Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam

tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nguyễn Nhã - Ph.D thesis

 


Tr1    Tr2   Tr3   Tr4   Tr5   Tr6   Tr7   Tr8   Tr9    Tr10

 

 

1.3 Quần đảo Trường Sa

 

Người Pháp gọi là Archipel des Iles Spratly (h. 1.18), người Anh, Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies. Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) hay Nan Wei quần đảo, Philippines gọi là Kalayaan. Nhật gọi là Shinnan Guto.

 

Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa hiện nay tính đến đảo gần nhất vào khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất 500 hải lý, cách Vũng Tàu 305 hải lý, Cam Ranh 250 hải lý, đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết) 270 hải lý.

 

Quần đảo trải dài từ vĩ độ 6o 2 vĩ B tới 11o 28 vĩ B, (1.4) từ kinh độ 112o Đ đến 115o Đ trong vùng biển chiếm khoảng 160.000km2 - 180.000km2 . Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi lên khỏi mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng khoảng 11 km2.


Về số lượng đảo theo thống kê của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển thuộc Ban Biên Giới Chính Phủ) năm 1988 bao gồm 137 đảo, đá, bãi (1.5) không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm bãi Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tứ Chính) (1.6).

 


Hình 1.18:Quần đảo Trường Sa

Theo thống kê của Pháp năm 1933 gồm 9 đơn vị chính và các đảo, đá, bãi phụ cận. Philippines đã liệt kê một danh sách 53 đơn vị gồm hòn đảo và cù lao trong một khu vực 976 dặm vuông. Căn cứ vào hải đồ vẽ năm 1979 của Cục Bản Đồ Quân Sự Bộ Tổng Tham Mưu (Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), quần đảo Trường Sa có thể chia làm 9 cụm chính kể từ Bắc xuống Nam:

 

1. 3.1 Cụm Song Tử

 

Gồm 2 đảo, 2 đá, 2 bãi :


Đảo Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây. Song Tử Đông (Northeast Cay, Pei Zi Dao hay Pei -tzu Tao (Trung Quốc), Parola Isl. (Phi), 11o27 vĩ B, 114o 21 kinh Đ) Song Tử Tây (Southwest Cay, Nan Zi Dao hay Nan -tzu Tao (Trung Quốc), Pugad Isl., (Phi) 11o255 vĩ B, 114o 20 kinh Đ)

 

Hai hòn đảo này như sinh đôi nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa, ngang vĩ độ với Phan Rang (Ninh Thuận). Chính vì có vị trí này mà đội Bắc Hải hoạt động ở vùng này từ cuối thế kỷ XVII lấy xuất đinh từ tỉnh Bình Thuận. Trên đảo có những cây cao trung bình, nhiều phân chim có thể chế biến thành phân bón. Vòng quanh hai đảo này, về phía Đông và Nam chừng năm hải lý có nhiều mỏm đá ngầm. Rong biển mọc nhiều ở đây.


Song Tử Đông hơi tròn (hình.1.19), diện tích gần 20 acres, dài 900m , rộng 250m, cao độ 3m, có nhiều bãi cát và san hô xung quanh, nhiều cây cối, một ít dừa. Năm 1963, Việt Nam Cộng Hoà có dựng một bia chủ quyền. Philippines cho quân chiếm đóng từ năm 1968.

 

Song Tử Tây hình lưỡi liềm, diện tích nhỏ hơn Song Tử Đông, dài 700m, rộng 300m, có nước ngọt, có một vườn dừa và nhiều cây nhỏ. Có tháp rađa thời Việt Nam Cộng Hoà. Hiện Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đang trấn giữ cả hòn đảo (hình 1.22) . Cụm Song Tử còn có Đá Bắc (North Reef , Pei Jiao hay Tung - pei -Chiao (Trung Quốc), 11o28 vĩ B, 114o23 kinh Đ), Đá Nam (South Reef, Nan Jiao hay Nai -lo - Chiao, 11o23 vĩ B, 114o 18 kinh Đ) Phía Đông cụm Song Tử còn có bãi cạn Đinh Ba ở phía Bắc (Trident Shoal, Yong deng Ansha hay Yung -teng An - sha (Trung Quốc ), TatLong, Tulis Shoal (Phi), 11o20, 114o 42 kinh Đ) và bãi Núi Cầu (Lys Shoal, Lesi Ansha (Trung Quốc ), Bisugo Shoal (Phi), 11o205 vĩ B, 114o 35 kinh Đ ở phía Nam.

 

1.3.2 Cụm đảo Thị Tứ


Ở phía Nam cụm Song Tử, gồm đảo Thị Tứ và các bãi đá. - Đảo Thị Tứ (ThiTu Island, Zhong Ye Dao hay Chung -Yeh Tao (Trung Quốc), Pagasa Isl (Phi), 11o027 vĩ B, 114o 17 kinh Đ). Đảo nằm ở phía Đông Bắc của đảo Trường Sa (Spratley) do san hô tạo thành lẫn với cát trắng và đá vôi (hình 1.23). Đảo hình bầu dục, bề ngang 550m, dài 700m, có giếng nước ngọt. Trên đảo có cây mù u, cây bàng, nhiều cây leo chằng chịt. Chung quanh đảo có rất nhiều rong biển và các bãi đá ngầm. Quanh đảo có nhiều cá, đồn đột, rong biển. (Quân binh Philippines bắt đầu đổ bộ năm 1968 song chiếm đóng hẳn năm 1970, xây phi đạo nối dài ra biển, xây dựng thành căn cứ chính).

 

Phía Bắc đảo Thị Tứ gồm Đá Hoài Ân (Xandi, 11o03 vĩ B, 114o 134 kinh Đ), đá Tri Lễ (Sand Cay, 11o037 vĩ B, 114o 154, đá Trâm Đức (11o045 vĩ B, 114o 22kinh Đ),đá Vĩnh Hảo (11o045 vĩ B, 114o 22 kinh Đ), đá Cái Vung (11o079 vĩ B, 114o 115 kinh Đ). -Phía Nam đảo Thị Tứ là đá Xu Bi (Subi Reef, Zhu Bi Jiao, Zamora Reef (Phi), 10o54 vĩ B, 114o 06 kinh Đ), cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý (đã bị Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa chiếm đóng năm 1988) .

 

1.3.3 Cụm đá Loai Ta


Ở phía Đông cụm Thị Tứ, gồm đảo Loai Ta phía dưới và cồn san hô Lancan hay An Nhơn (Lankian Cay, Yang xin Zhou, Panata, 10o45 vĩ B, 114o 33 kinh Đ) ở phía Đông. Phía Bắc cụm là đảo Loai Ta (10o407 vĩ B, 114o 248 kinh Đ, (Loaita Island, Nan Yue Dao (Trung Quốc), Kota (Phi) (hình 1.24) ). Đảo hình tròn, đường kính 300m, cao chừng 2 m, nhiều cây lớn mọc quanh đảo. Phía Bắc đảo có nhiều cây dừa.

 

Vòng quanh đảo có nhiều bãi cát trắng tạo nên vẻ đẹp nên thơ, Có giếng nước ngọt nhưng rất ít nước. Philippines chiếm đóng đảo sau 1970. Cụm còn có đá An Lão (Menzies Reef, Mong zi Jiao (Trung Quốc), Lakandula Reef, 11o083 vĩ B, 114o 48 kinh Đ), bãi Đường (Chang tan (Trung Quốc), 11o vĩ B, 114o 42 kinh Đ), bãi An Nhơn Bắc (đá cuội) (Ku gui Jiao (Trung Quốc), 10o465vĩ B, 114o 34 kinh Đ) bãi Loại Ta (Loaita Reef, Shuan huan Shazhou, 10o422 vĩ B, 114o 210 kinh Đ), bãi Loại Ta Nam (Loaita Bank, Shuan huan Shazhou, 10o427 vĩ B, 114o 195 kinh Đ). Phía Đông cụm Loại Ta còn có đảo Dừa và Đá Cá Nhám.

 

1.3.4 Cụm đảo Nam Yết hay Ti Gia


Ở phía Nam cụm Loại Ta, nằm kết một vòng san hô Tizard Bank, gồm đảo Nam Yết (Namyit Island, Hong xiu dao, 10o 11 vĩ B, 114o 217 kinh Đ), đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou, 10o 227 vĩ B, 114o 285 kinh Đ), đảo Ba Bình (Itu Aba Island, Taiping dao, 10o 228 vĩ B, 114o 217 kinh Đ), cùng bãi Bàn Than (10o 231 vĩ B, 114o 245 kinh Đ), đá Núi Thị (Petley Reef, Bolan jiao, 10o 247 vĩ B, 114o 348 kinh Đ), đá Én Đất (Eldad Reef, Anda jiao, 10o 21 vĩ B, 114o 41 kinh Đ), đá Lạc (Meiji jiao, 10o 102 vĩ B, 114o 148 kinh Đ), đá Gaven (Gaven Reef, Nan xun jiao, 10o 127 vĩ B, 114o 13 kinh Đ), đá Lớn (Great Discovery Reef, Daxian jiao, 10o 045 vĩ B, 113o 52 kinh Đ), đá Nhỏ (Small Discovery Reef, Xiaoxien jiao, 10o 015 vĩ B, 114o 015 kinh Đ), đá Đền Cây Cỏ (Western or Flora Temple Reef, Fulusi jiao, 10o 147 vĩ B, 114o 375 kinh Đ).

 

Cụm này có đảo rộng nhất của Trường Sa là Ba Bình và cao nhất là đảo Nam Yết và nhiều lùm cây cao lớn nhất. +Đảo Nam Yết (NamYit Isl., Hong xiu dao (Trung Quốc), Binago (Phi), 10o11vĩ B, 114o 217 kinh Đ) (hình 1.25).

 

Đảo lớn thứ hai sau Ba Bình, song là hòn đảo cao nhất của quần đảo, ở phía Nam của cụm, hình chữ C, dài khoảng 700m, rộng 250m, cao 4,7m (15ft) (sách China's Boundaries của Ying Cheng Kiang (Illinois, 1984) ghi đảo này cao tới 61ft, Ocean Year Book 10 (Chicago, 1993) ghi kể cả cây cao 20m).

 

Trên đảo có nhiều loại cây, nhiều nhất là cây xú hương (cao hơn 3 m), cây nhàu (cao hơn 3m), mù u (5m), dừa cao nhất (khoảng 12m) và nhiều giống cây nhỏ, cỏ gai vùng nhiệt đới. Chim, vích ở đây rất ít.

 

Giếng nước không ngọt hơi lờ lợ. Chung quanh đảo có vòng san hô và nhiều bãi đá ngầm. (Phía Bắc đảo có cầu tàu, đối diện với đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng). Tại đây có công sự phòng thủ kiên cố, được đặt Bộ chỉ huy toàn thể quần đảo của quân lính Việt Nam Cộng Hoà trước 1975.

 

Năm 1975, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản. Đảo Sơn Ca (Sand Cay, Dungian shazhou, 10o 227 vĩ B, 114o 285 kinh Đ). Đảo có hình giống chữ C, dài 391m, rộng 156m, cao 3m (so với mực nước trung bình) (hình 1.26). Đảo có các loại cây như xú hương, bàng, chiếc bạc và cỏ dại, dây leo mọc khắp nơi.

 

Trước 1975 đều có quân đội Việt Nam Cộng Hoà chiếm đóng và sau đó được Quân Đội Nhân Dân Việt Nam tiếp quản. Đảo Ba Bình (Itu Aba Island, Taiping dao (Trung Quốc), Ligaw I (Philippines) 10o 228 vĩ B, 114o 217 kinh Đ) (hình 1.27).

 

Đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa, độ cao chừng 4m (13ft) thấp hơn Nam Yết một chút; theo Niên Giám Đài Loan 1993, dài 1360m, rộng 350m, cao 3,8m, diện tích 489.600m2 (gần 50 ha). Có điều kiện sinh hoạt tốt nhất, đất đai mầu mỡ, trồng trọt khoai mì, rau cải, chuối.

 

Chung quanh có san hô, mặt nước khá yên tĩnh, tiểu đĩnh có thể cập bến khá tốt. Năm 1933, với danh nghĩa "bảo hộ" Việt Nam, Pháp đã cho quân chiếm đóng, thiết lập đài quan trắc khí tượng mang số hiệu là 48919, do World Meteorological Organisation cấp phát cùng với đài quan trắc ở Hoàng Sa (Pattle) mang số hiệu 48860 và Phú Lâm mang số hiệu 48859 [11,41].

 

Tháng 12 năm 1946, Trung Hoa Quốc Gia chiếm đảo. Sau đó họ rút quân về Đài Loan năm 1950. Khi anh em Cloma, người Philippines tuyên bố khám phá Trường Sa, Đài Loan đã gửi quân trở lại đảo Ba Bình. Ngày 20 tháng 5 năm 1956, Đài Loan đã xây dựng cơ sở quân sự kiên cố. Tại đây có thể thành lập một sân bay nhỏ và hiện có cầu tàu cho các chiến hạm nhỏ cặp bến. Phía Tây Nam cụm Nam Yết có Đá Chữ Thập (Fiery Cross or N.W, Yungshu jiao, KagilinganReef, 9o 353 vĩ B, 114o 542 kinh Đ). Hòn Đá Chữ Thập là chỗ cao nhất của một bãi cạn dài 25km, rộng tối đa 6km, bị quân Trung Quốc chiếm đóng, biến nơi đây là cơ sở quân sự quan trọng.

 

1.3.5 Cụm đảo Sinh Tồn


Ở phía Nam cụm Nam Yết - Tigia. Gồm có đảo Sinh Tồn (Sin Cowe Island, Hing hong dao, 9o 526 vĩ B, 114o 192 kinh Đ) (hình 1.28), đá Sinh Tồn Đông (9o 525 vĩ B, 114o 347 kinh Đ), Đá Nhạn Gia (9o 532 vĩ B, 114o 202 kinh Đ), Đá Bình Khê (Endmund Reef, 9o 530 vĩ B, 114o 232 kinh Đ), Đá Ken Nan (Mekennan Reef, 9o 535 vĩ B, 114o 273 kinh Đ), Đá Tư Nghĩa ( Hughes Reef, 9o 542 vĩ B, 114o 293 kinh Đ), Đá Bình Sơn (Hallet Reef, 9o 55, vĩ B 114o 308 kinh Đ), Đá Bãi Khung (Holiday Reef, 9o 565 vĩ B, 114o 335 kinh Đ), Đá Đức Hoà (Empire Reef, 9o 573 vĩ B, 114o 348 kinh Đ), Đá Ba Đầu (Whitsun Reef, Weinan jiao (Trung Quốc), 9o 59 vĩ B, 114o 390 kinh Đ), Đá An Bình (Ross Reef, 9o 53 vĩ B, 114o 364 kinh Đ), Đá Vị Khê (9o 517 vĩ B, 114o 33 kinh Đ), Đá Bia (Bamfore Reef, 9o 497vĩ B, 114o 302 kinh Đ), Đá Ninh Hoà (Tetley Reef, 9o 497 vĩ B, 114o 300 kinh Đ), Đá Văn Nguyên (Jones Reef, 9o 407 vĩ B, 114o 285 kinh Đ), Đá Phúc Sỹ (Higgen Reef , 9o 467 vĩ B, 114o 240 kinh Đ), Đá Len Đao ( Lansdowne Reef, 9o 457 vĩ B, 114o 218 kinh Đ), Đá Gạc Ma (Jonhson Reef, Zhang jiao (Trung Quốc), Mabine reef (Phi), 9o 420 vĩ B, 114o 127 kinh Đ), Đá Cô Lin (Collins Reef, Cao lin jiao, 9o 450 vĩ B, 114o 138 kinh Đ),Đá Nghĩa Hành (Lovele Reef, 9o 50 vĩ B, 114o 157 kinh Đ), Đá Tam Trung (9o 511 vĩ B, 114o 160 kinh Đ), Đá Sơn Hà (Gent Reef, 9o 52 vĩ B, 114o 175 kinh Đ).

 

Ba hòn đảo trên và một số hòn đảo nhỏ nổi lên tạo thành một vòng đai san hô có tên là "Union Reefs".

 

Trước 1975, do quân đội Việt Nam Cộng Hoà trấn giữ. Sau khi giải phóng miền Nam, quân đội nhân dân Việt Nam trấn giữ các đảo Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Đảo Len, Đá Côlin. Năm 1988, xảy ra cuộc đụng độ với quân Trung Quốc, 2 chiến hạm vận tải Việt Nam bị chìm, hơn 70 binh sĩ bị mất tích. Quân Trung Quốc đổ bộ và đóng trên đá Kennan và đá Gác Ma, nằm chen kẽ với quân của Việt Nam, khoảng cách chừng khoảng 3 hải lý. Vào đầu năm 1992, Trung Quốc lại chiếm thêm hòn đá Ba Đầu (cực Đông Bắc của Union Reef) và hòn Đá Lạc.

 

Như thế trên rặng đá ngầm nhỏ có tên Johnson Reefs có quân Việt Nam ở đầu Bắc (đá Côlin) và Trung Quốc ở đầu Nam (đá Gác Ma)

 

1.3.6 . Cụm đảo Trường Sa


Ở về phía Nam và Tây Nam Cụm Sinh Tồn, trải dài theo chiều ngang, gồm có 3 đảo, các đá, bãi : Đá Lát (Ladd Reef, Riji jiao, 8o 385 vĩ B, 111o 405 kinh Đ), Đảo Trường Sa (Spratly Island, Nan wei dao, 8o 384 vĩ B, 111o 55 kinh Đ) (hình 1.30), Bãi Đá Tây (West Reef (Sand patch), Xi jiao, 8o 52 vĩ B, 112o 14 kinh Đ), Đá Đông (East Reef, Dong jiao, Silangan Reef, 8o 502 vĩ B, 112o 345 kinh Đ), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef, Hua yang jiao, 8o 53 vĩ B, 112o 500 kinh Đ), Đá Tốc Tan (Alison Reef, Liumen jiao, 8o 50 vĩ B, 114o 00 kinh Đ), Đá Núi Le (Coznwallis S. Reef, Nan hua jiao, 8o 45 vĩ B, 114o 11 kinh Đ), Đá Tiên Nữ (Tennent Reef, Pigeon, Tian Ian jiao, 8o 52 vĩ B, 114o 39 kinh Đ) Cụm đảo Trường Sa nằm phía Đông, kế cận các bãi, đá thuộc thềm lục địa Việt Nam như Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tư Chính.

 

Đảo lớn nhất là đảo Trường Sa (hình 1.,29), người Pháp gọi là đảo Bão Tố (Ile de Tempête).

 

Có dạng hình tam giác cân mà cạnh đáy hơi chệch về phía Bắc. Đáy dài 350m, hai cạnh kia, mỗi cạnh 450m, cao độ ở phía Bắc là 3,5m, phía Nam là 2,1m so với mặt nước lúc nước ròng. Có khả năng thiết lập phi đạo. Sau 1975, Việt Nam đã xây dựng sân bay dài 800m. Không có cây lớn, nhiều nhất là nam sâm, có dược tính, các loại rau sam, muống biển. Có loại chim hải âu trắng, sơn ca, chim én. Có giếng nước ngọt, khá sâu, độ 3m, ngọt tốt 9/10, song lại có mùi tanh của san hô.

 

Trước 1975 có quân trú phòng Việt Nam Cộng Hoà, có cầu tàu về phía tây đảo. Sau khi tiếp quản, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã xây dựng cầu tàu lớn hơn. Ngoài ra còn có các đảo Trường Sa Đông (Central Reef, Zhong jiao, 8o 55 vĩ B, 112o 21 kinh Đ), Đảo Phan Vinh (Pearson Reef, Bisheng jiao, 8o 58 vĩ B, 113o 415kinh Đ).

 

1.3.7. Cụm đảo An Bang


Ở phía Nam cụm đảo Trường Sa (Spratley) gồm có 1 đảo và các bãi, đá: Đá Ba Kè (Bombay Castle, Pongpo bao jiao, 7o 56 vĩ B, 111o 440 kinh Đ), Bãi Đất (Orleana Shoal, Aonan Ansha, 7o 41 vĩ B, 111o 440 kinh Đ), Bãi Đinh (Kinhston Shoal, Jin du ansha, 7o 34 vĩ B, 111o 345 kinh Đ), Bãi Vũng Mây (Jonhson Patch, Changpun ansha, 7o 47 vĩ B, 111o 35 kinh Đ), Bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef, Bai jiao, 8o 10 vĩ B, 113o 18 kinh Đ), Đá Hà Tần (Lizzie Webr, Li xei jiao, 8o 045 vĩ B, 113o 10 kinh Đ), Đá Tân Châu (10o 505 vĩ B, 115o 51 kinhĐ), Đá Lục Giang (Hopp Reef, He jiao, 10o 148 vĩ B, 115o 215 kinh Đ), Đá Long Hải (Livok Reef, Nan tang quan jiao, 10o 105 vĩ B, 115o 17 kinh Đ), Bãi Trăng Khuyết (Half Moon Shoal, Banyue jiao, 8o 52, vĩ B 116o 16 kinh Đ) , Đá Công Đo (Commodore Reef, Siling jiao, 8o 22 vĩ B, 115o 13 kinh Đ), Đá Kỳ Vân (Mariveles Reef, Nan hai jiao, 7o 59 vĩ B, 113o 56 kinh Đ), Bãi Kiệu Ngựa (Asdasier Reef, Andu jiao, 7o 37 vĩ B, 113o 56 kinh Đ), Đá Hoa Lau (Swallow Reef, Dan Wan jiao, 7o 24 vĩ B, 113o 40 kinh Đ), Đá Sắc Lốt (Royal Charlotts Reef, Huan lu jiao, 6o 565 vĩ B, 113o 36 kinh Đ), Đá Louisa (Luisa Reef, Nan tong jiao, 6o 209 vĩ B, 113o 154 kinh Đ).

 

Đảo duy nhất là đảo An Bang (Ambonay Cay, Anbo shazou, 7o 522, 112o 542 kinh Đ). Đảo An Bang giống như một cái túi đáy nằm phía Đông và miệng thắt lại ở phía Tây.

 

Đảo tương đối nhỏ và dài, chỉ rộng 20 mét so với chiều dài 200m, cao 2m so với mặt nước biển lúc nước ròng (hình 1.30). Ngoài những cỏ dại rất thấp, không có cây cao bóng mát nào.

 

Trước 1975, đảo An Bang do quân đội Việt Nam Cộng Hoà trú đóng. Sau 1975, quân đội Nhân Dân Việt Nam đóng ở đảo An Bang. Bãi Thuyền Chài nổi lên mặt nước, dài khoảng 32km, rộng tối đa 6 km. Phía Đông Nam của bãi Thuyền Chài, cách bãi này khoảng 40 đến 60 hải lý có quân trú phòng của Mã Lai Á trên các hòn đá Kỳ Vân, đá Kiệu Ngựa, đá Hoa Lau. Ở phía Đông cụm đảo này có quân Philippines đóng trên đá Công Đo.

 

1.3.8. Cụm đảo Bình Nguyên


Cụm đảo ở về phía Đông, gồm đảo Bình Nguyên (Flat island, Fei xin dao, 10o 49 vĩ B, 115o 495 kinh Đ) và đảo Vĩnh Viễn (Nanshan island, Ma huan dao, 10o 44 vĩ B, 115o 48 kinh Đ). Mỗi đảo diện tích khoảng 15 acres. Đảo Vĩnh Viễn dài chừng 580m, cao khoảng 2m, Đảo Bình Nguyên thấp hơn, rất hẹp bề ngang. Phía Nam gần đảo Vĩnh Viễn có Đá Hoa (10o 32 vĩ B, 115o 432 kinh Đ), Đá Đít Kim - Sơn (10o 325 vĩ B, 115o 472 kinh Đ), Đá Đin (10o 30 vĩ B, 115o 421 kinh Đ), Đá Hàn Sơn (10o 28 vĩ B, 115o 438 kinh Đ), Đá Pet (10o 276 vĩ B, 115o 464 kinhĐ), Cồn san hô Giắc - xôn.

Về phía Nam xa hơn nữa có Đá Vành Khăn (Mischief Reef, Mei ji jiao, 9o 55 vĩ B, 115o 32 kinh Đ), Bãi Cỏ Mây (2nd Thomas Shoal, Ren ai ansha, 9o 44 vĩ B, 115o 515 kinh Đ), Bãi Cạn Suối Ngà (1st Thomas Shoal, Xinyu jiao, 9o 195 vĩ B, 115o 555 kinh Đ), Đá Bốc Xan (Boxall Reef, Pai she jiao, 9o 355 vĩ B, 116o 095 kinh Đ), Bãi Cạn Sa Bin (Sabina Shoal, Xian xin ansha, 9o 45 vĩ B, 116o 29 kinh Đ).

 

Phía Đông cụm đảo Bình Nguyên và đảo Vĩnh Viễn có Đá Hợp Kim ( Hopkins Reef, Huo xing jiao, 10o 49 vĩ B, 116o 06 kinh Đ) , Bãi Mỏ Vịt (Hirane Shoal, An tang tan, 10o 54, 116o 205 kinhĐ), Đá Ba Cờ (Baker Reef, Pei she jiao, 10o 435 vĩ B, 116o 10 kinh Đ), Đá Khúc Giác (Iroquois Reef, Feng lai jiao, 10o 37 vĩ B, 116o 10 kinh Đ), Đá Bá, Đá Gò Già (North Pennsylvania Reef, Yang ming jiao, 10o 485 vĩ B, 116o 515 kinh Đ), Bãi Cạn Nam ( Southern Bank, Nan fang gian tan, 10o 28 vĩ B, 116o 42 kinh Đ), Đá Chà Và (Brown, 10o 345 vĩ B, 117o 017 kinh Đ), Bãi Cạn Nâu (Brown Bank, Dong tan 10o 44 vĩ B, 117o 189 kinh Đ), Bãi Cạn Rạch Vang (Templer Bank, Zhong xi tan, 10o 40 vĩ B, 117o 165 kinh Đ), Bãi Cạn Rạch Lấp (Carnatic Shoal, Hong shi ansha, 10o 06 vĩ B, 117o 205 kinh Đ), Bãi Cạn Na Khoai (Lord Auckland Shoal, Elan ansha, 10o 205 vĩ B, 115o 165 kinh Đ).

 

Hiện quân Philippines chiếm đóng cả 2 đảo Bình Nguyên và đảo Vĩnh Viễn và cho phá bỏ hầu hết khu vực bao quanh Bãi Cỏ Rong, Bãi Trăng Khuyết, Bãi Kiều Ngựa. Trung Quốc từ 1995 cũng chiếm đóng đá ngầm Vành Khăn.

 

1.4 Điều kiện tự nhiên, thảo mộc của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

Điều kiện tự nhiên tuy thuận lợi song không phải là yếu tố quyết định cho sự xác lập chủ quyền của Việt Nam. Tuy vậy cũng có những bằng chứng khoa học minh chứng những điều kiện thuận lợi và những chứng tích cho sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Trước hết, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng Biển Đông, Ở đó, ngoài độ từ sai bằng zéro, độ sai lệch từ không thay đổi (hay thay đổi rất nhỏ), và còn nằm trong vùng xích đạo từ. Tại vùng xích đạo, gần vùng Côn Đảo, địa từ mới mạnh.

 

Người Trung Quốc nhận rằng họ sáng chế kim chỉ nam, nhưng không hề biết những đặc tính về từ trường của Biển Đông. Như sách Cổ Trung Hoa ghi rằng vùng đất ma, họ kính ngưỡng cầu khẩn thần núi Linh Sơn vùng Varella (Việt Nam), họ sợ các đảo san hô ở Biển Đông, hút sắt lại, làm tàu thuyền của họ mắc cạn ở Biển Đông. Mặt nước Biển Đông có độ cao tiêu chuẩn trong hệ thống Geoid, trong khi các biển khác có thể cao quá 90m, có biển thấp tới 80m.

 

Về địa chất, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là những ám tiêu san hô tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới của Việt Nam. Khí hậu ôn đới của Trung Hoa không cho phép có sự cấu tạo của các quần đảo san hô rộng lớn như vậy. Các đảo từ Bành Hồ, Đài Loan trở lên phía Bắc, cấu tạo bằng đất đá của nền đại lục như granit, igneons rock khác hẳn các đảo cấu tạo bằng san hô ở Biển Đông.

 

Thềm lục địa nếu theo quan niệm nằm trong khu vực có độ sâu nước biển tới 200m, thì thềm lục địa ở vịnh Bắc Bộ lớn, Trung bộ nhỏ hẹp lại, nhất là ở vùng mũi Varella, càng về phía Nam càng rộng. Nếu theo quan điểm của Luật Biển 1982 thì với khoảng cách vùng hải phận 200 hải lý, các bãi san hô như Bãi Tư Chính nằm trong khu vực Thềm Lục Địa Đặc Quyền Kinh Tế của Việt Nam.

 

Độ sâu của Biển Đông với đường phân thủy 100m bao kín các vùng về phía Bắc và phía Đông. (Nếu mực nước biển hạ xuống chừng 600m - 700m, thì Hoàng Sa sẽ dính vào Việt Nam như một khối thịt liền và cách Trung Quốc bằng một vùng biển nước sâu) Và như thế quần đảo Hoàng Sa là một phần của Việt Nam (theo quan điểm của Krempf, giám đốc Hải Học Viện Đông Dương trong cuộc khảo sát năm 1925).

 

Các sinh vật trên các đảo và dưới biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như rùa, đồi mồi, vít, đồn đột, ốc tai voi, ốc hương đều tương tự như các đảo ven biển Việt Nam như đảo Cù Lao Ré. Khi ngư dân Việt bắt cạn hết sinh vật ở đảo gần bờ biển, tất họ phải tìm ra xa biển như ở ngoài quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

 

Theo nhà nghiên cứu La Fontaine [61, 209], các cuộc khảo sát cho thấy các thú vật sống ở các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là các loài đã gặp ở đất liền Việt Nam, có môi trường sinh sống gần với Việt Nam hơn là Trung Hoa, các sinh vật ở Hoàng Sa và Trường Sa không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc.

 

Biển Đông cũng như Việt Nam nằm trong khu vực mà các nhà sinh vật gọi là Wallacca, đặt theo tên của nhà thiên nhiên học người Anh Alfred Russel Wallace. Wallacca là vùng đất sinh sống của các động vật Á Đông mà Trung Hoa nằm ngoài vòng môi sinh Á Đông này (hình 1.31). Tại Biển Đông không giống như Thái Bình Dương, có dòng hải lưu chảy thay đổi theo chiều gió mùa. Trong mùa gió Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 3, hải lưu Biển Đông chảy ngược theo chiều kim đồng hồ (hình 1. 32).

 


Hình 1.32:

Hải lưu Biển Đông trong mùa gió tây nam – tháng Tám

Hải lưu Biển Đông trong mùa gió đông bắc – tháng Hai

 

Dòng nước biển chảy mạnh từ Đài Loan qua Hoàng Sa vận tốc chừng 1 feet. Khi xuống ngang bờ biển Trung Bộ Việt Nam, vận tốc dòng nước tăng thêm, có khi tối đa tới 3,4 feet trên mặt nước.

 

Các nạn nhân đắm tàu, hoặc như các nhân viên khí tượng Việt Nam ở Hoàng Sa sau vụ Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945 và quân lính hải quân Việt Nam Cộng Hoà sau khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo tháng 1 năm 1974, đã nhờ dòng nước này thả bè trôi về tới Qui Nhơn và ngoài khơi Cù Lao Ré để được cứu vớt.

 

Ở phía Tây vùng Trường Sa, nước chảy ngược lại như mặt đối lưu hướng về phía Đông Bắc. Vận tốc đối lưu thường thấp, vùng gần đảo Palawan (Philippines) nước chảy theo chiều Tây Nam. Trong mùa gió Tây Nam, hải lưu chảy theo chiều kim đồng hồ, từ phía Mã Lai đi dọc bờ biển Trung Bộ Việt Nam ra Hoàng Sa với vận tốc chừng 5 feet. Đối lưu từ phía Đông của quần đảo Hoàng Sa chảy về Trường Sa rất yếu.

 

Quanh năm, hải lưu vùng Hoàng Sa và Trường Sa sẽ thay đổi chiều hai lần. Dòng nước vùng Trường Sa không mạnh như dòng nước vùng Hoàng Sa. Sau trận hải chiến năm 1988, các chiến hạm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đánh chìm, các thủy binh Việt Nam sống sót trên các bè nổi không trôi đâu xa vì nước chỉ chảy chừng 1/4 đến 1/2 feet. Vùng Biển Đông nhất là Hoàng Sa thường xảy ra bão nhiệt đới hoặc áp thấp nhiệt đới xuất hiện gần 2 quần đảo sinh ra bão, hoặc bão từ Philippines thổi qua.

 

Đa số các cơn bão khởi sự từ phía Đông Philippines. Không tới 1% giông bão phát sinh từ Biển Đông tiến về Hải Nam, cũng không tới 1% giông bão phát sinh từ ngoài khơi Brunei thổi về vịnh Thái Lan. Có chừng 1/3 các trận đại phong từ Thái Bình Dương thổi về, qua Hoàng Sa và Trường Sa, tức vào bờ biển Trung Bộ và Vịnh Bắc Bộ Việt Nam. Thời gian có bão thường xảy ra vào lúc giao mùa, từ tháng 6 đến tháng 9, gió xoáy đến 90 gút. Bão giảm đi từ tháng 9 nhưng vẫn còn ở tháng 1. (hình 1.33) [107, 37]

 

Khi có bão xuất hiện từ Philippines, các người đi biển kinh nghiệm đã thấy triệu chứng căn cứ vào làn sóng cao và dài, di chuyển nhanh trước khi bão tới hoặc trời oi, khí áp xuống nhanh, mây cao bay nhanh. Vài giờ sau bầu trời bị che phủ bởi một màng mây rất mỏng (cirros status), mặt trời xung quanh có quầng, rồi dần dần bầu trời trắng nhạt.

 

Sau đó đến lượt những mây thấp có hình vẩy cá (cirro cumulus), rồi đến một lớp mây đen, dòng cao tới 3000m (altostatus) cả bầu trời trở nên đen, u ám, mưa bắt đầu rơi, gió thổi, khí áp xuống mạnh. Mây thấp dần xuống 100m hay 50m, mây bay nhanh, gió thổi mạnh từng cơn, rồi bão tới. Mỗi khi có triệu chứng bão như vậy, các thuyền bè phải chạy nhanh về phía Nam, tới bờ biển Trung Bộ Việt Nam. [107, 38]

 

Chính điều kiện thiên nhiên trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa đất liền ở Việt Nam với các hải đảo ở Hoàng Sa. Cũng chính do tàu tránh bão hay bị nạn rồi theo dòng hải lưu chảy tấp vào bờ biển như trình bày trên, nên Việt Nam có dịp biết Hoàng Sa từ những người bị nạn ở Hoàng Sa.

 

Điều kiện thiên nhiên như thực tế trên đã gắn liền với những hoạt động xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những khảo sát về thảo mộc của La Fontaine, vào thập niên 40, 50 tại Hoàng Sa đã đi đến kết luận rõ ràng rằng không có loại thảo mộc nào là tại chỗ cả, tất cả từ vùng đất liền du nhập bằng nhiều cách.

 

Cũng theo sự phân tích một cách khoa học của H. Fontaine và Lê Văn Hội trong "Contribution à la connaissance de la flore des Iles Paracels" (Khảo cứu Niên San Khoa Học Đại học Đường - Annales de la faculté des Sciences, Sàigòn 1957, pp 133 - 137), thì mỗi thảo mộc hiện có ở Hoàng Sa đều tìm thấy ở Việt Nam nhất là ở các tỉnh Trung Bộ.

 

Người ta cũng thấy những cây như cây mù u, cây nhàu, cây bàng ở Hoàng Sa, Trường Sa đều thấy có ở Cù Lao Ré hay những nơi khác dọc bờ biển Việt Nam. Thảo mộc ở Hoàng Sa, Trường Sa có gốc ở Việt Nam không những căn cứ vào khảo sát của các nhà khoa học mà chính sử liệu thời Nguyễn như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ II kỷ, quyển 104 cũng như Đai Nam Hội Điển Sự Lệ (1851), quyển 207, tờ 25b, Việt Sử Cương Giám Khảo Lược (1876), quyển 4 của Nguyễn Thông đã viết rất rõ lệnh vua Minh Mạng đã cho trồng nhiều cây cối, để ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người ta sẽ nhận biết, có thể tránh nhiều nạn mắc cạn.

 

Chính sự kiện triều đình nhà Nguyễn, thời vua Minh Mạng có chủ trương trồng nhiều cây cối trên đã minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa và đã đem đến kết quả về tình trạng thảo mộc như trên mà các nhà khoa học đã khảo sát.

 

1.5 Tầm quan trọng về chiến lược quân sự và tài nguyên của Hoàng Sa và Trường Sa dẫn đến sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của các nước ngoài

 

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong Biển Đông mà người Trung Hoa gọi là Biển Nam Hải, người Phương Tây thường gọi là Biển Nam Trung hoa, có tầm quan trọng về chiến lược quân sự. Không có một vùng biển nào trên Thế Giới với diện tích tương đương 3/4 Địa Trung Hải mà lại có tầm mức quan trọng về phương diện giao thông như Biển Đông.

 

Muốn từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, tàu thuyền phải chạy qua Biển Đông. Nếu đi vòng sẽ tốn kém hơn và mất thời gian nhiều hơn. Biển Đông nằm ngay trên ngã tư đường hàng hải quốc tế, nhất là lượng hàng hoá quan trọng như dầu hoả, khí đốt đến Nhật đều qua ngả này. Nếu lấy giữa Biển Đông làm trung tâm nhìn ra thế giới:

 

-Trong vòng bán kính 1500 hải lý có các cảng quan trọng như Bangkok, Rangoon, Calcutta, Singapore, Djakarta, Manila, Taipei, Hongkong, Shangai, Nagasaki.

 

-Trong vòng 2500 hải lý, có các cảng quan trọng như Madras, Colombo, Bombay, Bali, Darwin, Guam, Tokyo, Yokohama, Seoul, Beijing...bao trùm hầu hết lãnh thổ các nước đông dân nhất thế giới, bao gồm một nửa nhân loại. [ 107, 19 ]

 

Đường bay quốc tế cũng thế, từ Singapore, Bangkok, qua Hong Kong, Manila, Tokyo đều qua Biển Đông. Chính vì vậy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không những là nơi hiểm yếu như các chính quyền phong kiến của Việt Nam đã khẳng định mà còn có giá trị chiến lược đối với Việt Nam và quốc tế. Vì thế nên trước khi Nhật Bản xâm lăng các nước Đông Nam Á hồi thế chiến thứ II, quân Nhật đã chiếm đóng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Đến khi ký kết Hội Nghị San Francisco năm 1951, Nhật Bản mới tuyên bố từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này. Tài nguyên thiên nhiên, nhờ sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều tài nguyên qúy giá dần dần được khai thác từ lòng biển, nhất là khi tài nguyên trên đất liền ngày càng bị khai thác cạn kiệt, lãnh hải càng ngày càng có thêm giá trị.

 

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tuy diện tích bề mặt nổi lên mặt nước không lớn, song lại rải rác, chiếm diện tích rất rộng. Ai chiếm được nhiều hải đảo có thể kiểm soát nhiều lãnh hải và khai thác được nhiều tài nguyên ở dưới lòng biển. Từ khi có sự thăm dò cụ thể dầu khí ở Biển Đông, các nước trong khu vực bắt đầu quan tâm nhiều hơn trước, dẫn đến tranh chấp chủ quyền với Việt Nam tại hai quần đảo này.

 

Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phát hiện dầu thương mại. Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như AGIP (Ý), DIMINEX (CHLB Đức), BOW VALLEY (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam. Sau đó đến 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động. Tháng 9/1975, Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí.

 

Thềm lục địa Việt Nam rộng chừng 1,3 triệu km2, được chia thành 171 lô với diện tích trung bình mỗi lô khoảng 8000 km2. Trong đó có 31 lô có độ sâu mực nước biển dưới 50m, 35 lô từ 50 -100m, 10 lô từ 100 - 250m, 38 lô từ 200-2000m và 57 lô là có mực nước sâu trên 2000m.

 

Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triền vọng chứa dầu khí. Cho đến cuối những năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đã khảo sát trên 100.000 km tuyến địa vật lý, khoan hàng chục giếng tìm kiếm thăm dò và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí (Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng). Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác.

 

Sản lượng năm 1986: 0,04 triệu tấn, 1988: 0,68 triệu tấn, 1989: 1,5 triệu tấn, 1990: 2,7 triệu tấn, 1991: 3,96 triệu tấn (PTS Nguyên Hiệp, Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Dầu Khí Việt Nam, " Thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam", Khoa học và Tổ Quốc, (số 93), 1992, tr5). Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam trên khiến người ta thấy tiềm năng vùng Biển Đông có nhiều triển vọng về dầu khí.

 

 

Tr1    Tr2   Tr3   Tr4   Tr5   Tr6   Tr7   Tr8   Tr9    Tr10