|
Quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa
Nguyễn Nhã - Ph.D thesis
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và
Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam. Chẳng hạn bản đồ
trong Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư của Đỗ Bá Công Đạo hay
bản đồ Đường Qua Quảng Nam đời Lê do M.G Dumontier vẽ lại bản đồ
của Đỗ Bá (hình 2.34 ). Bản đồ Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ trong
Nam Bắc Kỳ Hội Đồ (hình 2. 35). Rất tiếc những bản đồ chi tiết cũng
như tổng quát vẽ các đảo Hoàng Sa thời nhà Nguyễn nhất là thời Vua
Minh Mạng do thời tiết khắc nghiệt cũng như chiến tranh tàn phá
đã không còn lưu giữ.
2.1.2 Những tư liệu của Trung
Quốc và Phương Tây minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
Trong thời gian chưa có sự tranh chấp chủ quyền,
tức trước năm 1909, rất nhiều tài liệu của Trung Quốc cũng như Phương
Tây đều gián tiếp hay trực tiếp xác nhận chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hình 2.34: Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời
Lê, theo Thiên Nam lộ đồ, vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier).
“Bãi cát vàng” tức là Hoàng Sa
Trước tiên là Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người
Trung Quốc) năm 1696 (2.20). Trong quyển 3 của Hải Ngoại Kỷ Sự đã
nói đến Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Ngãi
đã hành sử chủ quyền của mình trên quần đảo này như sau:
"Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển,
chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường,
bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi
thuyền chạm phải ắt tan tành; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài
thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn Lý Trường Sa”
, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái
nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành
ma đói mà thôi. Quảng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy
trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá
đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền lui tấp
vào. Mùa thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng Đông bị một ngọn sóng
đưa thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh , sợ có
hiểm hoạ Trường Sa". [116,125]

Hình 2.35: Đại Nam nhất thống toàn đồ do Quốc Sử Quán triều
Nguyễn (th. k. XIX) ấn hành, có ghi rõ Hoàng Sa và Vạn Lý Trường
Sa [xem hình khổ lớn]
Thích Đại Sán đã kể lại kinh nghiệm hải trình qua
vùng Hoàng Sa tức Vạn Lý Trường Sa và cho biết ước lượng khoảng
cách từ vùng Hoàng Sa đến Đại Việt khoảng bảy ngày đường. Những
tài liệu của Việt Nam như đã cho biết giữa các đảo phải đi đến mất
1 ngày đường, nên nếu phải trải qua hàng trăm dặm tới Đại Việt đi
mất tới 7 ngày đường, trong khi từ bờ biển Việt Nam đi tới đảo gần
nhất của quần đảo Hoàng Sa chỉ mất 3 ngày 3 đêm là hợp lý.
Thích Đại Sán viết:
“Thời Quốc Vương trước, ở đây hàng năm sai thuyền
đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền
bị đắm ở Hoàng Sa”
cũng phù hợp với các tài liệu Việt Nam về hoạt động
đội Hoàng Sa, song rõ hơn là xác định thời gian trước thời Quốc
Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), có nghĩa là ít ra cũng ở thời
Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) hoặc các Chúa Nguyễn khác. Trong
thời gian này, chưa có tranh chấp nên Thích Đại Sán là người Trung
Quốc đã có thái độ khách quan ghi nhận chủ quyền của Đại Việt đối
với Hoàng Sa như trình bày ở trên. Cũng như các phần lãnh thổ khác
của Đại Việt, chẳng bao giờ có các văn bản của triều đình Trung
Quốc xác nhận.
Truyền thống chiếm hữu lãnh thổ của Phương Tây cũng
chẳng bao giờ công bố cho các nước khác được biết. Chỉ có thực tế
lịch sử xảy ra như thế nào thì những người am hiểu tường tận như
Thích Đại Sán biết rõ sự việc xảy ra ở Đại Việt xứ Đàng Trong đã
ghi nhận như thế.
Các bản đồ cổ Trung quốc do chính người Trung quốc
vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa
thuộc về Trung quốc. Khảo sát tất cả các bản đồ cổ của Trung quốc
từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả các bản đồ cổ nước
Trung quốc do người Trung quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các
quần đảo Tây Sa, Nam Sa hay bất cứ các đảo nào mà Trung quốc suy
diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản đồ cổ ấy. Tất cả các
bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía
Nam của Trung quốc.
Chẳng hạn như "Dư địa đồ" đời Nguyên của
Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư đồ của La Hồng
Tiên quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc
là đảo Hải Nam [58], (hình 2. 36).
"Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ" đời
Minh trong Đại Minh Nhất Thống Chí, năm 1461, quyển đầu, đã vẽ cực
nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (hình 2.37)
"Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ"
đời Minh, trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ của Trần Tổ Thụ, 1635,
quyển thượng đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58],
(hình 2.38).
"Lộ Phủ, Châu Huyện Đồ" đời Nguyên
vẽ lại trong Kim Cổ Dư Đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638,
quyển hạ đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (hình
2.39)
"Hoàng Triều Phủ Sảnh, Châu, Huyện Toàn
Đồ" đời Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo "Nội
Phủ Địa Đồ" gồm 26 mảnh mang tên Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ
đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (hình 2.40)
"Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ"
trong tập Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ (khuyết danh), năm
1894, đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam [58], (hình 2.41)
"Quảng Đông Tỉnh Đồ" trong Quảng
Đông Dư Địa Toàn Đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông soạn năm 1897,
có lời tựa của tổng đốc Trương Nhân Tuấn đều không thấy bất kỳ quần
đảo nào ở biển Nam Trung Hoa [58] (hình 2.42).
" Đại Thanh Đế Quốc" trong tập
Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ do Thường Vụ Ấn Thư Quán Thượng Hải, 1905,
tái bản lần thứ 4 năm 1910, đã vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung quốc
là đảo Hải Nam [58], (hình 2.43)
"Đại Thanh Đế Quốc Vị Trí Khu Hoạch Đồ",
(1909), cũng như bản đồ trên đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo
Hải Nam [58], (hình 2.44).
Sau năm 1909, nhiều bản đồ Trung Quốc đã vẽ Tây Sa,
Nam Sa trong lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có "Trung
Quốc Cương Giới Biến Thiên Đồ" năm 1939, đã vẽ ranh giới
thuộc quốc đời Thanh xuống tận gần Indonesia, gồm cả Triều Tiên
[58] (hình 2.45).
Ngoài ra, một số tư liệu cổ mà Trung Quốc trưng ra
để chứng minh sự phát hiện sớm của người Trung Quốc (mà thực ra
chỉ là suy diễn không có cơ sở vững chắc để chứng minh chủ quyền
của Trung Quốc) lại đều là các tài liệu viết về nước ngoài như Giao
Châu Dị Vật Chí của Dương Phù. Xứ Giao Châu là Việt Nam cũng chỉ
"Bắc thuộc" một thời gian nhất định. Cũng thế các tác
giả trên đã dẫn Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát (chứ không phải
Triệu Nhữ Thích), đời Nam Tống (1225) có nhắc đến Thiên Lý Trường
Sa, Vạn Lý Thạch Đường ở Phiên Quốc , có nghĩa nước khác chứ không
phải Trung Quốc.
Tư liệu cổ Trung quốc cũng dẫn Phù Nam Truyện của
Khang Thái (đời Ngô Tam Quốc), Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn
(đời Ngô). Chư Phiên Đồ đời Tống lại xác định giới hạn của Trung
Quốc với các nước khác ở Giao Dương tức Giao Chỉ Dương. Giao Chỉ
Dương hay Biển Giao Chỉ lại là Vịnh Bắc Bộ trong khi Hoàng Sa, Trường
Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ.
Như thế các tài liệu cổ trên đã gián tiếp chứng minh
Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa không
thuộc về Trung Quốc mà thuộc các nước khác mà Trung Quốc gọi là
Phiên Quốc, hay Giao Châu, Nam Châu.
Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa
tháng 1 nănm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc
quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật như tiền cổ,
đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá
trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc bởi đồng tiền La Mã đã từng
được phát hiện ở Óc Eo (An Giang), ở miền Nam Việt Nam nhưng không
thể chứng minh rằng Óc Eo (An Giang) thuộc chủ quyền La Mã.
Các nhân viên khảo cổ Trung Quốc còn phát hiện được
14 ngôi miếu cô hồn và cho rằng chúng có từ thời Minh Thanh. Trong
các ngôi miếu cô hồn ấy lại có 2 ngôi miếu ở đảo Vĩnh Hưng, tức
đảo Phú Lâm (Ýle Boisée) đã được nhóm Hàn Chấn Hoa biên chép lại
từ bài báo “Từ quần đảo Tây Sa trở về” trên Đại Công Báo
Hương Cảng, ngày 31 tháng 3 năm 1957, ghi rõ:
“Trên đảo Vĩnh Hưng [ Phú Lâm ] hiện nay có 2
ngôi miếu mà ngư dân tự xây dựng nên. Miếu mặt Nam gọi là “Cô hồn
miếu”, miếu ở mặt Bắc gọi là "Hoàng Sa Tự” (Hàn Chấn Hoa,
Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội
Biên, thiên thứ 1, trang 115 ).
”Hoàng Sa Tự” là bằng chứng hiển nhiên vết
tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam mà các vua chúa Việt
Nam, trong có thời Minh Mạng sai thủy quân ra Hoàng Sa xây dựng
miếu, chùa như đã trình bày trong chương này.
Tư liệu Phương Tây xác nhận về chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1494, Giáo Hoàng Alexandre VI đã dùng quyền lực
tinh thần để phân các vùng ảnh hưởng trên thế giới cho hai nước
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sự phân chia này được chính thức hoá
trong hiệp ước Tordesillas 1494. Do đấy, các đội thương thuyền của
Bồ Đào Nha đã đi về phương Đông tức Ấn Độ và Trung Quốc. Bồ Đào
Nha đã thiết lập một thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc) từ năm 1511
và biến Ma Cao thành thuộc địa từ 1557. Từ đó các thương thuyền
qua lại Biển Đông và có những nhà hàng hải Bồ Đào Nha thám hiểm
vùng Biển Đông trong đó có đảo Hoàng Sa.
Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernão Mendes Pinto, một
giáo sĩ Dòng Tên đã viết cuốn sách du ký Peragrinacão (dịch ra tiếng
Pháp là Pérégrination) nói về chuyến du hành năm 1545, được xuất
bản tại Lisbonne năm 1614. Trong đó FM., Pinto đã mô tả về quần
đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo Pracela (Pracela tiếng Bồ Đào Nha
có nghĩa là san hô, Pulo có nghĩa là đảo, cù lao).
Cũng trong thời gian này, các nhà truyền giáo đi
theo các thương thuyền đã đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt
Nam vào 1533. Con đường hàng hải vào đầu thế kỷ XVI từ Malacca đến
Macao đã bắt đầu gặp trở ngại, các thương thuyền bị đụng vào các
bãi đá ngầm ở Biển Đông. Qua những cuộc khảo sát với rất nhiều nhật
ký hải trình của các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha trong nửa sau thế
kỷ XVI đã nói về một dải cao tầng bãi đá ngầm Pullo Sissir (Baixos
de Pullo Sissir), (vĩ độ 10) mà người ta thấy rất nguy hiểm, càng
ngày người ta càng thấy rất rộng, bao quát cả một vùng đảo Hoàng
Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự như những hiểu biết của các nhà
địa lý của Việt Nam cùng thời.
Càng ngày người ta càng có nhiều thông tin song chỉ
lờ mờ rằng có rất nhiều những bãi đá ngầm nổi lập lờ trên mặt nước
chỉ cao khoảng chừng một đầu người, luôn luôn bị sóng biển che lấp.
Ban đêm, có khi tàu thuyền đi đến sát mũi nó mới nhận ra được. Có
một số đảo phủ cỏ và muối, một số bãi cát. Những hải trình không
gặp đá ngầm thường rất hẹp và nếu người ta đi qua được yên lành
thì chỉ nhờ có Chúa phù hộ cho mà thôi. Các tác giả khuyên các nhà
hàng hải chớ bao giờ rời xa bờ biển Champa.
Cũng giống như các nhật ký hải trình, các tấm hải
đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI phản
ánh một quan niệm, hiểu biết chung về một quần đảo mà họ gọi là
Pracel giống như một dải "ruban" dài hay như một lưỡi
dao dài cong chứ không gãy khúc, kéo dọc suốt ngoài khơi với bờ
biển Đàng Trong lúc bấy giờ.
Những tấm bản đồ hiếm có tìm thấy xưa nhất có ghi
nhận quần đảo Hoàng Sa (Parcel) của người Bồ Đào Nha còn là những
bản đồ vào giữa thế kỷ XVI. Đó là bản đồ Bartholomen Velho (1560)
(hình 2.46) được ghi lại trong sách của P.Y. Manguin và bản đồ khuyết
danh trong cuốn Livro da Marinharia, ghi lại trong cuốn Peregrination
của F.M. Pinto.(hình 2.47).
Hai tấm bản đồ có ghi niên đại 1560 tương đối giống
nhau đã phản ánh trung thực sự hiểu biết lúc bấy giờ của người Phương
Tây về Hoàng Sa. Nói chung người Phương Tây lúc bấy giờ mà tiêu
biểu là người Bồ Đào Nha chưa hiểu biết rõ về Hoàng Sa cũng chưa
biết các đảo này thuộc về chủ quyền của nước nào.
Hình dáng Hoàng Sa mà người Bồ ghi hàng chữ J Do
Pracel trên cũng ở phía Bắc một dải dài những chấm nhỏ chạy từ khoảng
Cù Lao Chàm ở ngoài khơi Hội An, được gọi là Pulo Campello tới Cù
Lao Thu (đảo Phú Quý) được ghi bằng Pulo Sissir, ngoài khơi Phan
Thiết ngày nay. Cái dải dài rộng và những chấm đậm ở phiá Bắc, càng
về phía Nam càng hẹp lại và tận cùng bằng cái chấm nhỏ giống như
một dải “ruban” nhọn phía dưới. Dải “ruban” Pracel ấy trong Livro
da Marinharia của FM Pinto được ghi nhiều chấm hơn, phía Bắc đậm
hơn, bề ngang phần dưới hẹp hẳn.
Đến cuối thế kỷ XVI, bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590)
(hình 2.48) cho thấy người Bồ Đào Nha cũng chưa tăng sự hiểu biết
gì thêm. Song người Hà Lan đã bắt đầu hoạt động rất mạnh ở vùng
này với bằng chứng là bản đồ của Van - Langren năm 1595 (hình 2.49)
hết sức phong phú, rất nhiều chi tiết nhất là tại vùng Trung Bộ.
Tại Bắc Bộ cũng có nhiều chi tiết rõ hơn nhất là sông Hồng đã được
vẽ bắt nguồn từ Vân Nam ghi là Suinam. Ở phía Tây Bắc Pracel có
đảo Hải Nam được ghi là L’Ainam. Ở phía Đông Bắc và Đông thì không
có ghi địa danh nào cả, song lại được vẽ bởi những chấm đậm và liền
nhau.

Hình 2.49 a: Bản đồ do anh em Van Langren vẽ (thế kỉ XVI), 1595,
[Les établissement et point de penetration européen en Extrême Orient
au 18è siècle] [xem hình khổ lớn]
Điều đặc biệt ở bản đồ Van - Langren (1595) trên
phần đất liền, ngoài địa danh rất đáng lưu ý là mũi Varella còn
có bờ biển ghi là Costa da Pracel ở đối diện với Pulo Canton (Cù
Lao Ré) thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi.
Bước qua thế kỷ XVII, do nhiều nguyên nhân, người
Bồ Đào Nha đã mất thế độc quyền ở Biển Đông. Một số quốc gia khác
đã vượt trội, tăng cường sự có mặt của mình ở vùng biển này, đi
lại ngày càng nhiều chung quanh quần đảo Hoàng Sa. Địch thủ có thế
lực lớn mạnh nhất của Bồ Đào Nha lúc này là Hà Lan. Tiếp theo là
Anh và Pháp.
Khác với phương thức kinh doanh của người Bồ Đào
Nha trong thế kỷ trước, các hoạt động hàng hải của Hà Lan, Anh và
Pháp trong thế kỷ này chủ yếu dựa vào những công ty thương mại quốc
tế, được các chính quyền nhà nước ấy ủy quyền và bảo trợ, điển hình
là các công ty Đông Aán - Hà Lan (V.O.C.) thành lập năm 1602 và
các công ty Đông Ấn Anh (East India Company) thành lập năm 1600.
Hoàng Sa nằm trên các tuyến đường giao thương quốc
tế lúc bấy giờ đã được người Tây Phương coi là một vị trí chiến
lược trọng yếu.

Hình 2.49 b: Bản đồ do công ti Đông Ấn vẽ năm 1703 (thế kỉ XVIII)
[xem hình khổ lớn]
Sang thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển Đông
của các công ty Đông Ấn rất kỹ càng. Từ cuộc thám hiểm đo đạc của
phái bộ Kergariou - Locmacria vào những năm 1778 - 1787 ở Biển Đông
đã giúp cho người Phương Tây hiểu biết rõ hơn, trung thực hơn, không
còn lờ mờ và sợ hãi như những huyền thoại trước đây về Biển Đông.
Các hải trình tương đối an toàn hơn, tuy họ không hề phủ nhận sự
nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực quần đảo Paracels.
Người Pháp qua các hoạt động của các giáo sĩ, thương
gia nhất là từ khi giám mục Pigneau de Béhaine giúp Nguyễn Ánh về
quân sự, đã bắt đầu quan tâm đến Việt Nam và kế thừa những hiểu
biết của người Bồ Đào Nha, Hà Lan, đã biết rất rõ về nội tình chính
trị Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài thời phân tranh cũng như khi
thống nhất. Từ đó, người Phương Tây mới biết rõ chủ quyền của Việt
Nam ở Hoàng Sa.
Như thế, chính người Pháp mới bắt đầu cung cấp những
tài liệu xác thực về sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Sau đây là những tài liệu chủ yếu:
Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels
là một quần đảo thuộc về nước An Nam.
Các thư từ nhật ký của người Tây Phương, trong đó
có người Pháp, đã được tập hợp thành bộ Lettres Edifiantes et Curieuses
của Archives des Missions Étrangères de Paris, Paris, 1838, 4 vols.
Trong tài liệu này, có nhật ký của chiếc tàu Amphitrite chở các
giáo sĩ Pháp qua quần đảo Paracels vào năm 1701 ghi như sau:
“Người ta cho tàu nhổ neo, gió rất tốt. Và sau
đó một thời gian đi đến mỏm đá Paracels. Paracels là một quần đảo
thuộc về nước An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng
trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó”. [66]
Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau
(1769 - 1825), viết vào những năm cuối đời Gia Long (1816 - 1819)
đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam
trên quần đảo Paracels. Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825) được
vua Gia Long đặt tên là Nguyễn Văn Thắng, phong là Thắng Toàn Hầu,
từng theo giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, đã thay J. M. Dayot vào
cuối năm 1796 trông coi tàu Phi Long, có dự trận Thị Nại 1801, hoạt
động ở Quảng Nam - Huế. Ông trông coi việc tiếp tế cho quân đội
ở Phú Xuân (sắc ngày 16 -3 - 1802).
Ông viết hồi ký nhan đề Le mémoire sur la Cochinchine
được A. Salles, một viên chức thanh tra thuộc địa công bố trên Bulletin
des Amis du Vieux Huế, N. 2, Avril - Juin 1923, trong đó có đoạn
viết:
“Nước Cochinchine mà vua bây giờ xưng đế hiệu
(Hoàng đế) gồm xứ Đàng Trong (Cochinchine proprement dite), xứ Đông
Kinh (Tonquin), một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không
xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, đá ngầm
và mỏm đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816 đương kim hoàng đế mới
lấy chủ quyền trên quần đảo ấy" [36, 13] [177]
Univers, histoire et description de tous les peuples,
de leurs religions, moeurs et coutumes của giám mục Taberd xuất
bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ
quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816. Giám mục Jean Louis Taberd
trong cuốn Univers, histoire et description de tous les peuples,
de leurs religions, moeurs et coutumes, xuất bản năm 1833 viết về
Paracels như sau:
“Chúng tôi không đi vào việc kê khai những hòn
đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ
hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels, mà người Việt gọi là Cát Vàng
hay Hoàng Sa (có nghĩa là Cát Vàng) gồm rất nhiều hòn đảo chằng
chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm
cho những kẻ đi biển rất e ngại, đã được chiếm cứ bởi người Việt
xứ Đàng Trong". “Chúng tôi không rõ họ có thiết lập một cơ
sở nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết chắc là hoàng
đế Gia Long đã chủ tâm thêm cái đoá hoa kỳ lạ đó vào vương miện
của ông, vì vậy mà ông xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển
để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816 mà Ngài
đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”. [66] [186]
An Nam Đại Quốc Họa Đồ của giám mục Taberd xuất bản
năm 1838 khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels và nằm trong
lãnh hải Việt Nam. [27] (hình 2.50) Bản đồ này được đính sau cuốn
Tự Điển Việt - La Tinh nhan đề Dictionarium Anamatico-Latinum (Serampore,1838)
của giám mục Taberd từng làm thông dịch cho vua Minh Mạng từ tháng
11 năm 1826, xuất bản năm 1838. Bản đồ có chiều dài 80cm, ngang
44cm in trên loại giấy thường để in hoạ đồ. Nhan đề bản đồ được
in bằng ba thứ tiếng: chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và chữ La Tinh.

Hình 2.50: An Nam đại quốc hoạ đồ (1838) - phụ bản in trong:
AJ. L. Taberd, Dictionarium Anamatico-Latinum (Serampore,1838),
trong đó có ghi đảo Cát Vàng [xem hình khổ lớn]
An Nam Đại Quốc Họa Đồ là một tài liệu phản ảnh sự tổng kết những
hiểu biết sâu sắc và chính xác của người Phương Tây từ thế kỷ XVI
đến đầu thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần đảo Hoàng Sa và nước
Đại Việt mà tác giả gọi là An Nam Đại Quốc.
An Nam Đại Quốc Họa Đồ là một minh chứng rất hùng
hồn khẳng định một cách rõ ràng: Paracels là địa danh mà người Phương
Tây chỉ quần đảo ở Biển Đông suốt thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
chính là Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam.
Trong bản đồ này có ghi chú: “Paracels Seu Cát Vàng”.
Tại Biển Đông không có đảo Hải Nam của Trung Quốc mà chỉ có đảo
của Việt. Đảo ở khoảng vĩ độ 170 Bắc và kinh độ hơn 1110 Đông, có
vẽ một số đảo (bằng một số dấu chấm) và ghi hàng chữ "Paracel
Seu Cát Vàng". Từ Seu ( tiếng La Tinh) = " có nghĩa là",
Cát Vàng ( tiếng Nôm) tức là "Hoàng Sa" (tiếng Hán Việt).
Paracel = Cát Vàng = Hoàng Sa, là một khẳng định rõ ràng nhất quán
chứ không phải suy diễn như Tây Sa của Trung Quốc.
Trong bản đồ An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ không ghi đảo
Hải Nam hay bất cứ đảo nào của các nước láng giềng và chỉ ghi "Paracel
Seu Cát Vàng" mà thôi, chứng tỏ Paracel Seu Cát Vàng nằm trong
lãnh thổ của An Nam Đại Quốc hay Đại Việt.
Địa danh Paracel ghi bên cạnh những chấm đánh dấu
các đảo ở khoảng vĩ độ 160 Bắc (ngang vĩ độ cửa Tư Dung , Thừa Thiên
) lên đến vĩ độ 170 Bắc khoảng Cửa Tùng (Quảng Trị) và kinh độ 111,018
Đông. Điều này đã phản ảnh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người Phương
Tây đã rất chính xác và Hoàng Sa không còn chung với quần đảo Trường
Sa nữa.
Trên phần đất liền ghi hàng chữ dài: "An Nam
Quốc Seu Imperium Anamiticum" cùng hàng chữ "Cocincina
interior" seu "An Nam Đàng Trong", ở phía Nam "Lũi
Sầy" seu "Murus magnus separans Olim Utrumque regne "
và "Cocincina exterior", Đàng Ngoài seu "Tunquinum",
chứng tỏ nội dung bản đồ được vẽ không phải ở thời điểm 1838, mà
đã được vẽ từ trước đó. Song bản đồ lại ghi các địa danh mới ra
đời sau này như Bình Định Thành, Định Tường Thành... nên năm vẽ
An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ phải sau khi Nguyễn Ánh đã chiếm thành Qui
Nhơn.
Bản đồ vẽ bờ biển miền Nam Trung Bộ rất chính xác,
còn miền Bắc, nhất là giáp ranh với Lào chưa thật chính xác. Sự
hiểu biết của người Tây Phương về Việt Nam rất phong phú. Dù sao
cho tới đầu thế kỷ XIX, người Phương Tây đã biết rất rõ về Việt
Nam và Hoàng Sa.
The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol
VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức
giữ chủ quyền quần đảo Paracels). The Journal of the Asiatic Society
of Bengal là tờ báo của Hội Á Châu của người Anh ở xứ Bengal.
Trong số báo 6 và 7 của báo này đã có đăng bài viết
dài về Hoàng Sa của Việt Nam bằng Anh ngữ của giám mục Taberd với
tiêu đề: “Pracel or Paracels” (Cồn Vàng) có nội dung như sau:
“Pracel hoặc Paracels (Cồn Vàng). Tuy rằng cái
thứ quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn, nó
hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia long đã nghĩ tăng lãnh thổ
bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long
trọng cắm cờ và chính thức giữ chủ quyền các hòn đá này, mà hình
như không một ai tranh giành với ông”. [36, trg 11] (thực ra
đây chỉ là một lần nữa Việt Nam lại tiếp tục tự khẳng định chủ quyền
của mình ở quần đảo Hoàng Sa mà thôi).
Trong The Journal of the Geographycal Society of
London (năm 1849), GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những
trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels. GutzLaff
đã viết bài báo “Geography of the Cochinchine Empire” đăng trong
The Journal of the Geographical Society of London, trong vol. the
19th năm 1849, trang 97 có đoạn khá dài về Hoàng Sa như sau:
”Đây chúng tôi đáng lẽ không kể đến quần-đảo
Cát Vàng nó ở gần bờ bể An-nam 15 đến 20 dặm và lan giữa các vĩ-tuyến
15 và 17 độ Bắc, và các kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, nếu Vua xứ
Cochin-china đã không đòi quần-đảo ấy là của mình, với nhiều đảo
và ghềnh rất nguy-hiểm cho người hàng-hải. Không biết vì san hô
hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần; nhưng rõ-ràng nhận thấy
rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã
có người ở vĩnh-viễn, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh dập
qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá-trị nếu nghề chài ở đó không
phồn-thịnh và không bù hết mọi nguy-nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu
đời, những thuyền, phần lớn từ Hải-Nam tới, đã hằng năm đến thăm
các bãi nổi nầy và tiến-hành cuộc viễn-du xa xa đến tận bờ đảo Bornéo.
Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều,
đến đỗi không những bù hết mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi
rất to. Chính-phủ An-Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một
ngạch thuế đã đặt ra, bèn lập ra những trưng-thuyền và một trại
quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải
trả, và để bảo-trợ người đánh cá bản-quốc. Vậy nên một cuộc giao-dịch
lớn được dần dà gây nên và có cơ bành-trướng nhờ sự có rất nhiều
cá tới trên các bãi nầy đẻ trứng. Một vài đảo có cây-cối cằn-cỗi,
nhưng thiếu nước ngọt ; và những thủy-thủ nào quên mang theo nước
trữ đầy đủ, thường bị lâm vào cơn khốn-đốn lớn”.
Tác giả còn viết rằng
“Nếu vua xứ Cochinchina đã không đòi quần đảo
ấy là của mình với nhiều đảo và ghềnh nguy hiểm cho ngành hàng hải,
thì ông đã chẳng kể đến quần đảo Paracels (Cát Vàng) làm gì”
[36,trg 12],[157].
Tuy tác giả ước lượng không chính xác khoảng cách
từ bờ biển Việt Nam 15 - 20 dặm (Anh), song điều may mắn là tác
giả lại định tọa độ rất chính xác giữa 150-170 vĩ độ Bắc và 1110-
1130 kinh độ Đông.
Như vậy, tác giả đã cho biết rõ rằng chính phủ Việt
Nam đã thực thi chủ quyền của mình qua việc lập ra những trưng thuyền
và thành lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh
cá Việt Nam.
Đối chiếu với sử liệu Việt Nam, năm 1816 là năm đầu
tiên vua Gia Long sai thủy quân thay vì đội Hoàng Sa hoạt động ở
Hoàng Sa. Chính sự kiện này mà người Phương Tây cho rằng rất quan
trọng, đáng lẽ phải viết năm 1816 quân của vua Gia Long, lại viết
chính vua Gia Long long trọng xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa. Khi
phân tích các tư liệu Việt Nam và các tư liệu nước ngoài cũng như
của Trung Quốc, chúng ta thấy rất rõ hầu hết tư liệu Việt Nam đều
là tư liệu của nhà nước, minh xác rất rõ việc xác lập và thực thi
chủ quyền Việt Nam qua các hoạt động khai thác kinh tế, cụ thể hoạt
động của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải do nhà nước quản lý, các hoạt
động của dân các tỉnh miền Trung như Quảng ngãi, Bình Định, Bình
Thuận cùng các hoạt động của thủy quân, giám thành như xây dựng
miếu, trồng cây, dựng bia, đặt cột mốc, đo đạc thủy trình.
Còn tài liệu nước ngoài trong đó có cả tài
liệu Trung Quốc, phần lớn là nguồn tư nhân. Theo đó các nhà tu,
nhà buôn, thám hiểm cũng đều khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracel
và chính quyền Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình qua các thời
đại.
2.2 Sự khẳng
định chủ quyền và những hoạt động xác lập chủ quyền của các nhà
nước ở Việt Nam
2.2.1 Sự khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường
Sa của vua chúa, triều đình Việt Nam
Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói
rõ vua và triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình ở
Hoàng Sa và Trường Sa, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy
vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường
Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam. Các tài liệu chính thức của nhà nước
Việt Nam, của triều đình Việt Nam như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên,
Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống
Chí đã ghi nhận rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt
Nam luôn khẳng định Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam.
Tỉ như tháng 8 mùa thu năm Quý Tị Minh Mạng thứ 14
(1833), vua Minh Mạng bảo Bộ Công rằng: “Dải Hoàng Sa trong
vùng biển Quảng Ngãi...” (Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị
kỷ, quyển 104). Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836)
(năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua:
“Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta
rất là hiểm yếu" ( Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị
kỷ, quyển 165).
Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) phúc
tấu của Bộ Công cũng đã khẳng định:
“Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền
vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà ...” (tập Châu
Bản Thiệu Trị tập 51, trang 235). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của
Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng đã chép một cách rõ ràng:
“Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi) chạy ngang đến đảo
cát: đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh ...”
2.2.2 Việc quản lý hành chánh của các chính
quyền Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng
Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là phủ,
khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời
kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng
(năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương
năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa
tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì.
Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa
Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt và trước hết trên danh
nghĩa thuộc Thừa Tuyên, Quảng Nam quản hạt. Năm 1602, với tính cách
tự trị, tự quản, Nguyễn Hoàng lại đặt thành dinh Quảng Nam, quản
hạt phủ Quảng Nghĩa (hay Ngãi) (trước đó là phủ Tư Nghĩa). Cũng
từ năm 1602, phủ Quảng Nghĩa có chức tuần phủ và khánh lý cai trị.
Như thế, trên thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa
có huyện Bình Sơn (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh.
Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi
"Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ Biên
Tạp Lục của Lê Quý Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc
dinh Quảng Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh". Địa Dư Chí của
Phan Huy Chú chép "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang
thời Tây Sơn từ 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà
Nghĩa.
Năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng
Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngãi đọc chệch). Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài
viên tuần phủ, khánh lý còn có một viên chính hộ lý, một viên đề
lãnh, một viên ký lục, một viên cai phủ và một viên thư ký. Sau
Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh.
Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã
An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân
hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường
An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải.
Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré
phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung
cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Ánh được cử
làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo
Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn.
Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của
Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
đã xác nhận đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi
trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can
thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng
Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền
trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong
hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.
2.2.3 Sự thành lập và hoạt động của đội Hoàng
Sa
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác
ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến
việc xác lập chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ
XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam, đội Hoàng Sa đã hoạt động tại
Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác
tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.
2.2.3.1 Địa bàn ra đời của đội Hoàng Sa là
ở vùng cửa biển Sa Kỳ
(hình 2.51) và Cù Lao Ré.
Trước hết Cù Lao Ré (2.21) (hình 2.52) còn gọi là
Lý Sơn, người Bồ Đào Nha gọi là Pulo Catah, người Trung Quốc gọi
là Ngoại La. Cù Lao Ré ở vĩ độ 15040 Bắc và kinh độ 1090 Đông, nằm
về phía Đông Bắc vịnh Dung Quất, cách thủ phủ Quảng Ngãi 50km, cách
cửa biển Sa Kỳ khoảng 27 km. Xa về phía Bắc là Cù Lao Chàm, phía
Nam là đảo Phú Quí.
Đảo Cù Lao Ré hình đa giác không đều cạnh, chiều
dài lớn nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích gần 11km2 (2.22).
Núi chiếm 1/4 ở bốn chung quanh, trống ở giữa, gồm 5 ngọn: Hòn Tiền,
HònTai, Hòn Sỏi, Hòn Vung và lớn nhất là Thới Lới. Về phía Tây Bắc,
ngoài biển còn có Hòn Bé, phía Đông là Hòn Mù Cu. Tại Hòn Bé có
đất trồng trọt , có giếng nước ngọt ngay sát bờ biển.
Ở ngoài biển quanh đảo có san hô và có những hải
sản quý như hải sâm (đồn đột), đảo trồng nhiều lạc và ngô, bây giờ
trồng hành tỏi. Dân cư sống ở đây từ lâu đời, còn di tích văn hoá
Sa Huỳnh gồm các mảnh gốm, các mộ chum cách nay hơn 2000 năm(2.23)
và văn hoá Chăm. Theo gia phả các dòng ho, những người Việt đầu
tiên di dân ra đảo vào đầu thế kỷ XVII từ vùng cửa biển Sa Kỳ ở
đất liền tiến ra.
Có 2 nhóm dân chiếm 2 vùng khác nhau của đảo. Sáu
họ (lục tộc) của làng An Vĩnh (huyện Sơn Tịnh) ra ở phường An Vĩnh,
nay là Lý Vĩnh và bảy hộ (thất tộc) của làng An Hải (huyện Bình
Sơn) ra ở phường An Hải, nay là làng Lý Hải (2.24).
Tại chùa Hang còn gọi là “Thiên Khổng Thạch Tự” ở
núi Thới Lới, có thờ các vị tiên hiền khẩn hoang, mở đầu của phường
An Vĩnh (Lý Vĩnh) và An Hải (Lý Hải). Dần dần, dân các nơi thậm
chí cả vùng Gia Định cũng đến đây định cư. Theo gia phả họ Phạm
Văn (thôn Tây Lý Vĩnh) cho biết các vị tiên hiền ra đảo lập nghiệp
vào năm Hoàng Định thứ 9 (1609). Dân các phường An Vĩnh, An Hải
đã nhiều đời sinh ra và lớn lên ở Cù Lao Ré nhưng họ vẫn phải chịu
đầy đủ mọi nghĩa vụ với làng quê gốc mình ở đất liền.
Mãi đến năm Gia Long thứ 3 (1804), hai phường An
Vĩnh và An Hải mới thực sự được tách ra thành các đơn vị hành chính
độc lập với làng quê gốc , theo đơn của các viên chức phường An
Vĩnh xin tách khỏi xã An Vĩnh. Tài liệu này còn được lưu giữ tại
nhà thờ họ Phạm Quang, phường An Vĩnh, nay là xứ Lý Vĩnh, huyện
Lý Sơn [ 87] [88]
Đối diện với Cù Lao Ré ở đất liền là vùng cửa biển
Sa Kỳ và mũi Ba Làng An (Batangan) ở vị trí nhô ra biển với kinh
độ ở gần quần đảo Hoàng Sa nhất so với các nơi ở bờ biển Trung Bộ
của Việt Nam, lại là địa bàn của làng quê gốc của dân Cù Lao Ré.
Đóù là xã An Vĩnh ở một bên bờ cửa biển Sa Kỳ thuộc huyện Sơn Tịnh,
và phía Bắc là xã An Hải thuộc huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Xã An
Vĩnh gồm đất liền ở cửa biển Sa Kỳ và phường An Vĩnh, xã An Hải
cũng thế, gồm phường An Hải ở Cù Lao Ré mà đến đời Gia Long thứ
3 (1804) mới tách ra như nói trên. Tại phía Nam cửa biển Sa Kỳ còn
di tích Vườn Đồn, nơi đồn Biển Sa Kỳ xưa. Tại đây cũng còn di tích
miếu Cá Ông và di tích đình của xã An Vĩnh xưa (nay là thôn An Vĩnh,
xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi).
Vùng cửa biển Sa Kỳ bao gồm cửa biển, không có sông
chảy ra nên không có hiện tượng cát bồi, có độ sâu tương đối tốt
để làm cảng (thuyền) thời bấy giờ. Vì thế, hai bên cửa biển thuận
lợi cho dân cư sinh sống, nhất là bờ phía Nam, xã An Vĩnh, sống
về nghề biển và cả nông nghiệp, cách phủ lỵ Quảng Ngãi gần 30km.
Bờ phía Bắc thuộc xã An Hải, ít trù phú, ít dân cư hơn.
Những hải sản quý ở vùng Cù Lao Ré như hải sâm, đồi
mồi có nơi tiêu thụ dễ, gần đó là đô thị Hội An ở phía Bắc. Vùng
cửa biển Sa Kỳ và Cù Lao Ré cũng dễ dàng được cung cấp các vật liệu
làm thuyền buồm như tre, lá, gỗ, kể cả gỗ kiền kiền làm cột buồm
từ vùng rừng núi Quảng Ngãi, Quảng Nam ở cách không xa. Hoàn cảnh
địa lý tự nhiên, từ vị trí, địa thế cũng như nhân văn nói trên của
vùng cửa biển Sa Kỳ- Cù Lao Ré khiến dân cư ở đó giỏi đi biển, thường
đi tìm những hải sản quý như hải sâm, ốc tai tượng ngay ở vùng kế
cận Cù Lao Ré. Hiển nhiên những nơi như Hoàng Sa đầy ắp những hải
sản tất sẽ có sức hút những cư dân trên đi tới. Đó cũng là lý do
đầu tiên khiến Cù Lao Ré - cửa biển Sa Kỳ là cái nôi ra đời của
đội Hoàng Sa.
Ngoài ra, do hoàn cảnh lịch sử của xứ Đàng Trong,
muốn tồn tại, từ thời Nguyễn Hoàng đã nghĩ đến phát triển giao thương
ra biển khơi, tạo điều kiện phát triển mạnh của đô thị giao thương
quốc tế Hội An với sự có mặt của người Nhật, Trung Quốc, nhất là
người phương Tây (từ đầu thế kỷ XVI phát triển giao thương về phương
Đông, khi thiết lập được các thương điếm từ Malacca đến Macao).
Trận thủy chiến với người Hà Lan (hợp tác với quân
Trịnh) ở gần cửa Thuận An thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã thúc đẩy
xứ Đàng Trong phải có kế hoạch thường xuyên thu lượm không những
hải sản quý mà còn sản vật do đắm tàu, nhất là súng ống để tăng
cường sức mạnh trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh ở Đàng Ngoài.
2.2.3.2. Thời gian hoạt động của đội Hoàng
Sa
Về thời gian bắt đầu ra đời của đội Hoàng Sa, các
sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép đội Hoàng Sa được
thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn.
Hải Ngoại Kỷ Sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép
thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội “Hoàng Sa” và
Phủ Biên Tạp Lục viết năm 1776, chép “Tiền Nguyễn Thị”. Đại Nam
Thực Lục Tiền Biên (1821) chép “Quốc sơ trí Hoàng Sa”. Tất nhiên
việc thành lập đội Hoàng Sa phải có trước hoặc trong thời Chúa Nguyễn
Phúc Tần (1648-1687), tức là trước -hoặc trong thời ra đời- cuốn
sách Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (năm 1686), đã chép bắt đầu các
hoạt động ở Hoàng Sa. Đó chính là thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648)
hay chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) hoặc chính trong thời Chúa
Nguyễn Phúc Tần.
Theo sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Nguyễn
Hoàng vào năm Hoàng Định năm thứ 3 (1602) mới đi chơi núi Hải Vân,
thấy núi non hiểm trở nói rằng : “Chỗ này là đất yết hầu của
miền Thuận Quảng”. Rồi vượt qua núi, xem xét hình thế, đến
tận đất xã Câu Húc thuộc Duy Xuyên hiện nay, sai người con thứ 6
là Nguyễn Phúc Nguyên đến trấn giữ dinh Quảng Nam này.
Từ đó cho đến khi mất vào năm 1613, mọi việc ở phía
Nam đèo Hải Vân đều giao cho Nguyễn Phúc Nguyên trực tiếp lo liệu.
Ngoài ra, như ta đã biết ở trên, Phủ Biên Tạp Lục
cũng như các tài liệu khác đều cho biết đội Hoàng Sa khi trở về
đất liền vào tháng tám âm lịch vào cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản
vật tại chính dinh ở Phú Xuân.
Từ thời Nguyễn Phúc Nguyên tuy không còn ở Ái Tử,
Quảng Trị nữa mà mới vào vùng Phước Yên, Quảng Điền, bên bờ sông
Bồ, chi nhánh của sông Hương, song chính dinh chưa tới Phú Xuân.
Thời chúa Nguyễn Phúc Lan mới bắt đầu dời chính dinh
đến Kim Long vào năm Dương Hoà năm đầu (1635) và thời chúa Nguyễn
Phúc Tần mới dời qua Phú Xuân.
Như thế, chúng ta có cơ sở để kết luận đội Hoàng
Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), hay
chắc chắn từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), bởi chính vào
thời kỳ này, các thuyền của đội Hoàng Sa mới đi vào cửa Eo (Thuận
An ) và nộp sản vật tại chính dinh Phú Xuân.
Dù ở thời Chúa Nguyễn nào thì thời điểm lập ra đội
Hoàng Sa cũng chắc chắn ít ra là vào nửa đầu thế kỷ XVII, hoặc nói
như sử sách vào đầu thời chúa Nguyễn. Đội Hoàng Sa đã hoạt động
kể từ chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa
Nguyễn,cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi. (2.25)
Phong trào Tây Sơn nổi dậy, Chúa Nguyễn chạy vào
đất Gia Định thì đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn
mà trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh,
Cù Lao Ré đã cho biết năm 1786 Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré
đã xin chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại.[
88 ].
Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của
đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng, nên đến khi Gia Long năm thứ 2 (1803)
mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam Thực Lục Chính
Biên, quyển XXII đã ghi rõ:”cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển
Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.Năm 1815, vua
Gia Long sai đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa.
Từ năm 1816, vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân cùng
với đội Hoàng Sa, không còn giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa
lo kiểm soát, đo đạc thủy trình ở Hoàng sa.
Đội Hoàng Sa trở thành tổ chức mang tính dân sự nhiều
hơn. Theo truyền thống, dân Cù Lao Ré vẫn tiếp tục đi biển trong
đó có vùng Hoàng Sa có nhiều sản vật quý.
Không có một văn bản nào ghi lại việc quyết định
bãi bỏ đội Hoàng Sa ngoài Việt Sử Cương Giám Khảo Lược soạn năm
1877 của Nguyễn Thông cho biết đội Hoàng Sa bị bãi bỏ từ lâu, trước
năm soạn cuốn sách này (1877).
Thời Tự Đức, người ta không thấy biên niên sử còn
chép các hoạt động của đội Hoàng Sa, vì theo phàm lệ của Đại Nam
Thực Lục đệ tứ kỷ chép vào đời Tự Đức, những việc thành lệ thường
không được chép nữa mà thôi.
Những hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như thủy quân
từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) đã trở thành lệ thường, như đã chép
trong sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ.
Ngoài ra có văn tế sống lính đội Hoàng Sa thời vua
Tự Đức còn lưu lại ở đảo Cù Lao Ré.
Tóm lại tuy không biết thời gian chính xác đội Hoàng
Sa đã ngưng hoạt động, chỉ biết vào năm 1877, khi Nguyễn Thông viết
sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược thì đội Hoàng Sa đã bị bãi bỏ
từ lâu rồi. Từ năm 1816, thủy quân đã đảm trách những việc xem xét,
đo đạc thuỷ trình, không còn giao phó hoàn toàn cho đội Hoàng Sa
như trước nữa.
Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo những tài liệu
như Dư Địa Chí, Hoàng Việt Địa Dư Chí, Đại Nam Thực Lục Tiên Biên,
Đại Nam Nhất Thống Chí, hàng năm đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng
3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch thì về. Riêng theo Thiên Nam Tứ Chí
Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói
thời gian về; theo Phủ Biên Tạp Lục có bản đồ thường đi vào tháng
giêng âm lịch đến tháng 8 về (nếu lương thực mang đi có 6 tháng,
chép tháng giêng là nhầm). Từ tháng 3 đến tháng 8 tức khoảng từ
tháng 4 đến tháng 9 dương lịch ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây
Nam rất thuận lợi cho việc đi biển, nhất là vùng Quảng Ngãi lại
chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng
9 dương lịch đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10
âm lịch.
Như thế việc chọn thời gian hoạt động trên của đội
Hoàng Sa là một lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân.
Đến tháng 8 gió Tây Nam yếu, chuyển qua gió Đông
Bắc thì thuyền của đội Hoàng Sa trở về vào cửa Eo để nộp sản phẩm
ở chính dinh là đúng lúc, hợp lý nhất. Lúc đầu đi sớm quá không
thấy lợi, nên dời đến tháng 3 là điều hợp lý. Song chấm dứt vào
tháng 8 để tránh bão là điều rất khôn ngoan của tiền nhân ta.
Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi
từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm.
Riêng Đại Nam Nhất Thống Chí 3, 4 ngày đêm.
Thời gian trên đều là thời gian thực tế đối với loại
thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hành từ đất liền hay Cù Lao Ré đến
đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên trong suốt 6 tháng
hoạt động, đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, suốt các đảo
từ phía Bắc.
Riêng các hòn đảo xa phía Nam, ở cuối quần đảo Trường
Sa hiện nay là Côn Đảo, Hà Tiên thì đã có đội Bắc Hải phụ trách
và cũng lệ thuộc vào đội Hoàng Sa.
Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong khu vực có nhiều
bão tố, nên điều kiện lúc bấy giờ không cho phép trú cả năm mà phải
theo mùa.
Như thế, quá trình hoạt động của đội Hoàng Sa cũng
là quá trình xác lập và thực thi chủ quyền Việt Nam trên quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, kéo dài từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
và theo luật lệ rõ ràng của nhà nước Việt Nam.
Bảng 2.1 Bảng đối chiếu các dữ kiện của các tài liệu Việt Nam
về hoạt động của Đội Hoàng Sa
| Tên tài liệu |
Số lượngngười (suất đinh) |
Số chiếc thuyền |
Thời gian đi |
Thời gian về |
Thời gian đi đường |
Thời gian hoạt động |
Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư
hay Toàn Tập An Nam Lộ |
Không ghi |
18 |
Cuối Đông âm lịch |
Không ghi |
Một ngày rưỡi
(có dị bản ghi nhầm nửa ngày) |
Không rõ |
| Phủ Biên Tạp Lục |
70 (xã An Vĩnh) |
5 thuyền câu nhỏ |
Tháng 3
(có dị bản ghi nhầm tháng Giêng
âm lịch, tháng 2 dương lịch) |
Tháng 8 âm lịch
(tháng 9 dương lịch) |
3ngày đêm |
6 tháng |
Dư Địa Chí
(Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí) |
70 (xã An Vĩnh) |
5 thuyền nhỏ |
Tháng 3 âm lịch
(tháng 4 dương lịch) |
Tháng 8 âm lịch
(tháng 9 dương lịch) |
3ngày đêm |
6 tháng
(lương thực được cấp phát) |
| Hoàng Việt Dư Địa Chí |
70 (xã An Vĩnh) |
5 thuyền nhỏ |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3ngày đêm |
6 tháng
(lương thực được cấp phát) |
| Đại Nam Thực Lục Tiền Biên |
70 (xã An Vĩnh) |
Không ghi |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3ngày đêm |
6 tháng |
| Việt Sử Cương Giám Khảo Lược, quyển 4 |
(không ghi số lượng)
hộ An Hải và An Vĩnh |
Không ghi |
Tháng 2 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
Không ghi |
7 tháng
(ghi nhầm) |
| Đaị Nam Nhất Thống Chí |
70 (xã An Vĩnh) |
Không ghi |
Tháng 3 âm lịch |
Tháng 8 âm lịch |
3,4 ngày đêm
(nếu thuận gió) |
6 tháng |
2.2.3.3. Nhiệm vụ của đội Hoàng Sa
Về nhiệm vụ, đội Hoàng Sa cần phải làm những công
việc sau: Thu lượm các sản vật từ các tàu đắm, các hải sản quý từ
vùng biển phía Bắc quần đảo Hoàng Sa (phía Nam tức phần Trường Sa
hiện nay do đội Bắc Hải phụ trách). Kiêm quản, trông coi đội khác
cùng làm nhiệm vụ song ở địa bàn khác như đội Bắc Hải ở phía Nam.
(Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 10,
Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6). Ngoài ra, về sau còn đảm trách
đi xem xét, đo đạc thủy trình vùng quần đảo Hoàng Sa. Nhiệm vụ này
bắt đầu thời Gia Long mới được ghi (Đại Nam Thực Lục Tiên Biên đệ
nhất kỷ, quyển 50, quyển 52).
Riêng về nhiệm vụ dọ thám ngoài biển, giữ gìn ngoài
biển, trình báo về các bọn thổ phỉ ngoài biển thì đơn xin phường
An Vĩnh tách khỏi xã An Vĩnh ngày 1 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804)
đã đề cập đến ở trên đây, chứng tỏ người dân đã tha thiết tự thấy
có nhiệm vụ này. Đương nhiên nhà nước được dân binh tình nguyện
thì dễ chấp nhận vì đâu có mất mát gì, vả lại tính chất bán quân
sự của đội Hoàng Sa đương nhiên phù hợp với nhiệm vụ này.
Ngoài ra chức cai đội Hoàng Sa kiêm chức cai cơ Thủ
Ngự mà Thủ Ngự lại có nhiệm vụ do thám ngoài biển. Nhiều tài liệu
cho biết cai đội Hoàng Sa kiêm quản cai cơ thủ ngự như Đại Nam Thực
Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển XXII ghi rõ: Võ Văn Phú được sai
tái lập đội Hoàng Sa chính khi ấy là thủ ngự cửa biển Sa Kỳ.
Như thế nhiệm vụ của đội Hoàng Sa rất nặng nề, không
thuần túy về kinh tế, khai thác tài nguyên mà còn làm công tác xem
xét, đo đạc thuỷ trình, dò thám trên quần đảo Hoàng Sa, nhất là
trong thời các chúa Nguyễn và thời kỳ đầu nhà Nguyễn.
Chính từ công tác kiêm quản của đội Hoàng Sa kiêm
quản đội Bắc Hải cho ta có quan niệm về quản lý Biển Đông của chính
quyền Chúa Nguyễn và buổi đầu nhà Nguyễn thời ấy.
Dân vùng cửa biển Sa Kỳ, cũng như dân Cù Lao Ré rõ
ràng rất giỏi nghề đi biển xa mà thời nay gọi là “viễn dương”, mà
vị trí địa lý vùng này (Sa Kỳ, Cù Lao Ré) lại là nơi nhô ra Biển
Đông xa nhất. Cũng như dân đất liền thời mở cõi ấy, dân cửa biển
Sa Kỳ và Cù Lao Ré (Quảng Ngãi) được chính quyền thời Chúa Nguyễn
tín nhiệm giao trọng trách khai khẩn tới đâu, quản lý tới đó, còn
được giao nhiệm vụ khác: kiêm quản.
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
|