thông báo,
vận tải cho nhanh. Thuyền nhanh này cũng theo qui thức hình dáng
thuyền Điếu hải dài 4 trượng thước 5 tấc, rộng 1 trượng 5 thước
5 phân, sâu 5 thước 1 tấc.
Từ Quảng Ngãi, phải thuê 4 chiếc thuyền của dân.
Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu
hải thuộc thủy quân ở các tỉnh trong đó có tỉnh Quảng Ngãi.
Sở dĩ phải thuê vì thuyền của dân binh đội Hoàng
Sa vốn nhanh nhẹ, dễ dàng cặp đổ bộ vào đất liền, dễ dàng tránh
né các bãi ngầm, các thủy thủ lại quá quen thuộc, chưa kể thuyền
ít người mang lương thực cung cấp cho sáu tháng dễ dàng hơn, và
việc bắt chim, đánh cá để tự cung ứng cấp dưỡng cũng không còn là
vấn đề lớn, để có thời giờ làm việc, đi thu lượm hải vật quý, lấy
hàng hoá, súng ống từ tàu đắm. Tài liệu không cho biết rõ thuyền
ô có đi theo ra Hoàng Sa hay không. Song ít nhất lực lượng thủy
quân trên có 4 chiếc thuyền câu.
Cũng có năm đi 5 thuyền thì có thể cả thuyền ô khi
lực lượng thủy quân đặc nhiệm này đã kết hợp với công tác của đội
Hoàng Sa. Và như vậy sau này người ta không thấy sử sách nói nhiều
về đội Hoàng Sa nữa, vì lực lượng thủy quân đặc nhiệm này trở thành
chủ yếu và thường xuyên của nhà nước Việt Nam, và đội Hoàng Sa mang
tính dân sự càng ngày càng đậm nét hơn, chủ yếu hoạt động về lợi
lộc tư nhân, về kinh tế mà thôi.
Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức
thật qui củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ
còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa. Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh
Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy
có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào
thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình”. Như thế trước
thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã
chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người
ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển
165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công
tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy
trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công
ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua
Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ:
“Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo
10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc".
Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn
ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội
thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài
gỗ dựng làm dấu mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1
tấc, mặt bài khắc những chữ:
”Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân
chánh đội trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa
tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”. (Năm Minh Mạng
thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm
Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu
để ghi nhớ).
Mỗi năm cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức
vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy quân đặc nhiệm”, được phụng
mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ.
Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ
huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như
cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chánh
đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thủy
sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo
được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4,5
thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đảo, song rất
khó tổng kết tổng cộng trên thực tế cắm cột mốc được bao nhiêu đảo.
2.2.5.3 Xây dựng chùa miếu và trồng cây tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng
rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu
của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo
thể chế nhà đá . Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính
Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834)
đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu
tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử
cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng
phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến
dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu
xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác
có nhiệm vụ lâu dài hơn.
Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và
đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược
của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt
quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm
dấu mà nhận.
Như thế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách
gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng
hợp lý vì mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó
khăn, khó bảo dưỡng được cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động
hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều
tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây.
Ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần
đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ
nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo.
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
|