|
Quá trình xác lập
chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa
Nguyễn Nhã - Ph.D thesis
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
Phần
mở đầu
1. Lý do và mục đích nghiên
cứu
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt
Nam từ nhiều thế kỷ nay. Quần đảo này có tầm quan trọng đặc biệt
về mặt chiến lược (nằm trên thủy đạo và đường bay quốc tế) cũng
như có tiềm năng quan trọng về kinh tế (dầu khí, các sản vật khác)
và hiện đang bị xâm phạm bởi nhiều nước như Trung Quốc (bao gồm
Đài Loan), Philippines, MaLaysia, Brunei khiến trở thành điểm nóng
chính trị của khu vực.
Nghiên cứu đề tài này không những là do nhu cầu của
giới nghiên cứu khoa học mà còn đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đối
với quốc dân cũng như các nhà lãnh đạo, nhất là cho cuộc đấu tranh
chính trị và ngoại giao bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra, bản thân người nghiên cứu vốn
quan tâm đến vấn đề này từ hơn 25 năm nay, muốn có cơ hội để hệ
thống hoá, tổng hợp tất cả các tài liệu và tìm hiểu đầy đủ, thấu
đáo việc xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Công trình nghiên cứu nhằm mục đích:
1. Cung cấp tư liệu một cách tổng hợp, hệ thống và
cặn kẽ về quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Từ đó rút ra những luận điểm vững chắc minh
chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
2 Cũng từ đó, giúp cho việc phản bác những luận điểm
biện minh cho sự xâm phạm của các nước ngoài đối với chủ quyền Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hầu thấy được thực chất
của tình trạng xâm phạm chủ quyền để xây dựng các đối sách lâu dài
bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Góp phần xây dựng nhận thức rõ ràng về trách nhiệm
tranh đấu giành lại chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và bảo vệ chủ
quyền trên quần đảo Trường Sa của nhà nước và nhân dân Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn
đề
Trước năm 1975
Trước năm 1909, chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bị Trung Quốc và các nước khác xâm
phạm.
Năm 1907 là năm xảy ra việc người Nhật chiếm đảo
Pratas. Trung Quốc đã phản đối sự chiếm đảo Pratas này của người
Nhật cho rằng đảo vô chủ. Để ngăn chặn sự bành trướng của Nhật xuống
phía Nam và tránh xảy ra sự kiện "Pratas thứ 2", Trung
Quốc đã đặt tên một loạt các đảo ở Biển Nam Hải trong đó có Tây
Sa và Nam Sa mà Trung Quốc cho là đảo vô chủ. Lúc này, Nam Sa chưa
xuống dưới vị trí của Trường Sa của Việt Nam mà chỉ ở vị trí Trung
Sa.
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh đã thấy xuất hiện những
thư tịch cổ Việt Nam đề cập chung chung đến Hoàng Sa.
Xưa nhất, ít ra vào cuối thế kỷ XVII như tập bản
đồ “Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” hay Toản Tập An Nam Lộ
của Đỗ Bá Công Đạo [23], [191], có vẽ và ghi chú về “bãi Cát Vàng”
tức Hoàng Sa, tiếp đó là Phủ Biên Tạp Lục [28], [192] của Lê Quí
Đôn, mô tả chi tiết về các hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải
minh chứng sự xác lập và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sang đến thời nhà Nguyễn, từ triều Gia Long, cả một
hệ thống biên niên sử và địa dư chí của Quốc Sử Quán, sách hội điển,
châu bản của Nội Các triều đình nhà Nguyễn đã ghi chép những hoạt
động của đội Hoàng Sa một cách rất kỹ và rõ ràng thể hiện sự xác
lập và bảo vệ chủ quyền của nhà nước Việt Nam trên quần đảo Hoàng
Sa cũng như Trường Sa.
Trong đó có bộ chính sử Đại Nam Thực Lục Tiền Biên
[96], [195], Đại Nam Thực Lục Chính Biên [97], [98], [99] , [100],
[101] ,[102], [199], [200], [203], [204], [205], [206] cũng như
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu [104], [210] và bộ địa chí như Đại
Nam Nhất Thống Chí [103], [209], Hoàng Việt Địa Dư Chí [135], [194].
Đặc biệt Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (Minh Mạng)
[93], [201], Châu Bản Triều Nguyễn (triều Minh Mạng & Thiệu
Trị) [5], [6], [7], [8], [9], [196], [197], [198] đã đề cập đến
việc dựng bia chủ quyền đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bằng chứng
hùng hồn Hoàng Sa được vua và triều đình Việt Nam quan tâm và bảo
vệ chủ quyền đối với Hoàng Sa ở bậc quyền lực tối cao (điều này
khác hẳn với Trung Quốc cũng như các nước khác không hề có chứng
tích xác lập và bảo vệ chủ quyền trong suốt các triều đại phong
kiến).
Ngoài nhà nước Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước
ta cũng đã quan tâm, ghi chép các hoạt động của đội Hoàng Sa, Bắc
Hải như Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục, Phan Huy Chú trong Dư
Địa Chí (Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí), Nguyễn Thông trong sách
Việt Sử Cương Giám Khảo Lược (quyển 4, năm 1877)..., [207]
Cũng trong thời gian chưa có sự xâm phạm chủ quyền
ở Hoàng Sa, nhiều tác giả trong đó có cả người Trung Quốc và các
nhà nghiên cứu Phương Tây cũng đã đề cập đến Hoàng Sa hoặc đến việc
xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa của các nhà cầm quyền Việt Nam
như Giám Mục Taberd [185], [186] Gutzlaff [157], quan trọng là những
người Pháp từng hoạt động giúp Nguyễn Ánh (tức Vua Gia Long) như
Dayot, Chaigneau đã xác định Vua Gia Long đã tái xác lập chủ quyền
trên quần đảo Hoàng Sa.
Ngoài công việc vẽ bản đồ hàng hải trong đó tại Biển
Đông có dải đảo Hoàng Sa (Paracels) chạy dài suốt dọc ngoài khơi
biển Champa hay Cochinchine, những bút ký, thư từ của người Tây
Phương (Bồ, Hoà Lan, Pháp, Anh) về hải trình, các vụ đắm tàu đều
được ngư dân và quân lính Đàng Trong đem về đất liền giải quyết.
Sau năm 1909, tổng đốc Quảng Đông bắt đầu có ý định
xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, cho rằng
Hoàng Sa chưa thuộc về nước nào (sic!). Lúc này, Việt Nam đang còn
bị ách đô hộ của đế quốc Pháp, bắt đầu mới có nhiều người thực sự
quan tâm nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, song mới
chỉ là những bài báo. Rộ lên nhất là cuối thập niên 20 đầu thập
niên 30. Tiêu biểu là Lapicque viết trong Revue Indochinoise số
38, 1929 [166] sưu tầm một số tài liệu xác định chủ quyền Việt Nam
ở Hoàng Sa và trưng bằng cớ chính quyền địa phương Trung Hoa nhân
vụ những người Trung Quốc cướp trên tàu bị đắm Le Bellona năm 1895
và tàu Imazi Maru năm 1896 đã từ chối chủ quyền, không trách nhiệm
về việc cướp nói trên ở quần đảo Hoàng Sa vì cho rằng “Paracel”
không thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Sau đó hàng loạt những bài báo của Henri Cuchrousset
đăng trên báo Eveil Economique de l’Indochine từ năm 1929 đến 1931
[146 -152] đưa ra những bằng chứng chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng
Sa, trách cứ chính quyền Pháp đã quá lơ là trong việc xác nhận và
bảo vệ chủ quyền ở đảo Hoàng Sa, đến nỗi đã bị dự thẩm Barbet ra
lệnh khám xét ban đêm để buộc nhà báo phải nộp cho toà các hồ sơ
liên quan đến Hoàng Sa. Chính vì vậy đã có tác động, chính quyền
Pháp, vào những năm sau đó đã tái xác nhận chủ quyền ở Hoàng Sa
(Paracel) và Trường Sa (Spratly) với những hành động cụ thể như
khảo sát, cắm cọc, thiết lập hải đăng, đài khí tượng và trại lính
(vào những năm đầu thập niên 30). Trong những năm này có nhiều công
trình nghiên cứu địa lý Hoàng Sa.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai và
chiến tranh kháng chiến chống Pháp, ít ai quan tâm nghiên cứu đến
Hoàng Sa. Sau năm 1954, theo hiệp định Genève, Hoàng Sa, Trường
Sa thuộc về chính quyền Sàigòn kiểm soát. Năm 1956, khi quân đội
viễn chinh Pháp rút khỏi Việt Nam, Philippines lên tiếng đòi chủ
quyền của mình ở quần đảo Trường Sa. Năm 1956, Cộng Hoà Nhân Dân
Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó Đài
Loan chiếm đảo Itu Aba, vấn đề tranh chấp chủ quyền được đặt ra
gay gắt, từ đó nhiều bài nghiên cứu đã được đăng báo.
Nổi bật hơn cả là hai công trình nghiên cứu về chủ
quyền của Hoàng Sa tương đối có hệ thống và dầy công sưu tầm. Đó
là công trình ra đời vào năm 1971, L’affaire des Iles Paracels et
Spratly devant le droit International, 298 trang đánh máy, luận
án tiến sĩ đệ tam cấp của ông Lê Thành Khê, tại Institut International
d’Etudes et de Recherches Diplomatiques [161]. Công trình này đi
sâu về mặt công pháp quốc tế, chủ yếu theo luật pháp quốc tế của
thế giới tư bản chủ nghĩa và những án lệ của toà án quốc tế La Haye.
Tác giả trên chưa có điều kiện đi sâu vào những chứng liệu về lịch
sử.
Tiếp đó, năm 1972 xuất hiện công trình luận văn tốt
nghiệp Ban Đốc Sự của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (Sàigòn ) của
Đinh Văn Cư với đề tài: “Chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”,
dày 137 trang đánh máy [24]. Công trình trên dành hơn 1/4 nội dung
nói về hoàn cảnh địa lý và trình bày diễn tiến sự tranh chấp chủ
quyền của nhiều quốc gia tại Hoàng Sa.
Tới năm 1974, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa xâm chiếm
toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, nhiều công trình đã được thực hiện trong
năm này, trong đó có tập tư liệu bằng tiếng Pháp của Võ Long Tê
với nhan đề Les Archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les
Anciens Ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Geographie, in năm
1974 dày 201 trang [187]. Đây là bản dịch tiếng Pháp các đoạn trích
những thư tịch cổ Việt Nam về Hoàng Sa.
Tiếp đó “Hoàng Sa, lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà”, dày
96 trang của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi (chính quyền Sàigòn) [10] và Sách
Trắng của Bộ Ngoại Giao chính quyền Sàigòn vào năm 1975 [170].
Cũng vào năm 1975 đánh dấu một mốc quan trọng trong
lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ quyền của Hoàng Sa là Tập San Sử Địa
số 29 (1975), đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, 352 trang gồm nhiều
tư liệu, hình ảnh, bản đồ, đã được đánh giá cao.
Sau năm 1975
Một số cơ quan như Ban Biên Giới Chính Phủ, Viện
Nghiên Cứu về Trung Quốc, các trường đại học bắt đầu quan tâm đến
vấn đề Hoàng Sa, đặc biệt sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung
Quốc tháng 2 năm 1979.
Tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hoà Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố tài liệu “Chủ quyền của Việt Nam
đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại Giao nước Cộng Hoà Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại công bố cuốn sách trắng “quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.
Tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại Giao nước Cộng hoà Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại công bố tài liệu: “Các quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế”.
Mẫn Khánh Dương Kỵ và Trần Xuân Cầu viết bài “Từ
Bãi Cát Vàng đến Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam” trong
Sử Học số 2 (nhà xuất bản Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp) [79]
đã đưa ra một vài thông tin mới, cách tiếp cận mới qua thực địa
tại cù lao Ré.
Cuốn Hoàng Sa, quần đảo Việt Nam 90 trang của Văn
Trọng [134] là đúc kết cô đọng và chú trọng về phần tranh chấp chủ
quyền với Trung Quốc thêm một số hình ảnh, như bia chủ quyền của
Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa chụp năm 1938, trên quần đảo Trường
Sa chụp năm 1961.
Gần đây có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp
quốc gia về Hoàng Sa, Trường Sa đang được tiến hành. Trong đó có
đề tài như "Hợp Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Về Lịch Sử Chủ Quyền
của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", mã số BĐHĐ
01 - 01 do PTS Nguyễn Quang Ngọc (ĐHTH Hà Nội) chủ trì đã báo cáo
tổng kết ngày 30/4/1995 và Hội Thảo Quốc Gia “Luận cứ Khoa Học Lịch
Sử, Địa Lý và Pháp Lý chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa” tại Hà Nội ngày 18/1/1996 cùng một số kết quả được
tiếp tục công bố trong những năm sau đó.
Riêng bản Hợp Đồng Nghiên Cứu Khoa Học trên, bước
đầu đã có những đóng góp đáng kể về bản đồ cổ Việt Nam do Trần Bá
Chí phụ trách tìm ra được 22 sách cổ có bản đồ vẽ Hoàng Sa và Trường
Sa. Về thư tịch cổ Việt Nam do Phạm Kim Hùng, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn
Hữu Thành phụ trách, ngoài kiểm tra, đối chiếu với nguyên bản 25
cuốn sách chữ Hán đã được dịch, còn phát hiện thêm một số thông
tin mới ở Đại Nam Thực Lục và còn tìm thêm 15 cuốn sách như Địa
Dư Toát Yếu, Nam Việt Địa Dư Chí, Cao Chu Thần Di Cảo, Chu Nguyên
Tập Vựng Khảo, Mân Hành Thi Thảo, Việt Hành Ngân Thảo, Đông Hành
Thi Thuyết, Quảng Thuận Đạo Sử Tập, Trung Kỳ Dư Địa Lược Sao, Hải
Trình Chí Lược.
Tuy các sách trên không trực tiếp đề cập đến vấn
đề chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, song các sách đó đã đề cập đến
Hoàng Sa, cũng đã phản ảnh sự hiểu biết và quan tâm của người Việt
xưa đối với Hoàng Sa.
Về tư liệu Châu Bản do Võ Văn Sạch, Vũ Văn Quân phụ
trách đã phát hiện được một số tư liệu rất qúi về bằng chứng rõ
ràng quá trình thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa trong
hai triều Minh Mệnh và Thiệu Trị.
Về tư liệu Phương Tây do PTS Nguyễn Thừa Hỷ phụ trách
đã có những phát hiện đáng kể trong đó có vụ Dayot giúp xây dựng
hải quân và vẽ lại bản đồ Hoàng Sa cho Nguyễn Ánh hay một thương
nhân Bồ Đào Nha dâng bản đồ Hoàng Sa cho Nguyễn Ánh. Ngoài ra cuộc
khảo sát thực địa ở Cù Lao Ré do PTS Nguyễn Quang Ngọc, PTS Vũ Văn
Quân thực hiện đã phát hiện các nguồn tư liệu ở dòng họ, làng xã
có liên quan đến hoạt động của các đội Hoàng Sa qua các thời kỳ
Chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn dưới triều Nguyễn.
Trong Hội Thảo Quốc gia 18/1/1996 trên, gồm 15 bản
báo cáo đóng góp đáng kể về việc nghiên cứu lịch sử tranh chấp Hoàng
Sa với Trung Quốc cũng như tư liệu về phía Trung Quốc, từ tìm hiểu
hệ thống bản đồ của Trung Quốc của Nguyễn Quang Ngọc để chứng minh
cho đến 1909 bản đồ Trung Quốc chưa bao giờ vẽ đến Hoàng Sa đến
quan điểm của Trung Quốc về Hoàng Sa - Trường Sa của Hoàng Ngọc
Bảo, quan điểm của Đài Loan về Hoàng Sa - Trường Sa của Nguyễn Huy
Quy hay tìm hiểu về bộ sưu tập tư liệu Hoàng Sa của Hàn Chấn Hoa
(Trung Quốc) chủ biên do Phạm Kim Hùng phụ trách.
Ngoài ra vấn đề pháp luật quốc tế về thủ đắc lãnh
thổ của Nguyễn Đăng Dũng hoặc án lệ đảo Clipperton của Đinh Ngọc
Linh hoặc xây dựng hệ quản trị tư liệu Hoàng Sa - Trường Sa bằng
máy tính của Nguyễn Quốc Toản. Một số công trình khác cũng được
công bố như vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa trong quan hệ Việt Trung
trong cuốn Sự Thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan
hệ Việt Trung do nhà xuất bản Đà Nẵng in năm 1996 hay có tác giả
tổng hợp lại những tài liệu đã công bố in thành sách như ông Nguyễn
Q. Thắng.
Một số luận án phó tiến sĩ, tiến sĩ có liên quan
đến Hoàng Sa và Trường Sa hay Biển Đông như luận án cuả PTS Trần
Công Trục ở Việt Nam, của TS Nguyễn Hồng Thao ở Pháp (1996), của
PTS Đỗ Hòa Bình ở Liên Xô cũng đã được bảo vệ, song chủ yếu về vấn
đề pháp lý của Hoàng Sa và Trường Sa hay Biển Đông .
Ngoài ra còn có một số bài báo của nhiều tác giả
đăng trên báo Nhân Dân, Tạp Chí Lịch Sử Quân Sự, Tạp Chí Hán Nôm,
Tạp Chí Xưa và Nay. Như thế, các nhà nghiên cứu Việt Nam thật sự
đã quan tâm và càng ngày càng đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu
Hoàng Sa và Trường Sa.
Các nhà nghiên cứu Phương Tây cũng ngày càng quan
tâm hơn về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Pierre Bernard LaFont viết
phần “Les Archipels Paracels et Spratley” trong cuốn Confit de frontières
en mer de Chine Méridionale, xuất bản năm 1989 [165].
Đăc biệt cuốn La souveraineté sur les Archipels Paracels
et Spratley của bà M.C. Gendreau [155], chủ tịch Hội Luật Gia Châu
Âu là một công trình khoa học có quan điểm khách quan cho rằng Việt
Nam là nước có đủ danh nghĩa thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Trên mạng internet tháng 12-1999 cũng có hơn 900
tài liệu nói đến Paracels và Spratley (hiện nay có 970 tài liệu).
3. Đối tượng, phạm vi nghiên
cứu và giới hạn đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình xác
lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tác giả đi sâu nghiên cứu những tư liệu minh chứng
và những hoạt động cùng những lời khẳng định của nhà nước Việt Nam
về việc xác lập, chiếm hữu, bảo vệ chủ quyền của mình trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong quá trình lịch sử khi chưa có sự
xâm phạm của nước ngoài và trong thời kỳ bị xâm phạm chủ quyền.
Qua đó trình bày những luận điểm, luận cứ, luận chứng
về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa .
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là quá trình xác
lập chủ quyền Việt Nam về mặt lịch sử trong thời kỳ chưa có xâm
phạm của các nước ngoài và khi đề cập đến sự xâm phạm của các nước
ngoài trong bối cảnh sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc
là chủ yếu và đưa ra những luận điểm phản bác đối với những biện
minh xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc vì chỉ có nước này
mới thực sự quan tâm đến các luận điểm về lịch sử.
Từ đó đưa ra những đối sách lâu dài về việc bảo vệ
chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
4. Phương pháp nghiên cứu
và các nguồn tài liệu sử dụng
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp nghiên
cứu lịch sử theo quan điểm duy vật lịch sử. Người nghiên cứu vận
dụng phương pháp luận lịch sử và phương pháp nghiên cứu lịch sử
cụ thể cùng phương pháp lôgích.
Công tác sưu tầm sử liệu được đặt lên hàng đầu, làm
thế nào sưu tầm đầy đủ, phát hiện những tư liệu mới, tiếp cận đến
các tài liệu gốc, tài liệu bậc một. Tác giả trước hết dựa vào các
sách về thư tịch, những tài liệu tham khảo của các công trình nghiên
cứu đã có trước, các tổng mục sách báo, sách dẫn. Tác giả còn đọc
trực tiếp từng trang những tài liệu có khả năng đề cập đến Hoàng
Sa vàTrường Sa.
Về các nguồn tài liệu được sử dụng, luận án quan
tâm đến các nguồn tư liệu gốc, sử liệu bậc một, từ nguồn sử liệu
chữ Hán của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Luận án phối kiểm
các bản dịch khác nhau, kiểm tra các nguyên bản, xử lý thích đáng
đối với các dị bản (phần lớn đã được kèm theo ở phần phụ lục). Tài
liệu bằng chữ Hán của Việt Nam rất phong phú, trong đó có phần đã
được tác giả sưu tầm và có nhiều chuyên viên chữ Hán phiên âm và
dịch thuật vào năm 1975, khi tác giả chủ biên Tập San Sử Địa số
29 đặc khảo về Hoàng Sa, cũng như khi viết bài «Những sử liệu chữ
Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa qua nhiều thế kỷ» dưới bút hiệu Hãn Nguyên.
Sau năm 1975, được bổ sung từ nguồn tư liệu châu
bản rất có giá trị trong thời Minh Mạng và Thiệu Trị của Viện Hán
Nôm Hà Nội, cũng như nguồn tư liệu chữ Hán do công sưu tầm của chuyên
gia hán học đặc biệt về tài liệu của Trung Quốc như Phạm Kim Hùng
hoặc của nhà sử học Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn
Quân đi nghiên cứu điền dã tại Sa Kỳ, Cù Lao Ré (huyện đảo Lý Sơn)
hoặc các tài liệu của Ban Biên Giới Chính Phủ, Bộ Ngoại Giao.
Các nguồn tư liệu phương Tây đã được phổ biến trên
sách báo cũng được tác giả sưu tầm, phối kiểm từ nguyên bản, chứ
không chỉ qua các bài dịch hay đã được ghi chép lại trong các công
trình nghiên cứu trung gian (có kèm ví dụ bản « photocopy » nguyên
bản tư liệu ở phần phụ lục).
Công tác khảo chứng, xử lý, đánh giá tư liệu cũng
được đặc biệt quan tâm. Người nghiên cứu còn sử dụng các phương
pháp liên ngành như nghiên cứu địa lý, khảo cổ học, dân tộc học
và luật học. Cuối cùng là tổng hợp lịch sử.
5. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 3 phần:
- Phần mở đầu gồm 6 mục.
- Phần kết quả nghiên cứu gồm 3 chương.
- Phần kết luận.
Sau cùng là danh mục công trình của tác giả, tài
liệu tham khảo, chú thích, hình ảnh và phụ lục (xem mục lục).
6. Sự đóng góp của luận án
Luận án là công trình tổng hợp, có hệ thống, có tính
đúc kết một cách mới mẻ những công trình nghiên cứu, những tư liệu
đã được phát hiện từ trước đến nay, vừa đầy đủ nhất, với một số
tư liệu mới và những luận cứ, luận chứng xác đáng góp phần đấu tranh
bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Với những kinh nghiệm tập hợp trên qui mô lớn những
tư liệu trong và ngoài nước hồi biên tập Tập San Sử Địa số 29, đặc
khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, người nghiên cứu đã nỗ lực, có những
khám phá mới về mặt tư liệu chưa có ai đề cập tới như tài liệu của
chính người Trung Quốc, Thích Đại Sán trong Hải Ngoại Ký Sự [116]
đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các
tàu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt
Nam hoặc phát hiện thêm đoạn văn thứ 2 rất dài viết về việc xác
lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa ở thời Vua Minh
Mạng trong cuốn sách rất quan trọng có tính cách luật lệ của triều
Nguyễn.
Đó là Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, cùng tài
liệu vẽ sơ đồ các thuyền buồm đóng theo truyền thống ở Cù Lao Ré
được sử dụng đi biển, trong đóù có Hoàng Sa, Trường Sa còn lưu giữ
trong dân gian tại thôn Đông, xã Lý Hải, Huyện Đảo Lý Sơn tức Cù
Lao Ré khi xưa, do ông Nguyễn Hạp vẽ [38].
Luận án cũng đã trình bày việc Việt Nam quản hạt
từ đầu thế kỷ XVII quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Quảng
Ngãi khi là phủ, trấn, tỉnh trong thời kỳ chưa bị các nước ngoài
xâm phạm. Sau đó thuộc quản hạt của tỉnh Thừa Thiên rồi hiện thuộc
Đà Nẵng đối với Hoàng Sa và Bà Rịa Vũng Tàu, rồi Phú Khánh , Khánh
Hoà đối với Trường Sa. Cũng trong thời kỳ chưa có sự xâm phạm của
nước ngoài, vua, triều đình Việt Nam (thời Minh Mạng) đã tuyên bố
khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc cương vực hiểm yếu của Việt
Nam.
Luận án cũng đi sâu, trình bày một cách hệ thống
những hoạt động mang tính nhà nước, xác lập chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đội Hoàng Sa (địa bàn ra
đời, thời gian hoạt động, nhiệm vụ, tổ chức và nội dung hoạt động
khoảng 17 trang), cũng như đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản
của đội Hoàng Sa trong khu vực phía Nam của Biển Đông tức quần đảo
Trường Sa và vùng phụ cận (Côn Đảo, Hà Tiên). Luận án cũng đi sâu
vào các hoạt động mang tính nhà nước rất cao là thủy quân suốt thời
Nhà Nguyễn bắt đầu năm 1816, trở thành lệ hàng năm thời Minh Mạng
thứ 17 (1836), với những hoạt động cắm cột mốc, bia chủ quyền xây
dựng chùa miếu, trồng cây tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ năm 1909, Hoàng Sa bắt đầu bị Trung Quốc và sau
đó bị các nước khác xâm phạm chủ quyền, luận án trình bày các chính
quyền ở Việt Nam có nhiệm vụ quản lý Hoàng Sa và Trường Sa chưa
bao giờ từ bỏ chủ quyền của mình và luôn luôn củng cố, bảo vệ chủ
quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tác giả còn phân tích về giá trị pháp lý của sự xác
lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường
Sa. Tác giả đưa ra luận điểm, luận cứ và luận chứng về sự chiếm
hữu thật sự, hoà bình và thực thi chủ quyền một cách liên tục, tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tác giả phản bác lại những luận điểm sai trái biện
minh cho sự xâm phạm của nước ngoài như của Trung Quốc về sự phát
hiện sớm nhất, kinh doanh sớm nhất, quản hạt sớm nhất hoặc luận
điểm vô chủ và địa lý kế cận của các nước khác ở Đông Nam Á. Tác
giả cũng gián tiếp phản bác lại những phản bác của Trung Quốc về
tư liệu Việt Nam hay các luận điểm của chính quyền Việt Nam.
Tr1
Tr2 Tr3 Tr4 Tr5 Tr6 Tr7 Tr8 Tr9
Tr10
|