Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam

tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nguyễn Nhã - Ph.D thesis

 

Tr1    Tr2   Tr3   Tr4   Tr5   Tr6   Tr7   Tr8   Tr9    Tr10

 

 

Chương 2

 

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam

tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

 

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được minh chứng bằng những tư liệu lịch sử không những của Việt Nam, mà còn của chính Trung Hoa cũng như của PhươngTây, đồng thời bằng quá trình chiếm hữu thật sự, hòa bình và thực thi liên tục của các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thề kỷ XVII sang thế kỷ XIX.

 

2.1 Các nguồn tư liệu minh chứng sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

Các tư liệu của Việt Nam cũng như của Phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng thật hết sức rõ ràng, cho biết quá trình chiếm hữu thật sự, hoà bình và thực thi liên tục chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế, khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đã viện dẫn để cố suy diễn chứng minh chủ quyền của mình.

 

2.1.1. Những tư liệu của Việt Nam minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa


Phân tích những tư liệu của Việt Nam, đối chiếu với những tư liệu của Trung Quốc được viện dẫn trong bộ sưu tập Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hội Biên do Hàn Chấn Hoa chủ biên [48], chúng ta có một số kết quả sau:

 

Hầu hết các tư liệu Việt Nam, đều là tư liệu thuộc nhà nước, đặc biệt là Hội Điển, loại sách ghi điển chế biến thành luật lệ của triều đình hoặc các châu bản, tức những văn bản trao đổi giữa vua và các đình thần hoặc tỉnh thần. Hầu hết tư liệu của Việt Nam đều trực tiếp minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Tư liệu Việt Nam đã đề cập đến địa danh Hoàng Sa, tiếng Nôm, cùng nghĩa, gọi là Cát Vàng hay Cồn Vàng, lại rất nhất quán từ đầu thế kỷ XVII, tức từ thời chúa Nguyễn đến thế kỷ XX. Cho đến nay vẫn còn giữ địa danh Hoàng Sa. Địa danh "Hoàng Sa" hoặc chữ Nôm là "Cát Vàng" lại đã được người Tây Phương xác nhận là Paracel vào thế kỷ XIX như đã trình bày ở chương I.

 

Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn, (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới đầu triều Nguyễn (từ vua Gia Long) qua hoạt động của đội Hoàng Sa cũng như sự khẳng định, sự quản hạt hành chánh của chính quyền Việt Nam, và sau đó đến các triều Minh Mạng, Thiệu Trị qua hoạt động của thủy quân. Đại Nam Nhất Thống Chí, (bắt đầu soạn năm 1865, soạn xong 1882, ấn hành năm 1910), vẫn tiếp tục khẳng định Hoàng Sa thuộc cương vực ngoài biển của Việt Nam.

 

Nếu không kể những tư liệu đại loại như Trung Quốc thường viện dẫn, tức là những người khi đi qua Hoàng Sa rồi cảm tác hay viết tới quần đảo này như Lý Văn Phức đi trên tàu sang Philippines năm 1832 viết “Vọng kiến Vạn Lý Tràng Sa tác” trong tác phẩm Đông Hành Thi Thuyết Thảo, Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, liên tục qua các đời từ đầu thế kỷ XVII đến khi bị các nước ngoài xâm phạm, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

 

Trong thời kỳ Đại Việt, thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn (1672 - 1801), nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đưc Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (Viện Hán Nôm Hà Nội, ký hiệu A2628) của Đỗ Bá Công Đạo, Chính Hoà năm thứ 7 (1686) (2.7) và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn năm 1776.

 

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ có bản đồ (xem phụ lục 2.1a, 2.1b, 2.1c) là tài liệu xưa nhất, đã ghi phần chú thích của bản đồ với nội dung:

 

"Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), dài tới 400 dặm, rộng 20 dặm. Từ cửa Đại Chiêm, đến cửa Sa Kỳ mỗi lần có gíó Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi (sic). Từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải nửa ngày (sic)."

 

Khoảng cách từ cửa Đại Chiêm đến Bãi Cát Vàng (chữ Hán Việt là Hoàng Sa) một ngày rưỡi đường, cũng như từ cửa Sa Kỳ nửa ngày đường là ghi lộn, vì tất cả các tài liệu khác đều ghi 3 ngày đêm. Vả lại ngoài khơi cửa Đại Chiêm cũng như cửa Sa Kỳ không có đảo nào dài và có những đặc điểm mà tài liệu đã mô tả trên, ngoài Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa tức Paracel.

 

Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 (2.8) là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa. Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cử vào Phú Xuân năm 1775 để lo sắp đặt kế hoạch bình định hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam mới được quân Chúa Trịnh đánh chiếm của Chúa Nguyễn từ năm 1774. Đến năm 1776, ông lãnh chức Hiệp Trấn và viết ra sách Phủ Biên Tạp Lục. Phủ Biên Tạp Lục gồm 6 quyển, trong đó ở quyển 2 có 2 đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa như sau:

 

Đoạn văn thứ 1: (quyển 2, tờ 78b -79a) (xem phụ lục 2.2): “... Ở ngoài cửa biển lớn thuộc về địa phận xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa (2.9) có một hòn núi mang tên là Cù Lao Ré (2.10) . Chiều rộng núi này có thể hơn 30 dặm. Ngày trước có dân cư phường Tứ Chính trồng các thứ cây đậu tại ruộng nương nơi đó. Người ta ra biển rồi chèo thuyền đi bốn trống canh nữa có thể đến Cù Lao Ré. Ở ngoài núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa (2.11) ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật. Người ta phải đi 3 ngày đêm mới đến được đảo Đại Trường Sa ấy, như thế là đảo Đại Trường Sa đã gần đến xứ Bắc Hải.” ( tờ 78b - 79a)

 

Đoạn văn thứ 2: (quyển 2, từ tờ 82b -85a) (xem phụ lục 2. 3a,2. 3b,2.3c,2. 3d)

"Phủ Quảng-Ngãi , huyện Bình-Sơn có xã An-Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông - Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn 20 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy, trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Bên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đeo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà - cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn, có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm, tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

 

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường bị hư hại [một số dị bản chép nhầm là ỷ (nương đậu) (Xem phụ lục 2.3e, 2.3g )] ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng - Sa 70 suất, lấy người xã An - Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cũng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú - Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về.Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên - đức - hầu biên rằng: năm nhâm ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm giáp thân được 5.100 cân thiếc; năm ất dậu được 126 hốt bạc; từ năm kỷ sửu đến năm qúy tỵ, 5 năm ấy, mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ, và hai khẩu súng đồng mà thôi.

 

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc - Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ - chính ở Bình - Thuận, hoặc người xã Cảnh - Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc - hải, cù lao Côn - lôn và các đảo ở Hà - tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng- Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của qúy ít khi lấy được.

 

Hoàng- Sa chính gần phủ Liêm - châu, đảo Hải - Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc - quốc, hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn - xương, Quỳnh - châu gởi cho Thuận - hoá nói rằng:

 

"năm Kiền - long thứ 18 có 10 tên quân nhân xã An - vĩnh, đội Cát - liềm, huyện Chương - nghĩa, phủ Quảng - ngãi nước An - nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh- lan cảng, quan ở đấy xét thực đưa trả về nguyên quán . Nguyễn - Phúc - Chu [ chép nhầm , chính là Nguyễn Phúc Khoát] sai cai bạ Thuận - hoá là Thức- lượng - hầu làm thư trả lời" [ 28].

 

Như thế, một thực tế quan trọng: Phủ Biên Tạp Lục đã chép rất rõ "Hoàng Sa ở gần đất Liêm Châu của Trung Quốc". Sự thực cũng đã rành rành khi Phủ Biên Tạp Lục ghi rất chi tiết, rất rõ những hoạt động của đội Hoàng Sa ở phía Bắc, có lần lính Hoàng Sa bị bão trôi dạt vào cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Đội Hoàng Sa vừa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía Nam tức Trường Sa ngày nay [28].

 

Ngoài những tài liệu trên còn có nhiều văn bản hiện còn lưu trữ trong dân gian ở Phường An Vĩnh tại Cù Lao Ré (xem phụ lục 2.4), nay thuộc huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi do Nguyễn Quang Ngọc, và Vũ Văn Quân (khoa Sử, Đại Học Quốc Gia Hà Nội) phát hiện.

 

Chẳng hạn như đơn của ông Hà Liễu, cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, xin chính quyền Tây Sơn cho phép đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động và tờ chỉ thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của quan Thái Phó Tổng Lý Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công đốc suất công việc của đội Hoàng Sa.

 

Năm 1773, sau 2 năm khởi nghĩa, quân Tây Sơn làm chủ miền đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận trong đó có đất Quảng Ngãi. Những hoạt động của đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh được đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Tây Sơn.

 

Với truyền thống hoạt động hàng trăm năm, dân xã An Vĩnh, vốn tự lập về phương tiện tàu thuyền, lại quen việc, nên luôn luôn tham gia vào đội Hoàng Sa. Vì thế, cuối thời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong (Nam Hà), khi quân Tây Sơn nổi dậy, kiểm soát được vùng đất Quảng Nghĩa, dân xã An Vĩnh vẫn tiếp tục hoạt động ở ngoài khơi xã của mình.


Tờ đơn trên của Ông Hà Liễu có đoạn viết như sau:

 

”Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm thêm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, các cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp.” (xem phụ lục 2.4.1)

 

Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công để gởi cho cai đội Hoàng Sa:

 

“Sai Hội Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba cùng đá quý đều chở về kinh tập trung, nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật qúy hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội.” (xem phụ lục 2.4.2)

 

Sang thời kỳ Triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết là Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) ( xem phụ lục 2.5 (a), 2.5 (b) )

 

Cả hai tài liệu trên đều viết về Phủ Tư Nghĩa mà nội dung hầu hết nói đến Hoàng Sa. Phủ Tư Nghĩa thuộc vào Thừa Tuyên Quảng Nam, được đặt tên từ thời Lê Thánh Tông giữa thế kỷ XV đã được Nguyễn Hoàng đổi thành phủ Quảng Nghĩa từ năm 1602. Sang thời Tây Sơn đổi thành Hoà Nghĩa, đến năm 1801 đổi thành trấn. Đến Minh Mạng thứ 10 (1829) đổi thành tỉnh . Minh Mạng thứ 13 (1832) tỉnh Quảng Nghĩa lại có phủ mang tên cũ là Tư Nghĩa.

 

Phan Huy Chú viết về phủ Tư Nghĩa thời Lê thay vì Quảng Nghĩa và dùng các địa danh cũ cũng thời Lê như Nghĩa Giang (huyện), Bình Dương (huyện). Điều này chứng tỏ Phan Huy Chú sử dụng tài liệu địa dư của Lê Trịnh ở Bắc Hà. Điều đó cũng hợp lý, vì tác giả biên soạn công trình này hồi đầu triều Nguyễn, trong thời gian Phan Huy Chú còn đang lân đận khoa cử chỉ đậu Tú tài trong 2 kỳ thi (1807, 1819).

 

Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821) (2.12), Phan Huy Chú mới dâng bộ sách này cho vua Minh Mạng và cho biết ông đã soạn trong 10 năm. Trong khi Hoàng Việt Địa Dư Chí đã cập nhật hoá các địa danh thời Chúa Nguyễn đặt như huyện Chương Nghĩa (ghi chú là cựu Nghĩa Giang) huyện Bình Sơn (cựu Bình Dương), song lại sử dụng địa danh Tư Nghĩa Phủ.

 

Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII, chỉ khác ở điểm: “Tiền Vương Lịch Triều trí Hoàng Sa đội ...” thay vì “Tiền Nguyễn thị triù Hoàng Sa đội” - Bởi tác giả viết hai cuốn sách trên sống dưới triều đại Nguyễn, khác với Lê Quý Đôn sống dưới triều đại Lê Trịnh ở Bắc Hà.

 

Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú là một công trình biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều đại Việt Nam. Chính Dư Địa Chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư Nghĩa. Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghĩa là nói đến Hoàng Sa. Chứng tỏ Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ Tư Nghĩa hồi bấy giờ. Qua nội dung ông viết, thấy rất rõ ông đã sử dụng sách Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, đã tóm gọn bớt nhiều nội dung của Phủ Biên Tạp Lục.

 

Trong Văn Tịch Chí, Phan Huy Chú cũng đã kế thừa Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn. Ngoài tả cảnh vật của Hoàng Sa, ông cũng cho biết: “Tiền Vương Lịch Triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vĩnh luân phiên sung vào.”

 

Song có dị bản đã chép nhầm tháng giêng thay vì tháng ba như Phủ Biên Tạp Lục cho biết hàng năm:

 

"từ tháng ba đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ cũng 3 ngày 3 đêm bằng 5 chiếc tiểu điếu thuyền đến Hoàng Sa rồi cũng tháng 8 về đến cửa Eo tới thành Phú Xuân và cũng mang theo lương thực cho 6 tháng."

 

Hoàng Việt Dư Địa Chí (1833) (2.13),( Xem phụ lục 2. 6 (a), 2. 6 ( b) ) không đề tên tác giả, được khắc in vào năm Minh Mạng thứ 14 ( 1833) và sau đó được tái khắc in nhiều lần. Người ta thường gọi là cuốn Địa Dư Minh Mạng.

 

Nhiều người như Phạm Thận Duật đã ghi Hoàng Việt Địa Dư Chí lại chính là của Phan Huy Chú trong tài liệu tham bác của cuốn Hưng Hoá Ký Lược. Điều này chứng tỏ Hoàng Việt Địa Dư Chí bắt nguồn từ Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú. Đại để nội dung có nhiều điều giống nhau, song đôi chỗ có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách trình bày.

 

Thay vì Dư Địa Chí gồm 5 quyển, thì Hoàng Việt Địa Dư Chí chỉ có 2 quyển với cấu trúc khác nhau.

 

Cũng như Dư Địa Chí của Phan Huy Chú, trong phần Quảng Nam, Hoàng Việt Dư Địa Chí đề cập đến phủ Tư Nghĩa mà hầu hết nội dung đều nói về Hoàng Sa. So với Dư Địa Chí, Hoàng Việt Dư Địa Chí viết gọn hơn song cùng một nội dung về hoạt động của đội Hoàng Sa.

 

Đại Nam Thực Lục, Phần Tiền Biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) (2.14), (xem phụ lục 2.9) là loại tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam nói về Hoàng Sa. Thủ phủ chúa Nguyễn là Phú Xuân bị quân Trịnh rồi quân Tây Sơn chiếm đóng nên nhiều tư liệu thời chúa Nguyễn nhất là về Hoàng Sa của chính chúa Nguyễn đã không còn lại đến ngày nay.

 

Đây là tài liệu đầu tiên viết về Hoàng Sa trong thời chúa Nguyễn mà triều đình nhà Nguyễn đã cho chép lại.

 

So với Phủ Biên Tạp Lục, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên còn có điểm làm rõ hơn là xác định tính chất quần đảo: rằng ngoài biển Quảng Ngãi có một loại hình quần đảo tục gọi là bãi Hoàng Sa có hơn 130 cồn cát không biết dài tới mấy ngàn dặm lại cách xa nhau một ngày đường hoặc vài trống canh. Ngoài ra, Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng chép:

 

“hồi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa, hàng năm cứ tháng 3 cỡi thuyền ra đảo, 3 ngày 3 đêm tới nơi, đến tháng 8 về”

 

và cũng chép về đội Bắc Hải mộ dân Tứ Chính, Bình cố hoặc xã Cảnh Dương sung vào, hoạt động ở phía Nam, Côn Lôn, Hà tiên do đội Hoàng Sa kiêm quản.

 

Đại Nam Thực Lục Chính Biên (2.14) (khắc in năm 1848) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Đoạn thứ 1: Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhất kỷ , quyển 50 (đời vua Gia Long) chép rất rõ ràng:

 

“tháng giêng năm Aát Hợi (1815) [vua Gia Long] sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình...” [97] (xem phụ lục 2. 10)

 

Đoạn thứ 2: Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhất kỷ, quyển 52 (đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi rõ ràng:

 

“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...” [97] (xem phụ lục 2.11)

 

Đoạn thứ 3: Đại Nam Thực Lục Chính Biên: đệ nhị kỷ, quyển 104 (đời vua Minh Mạng ). Lần đầu tiên tư liệu chính sử của triều đình Việt Nam ghi rõ lời của một hoàng đế Việt Nam (vua Minh Mạng) đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, khẳng định Hoàng Sa nằm trong hải phận của Việt Nam và sai người dựng miếu, lập bia, trồng cây [98] (xem phụ lục 2.12 (a),2.12(b) ).

 

Đoạn thứ 4: Đại nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 122 (đời vua Minh Mạng) chép:

 

"Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng 15 (1834) sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ." [99]

 

Đoạn thứ 5: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Nhị Kỷ, quyển 154 (đời vua Minh Mạng) chép rất rõ ràng rằng:

 

"Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây, mới sai cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong.Mười ngày làm xong rồi về." (xem phụ lục 2.13 a, 2.13 b) [100]

 

Đoạn thứ 6: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 (đời vua Minh Mạng) (xem phụ lục 2. 14 (a), 2.14 (b), 2.14 (c) ),viết rất rõ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa:

 

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu: “Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định , thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng , vẽ thành bản đồ..."

 

Chưa bao giờ chúng ta có một tài liệu chi tiết như tài liệu này và sự chỉ đạo của Bộ Công về việc hoạt động của thủy quân biền binh và giám thành trong việc đo đạc, vẽ bản đồ một cách qui mô về quần đảo Hoàng Sa. [101]

 

Đoạn thứ 7: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 còn chép:

 

"Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền".

 

Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ:

 

“Minh Mạng thập thất niên (1836), Bính Thân, thủy quân chinh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa đường độ chí thủ lưu chí đẳng tự” [101]

 

Đoạn thứ 8: Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ tam kỷ, quyển 49 (đời Thiệu Trị) chép:

 

"Thiệu trị thứ 5 Aát Tỵ (1845), ngũ đẳng thị vệ Nguyễn Hoán được phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tự tiện quấy rối các làng. Hoán phải tội lưu." [102]

Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) (2.15), có đoạn văn đề cập đến Hoàng Sa trong quyển 207, tờ 25b -26a rằng: “Năm thứ 16 (1836) chuẩn y lời tâu cho tỉnh Quảng Ngãi dựng miếu Hoàng Sa một gian (làm kiểu nhà đá) ở phía Tây Nam cồn cát trắng. Bên tả dựng bia đá (cao 1 thước 5 tấc, mặt 1 thước 2 tấc), phía trước xây bức bình chắn, phía tả, phía hữu và phía sau trong các loài cây” (xem phụ lục 2.15 a, 2.15 b).

 

Cũng trong bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 221 [93] còn có đoạn chép như sau:

 

“Năm thứ 17 (1836) chuẩn y lời tâu rằng: Hoàng Sa thuộc khu vực ngoài biển rất là hiểm yếu. Minh Mạng năm thứ 15, đã phái biền binh thủy quân và giám thành đến nơi xem xét, vì có gió lụt, nên chưa thăm dò được nơi đích xác. Năm qua lại phái ra và đã dựng miếu, dựng bia. Còn việc hoạ đồ chỉ được một chỗ chưa được rõ ràng. Có lẽ hàng năm cần phải đi thám dò khắp chỗ thuộc đường bể. Nay cần tư cho Quảng Ngãi, Bình Định chiếu lệ năm trước, thuê bắt thuyền dân và bắt người đi trước đều đều đến tỉnh Quảng Ngãi, vẫn phái biền binh thủy quân và giám thành cưỡi một chiếc thuyền sơn đen lái đến đích Chữ Hoàng Sa. Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đếm nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi đều bao nhiêu và bốn bề nước bể nông hay sâu? Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở hình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường, vẽ thành dồ bản. Lại chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trong phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bào nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? là phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để vẽ trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”. [93, 492]

 

Tài liệu rất quý giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX) (2.5), ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc... Cũng có nội dung bản tấu cho biết những hoạt động hàng năm trên bị hoãn tháng khởi hành như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) thay vì hạ tuần tháng 3 khởi hành, mãi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành, hoặc năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám năm 1846.

 

Trong châu bản triều Nguyễn thế kỷ XIX, có những đoạn nói về sự thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa sau đây:

 

Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thưởng phạt những người công tác tại Hoàng Sa. Trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết vua Minh Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên 80 trượng vì tội trì hoãn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa.

 

Trong khi đó lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền vì đã có công hướng dẫn hải trình của thủy quân đi Hoàng Sa. [80]

 

Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), trong tập châu bản Minh Mạng 55, trang 336 ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ:

 

“Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu.”

 

Vua cũng phê rằng thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa [5].

 

Tấu của bộ Hộ ngày 11 tháng 7 năm Minh Mang thứ 17 (1836) xin thanh toán cấp lương thực cho dân phu công vụ Hoàng Sa. [6]

 

Dụ ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837) trong tập châu bản Minh Mạng 57, trang 245 có đoạn cho biết trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ hoạ đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm 4 tên can tội đã có chỉ phạt trượng, còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương dân phu mỗi tên 2 quan tiền. [81] (xem phụ lục 2.7(a), 2.7(b)).

 

Tấu của bộ Công ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về việc hoãn khởi hành ra Hoàng Sa bởi gió mưa lớn trong tập châu bản Minh Mạng 68, trang 21 có viết xin tấu trình lên vua vào ngày 2 tháng 4 nhuận Minh Mạng 19 (1838), việc phái vãng thám để đo đạc giáp vòng Hoàng Sa kỳ năm nay, ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. [7]

 

Tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về việc thám sát và vẽ bản đồ ở Hoàng Sa. Bản tấu viết rằng những người được phát đi Hoàng Sa do Bộ ty Đỗ Mậu Thưởng và Thị vệ Lê Trọng Ba dẫn đầu và hướng dẫn viên Vũ Văn Hùng. Ông Hùng cho biết Hoàng Sa tất cả có 4 nơi cần khảo sát thì lần này đi được 3 nơi. Còn một nơi hơi xa ơ Phía Nam mà vì gió Nam đương mạnh, nên họ xin đến sang năm đi tiếp. Quần đảo Hoàng Sa có 25 hòn cần khảo sát mà lần này đi tới được 12 hòn, còn 13 hòn chưa đi tới được. Lần này đoàn khảo sát vẽ được 4 bức bản đồ ( 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung).

 

Tấu của Bộ Công lần này do Thang Huy Thận phụng thảo và Hà Duy Phan và Lý Văn Phức phụng duyệt còn cho biết các đồ bản vẽ lần này chưa rõ ràng và có một bản nhật ký chưa được tinh tường. Bộ Công sẽ cho vẽ lại tinh vi, sẽ tấu trình tiếp ( xem phụ lục 2.8 (a), 2.8(b) ).

 

Tấu của tỉnh Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838) xin miễn thuế cho 2 chiếc “bổn chinh thuyền” .

 

Trong tập châu bản Minh Mạng số 64 trang 146 có đoạn viết rằng ngày 19 tháng 7 Minh Mạng thứ 19 (1838) : Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho 2 chiếc “bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về [112].

 

Phúc tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847) về việc đình hoãn thám sát Hoàng Sa. Trong tập châu bản Thiệu Trị 41, trang 83 có đoạn viết:

 

“Ngày 26 tháng 1 năm Thiệu Trị 7 (1847): Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) ra sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi chỉ có nên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không?” Châu phê: ”Đình hoãn” [8].

 

Tấu của Bộ Công ngày 28 tháng 12 Thiệu Trị 7 (1847) trong tập châu bản Thiệu Trị 51, trang 235 có đoạn viết trong ngày 28 tháng 12 Thiệu Trị (1847) rằng hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cảng nước nhà cho thành thục đường đi lối lại.

 

Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ đình hoãn kỳ vãng thám năm Thiệu Trị 6 (1846) vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin đình hoãn (xem phụ lục 2.8 (c), 2.8(d) ). [9]

 

Việt Sử Cương Giám Khảo Lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) (2.17) có đoạn viết về Hoàng Sa như sau:

 

”Vạn Lý Trường Sa : từ đảo Lý Sơn (tục gọi là Ngoại La [tức Cù Lao Ré] đi thuyền về phía Đông , ba ngày ba đêm thì đến. Nước Việt Nam ta ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh, mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những vật ngoài biển, hàng năm cứ tháng 2 đi, tháng 8 về. Bãi Cát dăng từ phía Đông mà sang phiá Nam, chỗ nổi lên chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn dặm. Ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được. Trên bãi có nước ngọt. Chim biển có nhiều giống không biết tên. Có một cái miếu cổ, lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ “Vạn lý Ba Bình" [muôn dặm sóng êm], không biết dựng từ đời nào. Các quân nhân đến đây thường đưa những quả Phương Nam mà vãi ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để làm dấu mà nhận. Từ khi đội Hoàng Sa bãi, gần đây không ai hỏi đến miếu ấy nữa. Truyện ký của người xưa nói nhiều về cảnh đẹp của “Thập Châu Tam đảo”. Ngày nay suy ra không thể nói là không có những đất ấy, nhưng nói là chỗ ở của thần tiên thì sai.” [120]

 

Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần 2 và khắc in) (2.18), ấn hành năm Duy Tân thứ 3 (1910), quyển 6: tỉnh Quảng Ngãi có 2 đoạn văn chép rõ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Đại Nam Nhất Thống Chí lại tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam Nhất Thống Chí cũng cho thêm chi tiết về thực thi chủ quyền của Việt Nam thời Minh Mạng như sai binh lính xây dựng chùa, bia tại Hoàng Sa (xem phụ lục 2.16(a), 2.16(b), 2.16(c) ) [103]

 

Trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu (quyển III) của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, (2.19) đời vua Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến Hoàng Sa.

 

Đoạn thứ nhất (QTCBTY, quyển 3, tờ 97b-98a) viết rằng: "Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ có cồn cát trắng cây cối xum xuê tươi tốt. Ở trong cồn cát có một cái giếng. Phía tây nam có một ngôi miếu xưa, bia đá khắc bốn chữ "Vạn Lý Ba Bình" (nghĩa là muôn dặm sóng yên). Cồn cát trắng trước kia có tên là Phật Tự Sơn. Các bờ đông, tây và nam đều có san hô. Có một đồi đá nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với đồi cát, gọi là Bàn Than Thạch. Ra lệnh xây miếu và dựng bia ở chốn này. Trước miếu có xây bình phong." (xem phụ lục 2. 17a, 17b) [104]

 

Đoạn thứ hai (QTCBTY, quyển 3, tờ 104a) viết rằng "tháng giêng, năm Bính Thân thứ 17 (1836)…, triều đình đã khiến thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đến Quảng Ngãi, thẳng tới miền Hoàng Sa, không nệ cù lao nào, cồn cát nào, phàm chiều dài, chiều ngang, chiều rộng, chiều cao, châu vi và bốn phía gần đó có cát ngầm đá mọc hay không; hình thể hiểm dị thế nào, từ cửa biển ra đó đường thủy ước bao nhiêu dặm; bờ biển thuộc địa phương nào, nhất nhất ghi chép rõ ràng. Lại chuẩn bị mang theo thẻ gỗ đến nơi dựng lên làm dấu, vẽ đồ bản đem về dâng lên ngài ngự lãm." (xem phụ lục 2. 17 (c) ) [104]

 

Đoạn thứ ba (QTCBTY, quyển 3, tờ 110a) viết rằng: "Năm Bính Thân thứ 17 (1836) tháng 12, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua bãi Hoàng Sa, bị cạn ghé vào bãi biển Bình Định hơn 90 người. (Vua) sai tìm nơi cho ở và hậu cấp tiền gạo. Thuyền trưởng, đầu mục tỏ ra rất cảm kích. (Vua) sắc cho phái viên đi Tây. Nguyễn Tri Phương đem mấy người ấy xuống bến ở Hạ Châu đưa về nước." ( xem phụ lục 2.17(d) ) [104]

 

Tr1    Tr2   Tr3   Tr4   Tr5   Tr6   Tr7   Tr8   Tr9    Tr10