Tây Thi,
Gái nước Việt
Nguyên Nguyên
Trong
bài này chúng ta tiếp tục quan sát những tộc Lạc Việt khác với khối
du mục Bách Bộc (tức Hakka cổ), đã đến xứ Việt vào thời cổ đại,
rồi hợp chủng với các tộc khác, tạo dựng nên tộc người Việt Nam.
Đặc biệt chú ý đến các nhóm Lạc Việt ở phiá Nam sông Dương Tử, ở
miền đất ven biển Đông. Điển hình là cư dân các 'nước' U Việt, Ngô
Việt và Mân Việt, mà khuôn mặt tiêu biểu được rất nhiều người biết
đến chính là nàng Tây Thi, mỹ nhân nước U Việt dưới thời Câu Tiễn.
Qua những bài trước, chúng ta đã phát hiện được một
cội nguồn chủ lực rất quan trọng của tộc Lạc nằm trong lòng chủng
Việt-Nam, từng bị quên lãng suốt hằng ngàn năm. Đó chính là nhóm
Bách Bộc bao gồm Lạc bộ Trãi, loại người du mục, vào thời cổ đại
xa xưa, đã từng sinh sống bên cạnh Hoa tộc ở miền cực Bắc nước Tàu,
bên sông Hoàng Hà và thuộc khu vực Sơn Đông ngày nay.
Chúng ta cũng đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng rất cụ
thể, trong đó có nhiều tài liệu về ngôn ngữ, để đưa đến kết luận
rằng người du mục kì bí và khét tiếng nhất của Trung Hoa ngày nay,
người Hakka tức Hẹ, chính là hậu duệ của nhóm Lạc bộ Trãi đó. Một
trong những phát hiện thú vị nhất trong việc minh giải tộc Lạc bộ
Trãi chính là đám Đông Yi hay Bách Bộc du mục, tức người Hakka (Hẹ)
cổ, từ khu vực Sơn Đông, là việc phát hiện các hoàng thân quốc thích
nhà Lý bôn đào chạy về nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên ở hướng
Sơn Đông và Triều Tiên, sau khi Trần Thủ Độ tiếm ngôi nhà Lý cho
cháu là Trần Cảnh, tức Trần Thái Tôn (1225-1258). Đó là việc hậu
vận nhà Lý.
Nhân dịp đọc bộ Đại Việt Sử Ký toàn thư của Ngô Sĩ
Liên [4] để viết bài này, chúng tôi tình cờ phát hiện thêm một chứng
cớ rất quan trọng xác định chung cuộc: thị tộc nhà Lý chính là dân
Bách Bộc, hoặc Đông Zi hay Lạc bộ Trãi xuất thân từ địa bàn chung
quanh khu vực Sơn Đông ngày nay. Đó là chứng tích thuộc loại 'đương
vận' nhà Lý.
Chứng tích này dễ bị lướt qua từ xưa đến nay bởi
ngày trước và thông thường, chúng ta đã thiếu thốn rất nhiều hiểu
biết về cổ sử Trung quốc và các tộc người ở thời cổ đại, nhất là
đám Hmong, thường gọi Miêu tộc, thành phần chủ lực tạo dựng nên
dân tộc Triều Tiên, tức Hàn. Người Hmong và Hàn ưa thờ thánh tổ
của họ là Xuy Vưu. Tiếng Hoa, theo đa số phương ngữ gọi Chi-You
[蚩尤], với [You 尤] theo âm Việt [Vưu], hay đôi khi [Ưu]. Tiếng Hán
phát âm theo kiểu Hàn (Triều Tiên): Chi-Wu hay Chi-U. Chỉ có người
Triều Tiên và người Miêu-Yao mới thờ 'vua' Xuy Vưu.
Trong tiếng Hmong, 'Txiv Yawg' tức 'Chi-You', đọc
kiểu Việt là 'Xuy Vưu' mang nghĩa 'Cha Ông' hay 'lãnh tụ', tức 'đại
tù trưởng'. Hoa chủng mặc dù có chỗ thờ Thần Nông của tộc Âu Việt,
nhưng tuyệt nhiên không có một người Hoa thuần túy nào thờ hay nhắc
nhở đến Xuy Vưu cả. Bởi đối với người Hoa, Xuy Vưu là một lãnh tụ
ngoại chủng đại bại trước Hoàng Đế Hiên Viên thuộc Hoa tộc ở thời
huyền sử.
Chứng tích hết sức độc đáo chúng tôi phát hiện được,
nhờ ở việc giải mã truyền thuyết đầy gút mắt về Âu Cơ và Lạc Long
Quân này, chính là dấu vết về Xuy Vưu tại xứ Việt xưa, vào thời
vua Lý Anh Tôn (1138-1175), vị vua thứ 6 kể từ Lý Công Uẩn, tức
Lý Thái Tổ (1010-1028). Chứng tích hết sức độc đáo đó được ghi lại
vỏn vẹn có một câu (trang 401) trong bộ sử của Ngô Sĩ Liên [4],
vào thời vua Lý Anh Tôn:
''Canh Thìn, năm thứ 21 (1160) (Tống Thiệu Hưng năm
thứ 39). Mùa Xuân, tháng giêng, làm đền Hai Bà và đền Xuy Vưu ở
phường Bố Cái."
Presto! Có đền Xuy Vưu tại nước Nam? Có. Đó là đền
thờ Xuy Vưu được xây cùng một lúc với đền Hai Bà Trưng, vào năm
1160, do lệnh vua Lý Anh Tôn. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần
cuối cùng tên họ Xuy Vưu được nhắc đến trong toàn bộ lịch sử nước
Nam.
Như vậy dòng họ nhà Lý chắc chắn xuất phát từ nhóm
Đông Di, thuộc đám Tam Hàn, khi xưa cũng từng di tản sang Triều
Tiên và tạo dựng nên dân Hàn, một tộc người hâm mộ nhân sâm ginseng
và thịt Cầy nhất thế giới. Chi tiết 'Xuy Vưu' có vẻ rất tầm thường
kể trên cũng nói lên một hai sự việc hết sức quan trọng.
Thứ nhất, chính trị của nhà Lý rất cao. Mặc dù trước
đó, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ khu Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) về La
Thành (Đại La), rồi đặt tên mới: Thăng Long (rồng hiện). Theo thiển
ý, Lý Thái Tổ dời đô về Đại La với mục đích chính là tìm hậu thuẫn
chính trị ở người thuộc tộc Hmong hay Lạc Việt (bộ Trãi), cùng chủng
với dòng nhà Lý, bởi Hoa Lư, quê hương Đinh Bộ Lĩnh, là chốn tập
trung của người Âu Việt thuộc chủng Thái cổ, bà con cật ruột với
người Mường [6].
Thứ hai, việc xây dựng đền Hai Bà và Xuy Vưu, thuộc
hai tộc người khác nhau, cho thấy rất rõ, có một nhu cầu nhắc nhở
hai chủng khác nhau Âu và Lạc cần sống hoà thuận với nhau trong
thời đại tự chủ đầu tiên, rất huy hoàng, kéo dài lâu nhất kể từ
thời lập quốc xa xưa.
Thứ ba, cũng có khả năng, tộc Miêu-Yao (Hmong) với
thánh tổ là Xuy Vưu, đã có mặt rất đông tại xứ Việt cổ, và chính
là tộc của dòng nhà Lý [8]. Một giả thuyết khá quan trọng, chúng
tôi hy vọng sẽ trở lại vào một zịp khác.
Xin trở lại quan sát các tộc Lạc Việt ở mạn phía
Nam sông Dương Tử.
Có nhiều lý do đã khiến tất cả mọi người kể cả những
học giả có tầm vóc, đủ mọi ngành nghề, từ Á sang Âu, xưa và nay,
bỏ sót đi và rồi không thể nào phát hiện được mối liên hệ cực kì
quan trọng giữa đám Lạc bộ Trãi, người Hakka (Hẹ), và tộc Việt Nam.
Một trong những lý do đã che lấp cội nguồn Lạc Việt
thuần túy nhất, chính là chuyện lạc hướng của bao nhiêu tiền bối,
bắt đầu từ việc đặt nhiều chú ý đến những nhóm Lạc Việt khác, xuất
xứ từ ba 'nước' Ngô (Việt), U Việt, và Mân Việt, tức 3 tỉnh nằm
ven biển từ Bắc xuống Nam: Giang Tô, Chiết Giang và Phúc Kiến. Điển
hình là của Madrolle và Aurousseau, vào thời tiền chiến. Hai vị
này dựa vào sử sách người Hoa, tạo dựng nên hai lí thuyết tréo cẳng
ngỗng với nhau, rất phiến diện, chỉ thiên về một góc nhỏ của nguồn
gốc tộc Việt.
Aurousseau đưa ra một giả thuyết, chỉ chú trọng đến
giai cấp lãnh đạo nước U Việt của Câu Tiễn, cho rằng sau khi U Việt
nới rộng bị Sở thôn tính vào năm 334 TCN, đám lãnh đạo này đã di
tản sang các miền lân cận như Mân Việt (Phúc Kiến), rồi sau cùng
chạy tuốt xuống xứ Việt cổ thành lập nên 'nước Văn Lang'. Câu Tiễn
chính là một trong 18 vị Hùng Vương. Một sai lầm rất to tát. Madrolle
và Maspero phản bác và gạt bỏ thuyết này. Riêng Madrolle viện dẫn
thêm lí do con đường từ U Việt, tức Chiết Giang - Thượng Hải ngày
nay, rất dài, đầy chông gai hiểm trở, và lại phải xuyên qua nhiều
bộ lạc khác nhau. Từ đó Madrolle đặt riêng cho mình một giả thuyết
cho rằng xứ Việt cổ được thành lập hoàn toàn bởi người Mân Việt,
tức Triều Châu- Phúc Kiến ngày nay, di tản đến đó bằng đường thủy.
Những lí thuyết thời tiền chiến này (xem [8] &
[10]) đã hoàn toàn bỏ sót đám du mục rất thiện chiến là người Hẹ
cổ, cũng như một khối người đông đảo thuộc tộc Âu Việt, tức Thái
cổ, cũng di tản đến xứ Việt cổ từ những khu vực Tứ Xuyên (Thục),
Hồ Bắc - Hồ Nam (Sở), Quí Châu, Quảng Tây (Tây Âu) và Quảng Đông
(Nam Việt),... Những lí thuyết hết sức phiến diện này cũng không
kể đến tộc người có mặt tại xứ Việt cổ từ trước, ngoài nhóm Thái
cổ, là người Môn-Khmer. Tức, ở thời tiền chiến, có vài ba lý thuyết
về nguồn gốc tộc Việt Nam, do những học giả Tây đề ra, nhưng rất
tiếc tất cả đều thiếu sót, bỏ quên hai khối chủ lực Âu Việt và Lạc
Việt (bộ Trãi), và hoàn toàn không đối chiếu với truyền thuyết Âu
Cơ và Lạc Long Quân.
Bản Đồ cho thấy những địa bàn khác nhau của các tộc
Âu và Lạc, thời còn ở tại Trung Hoa. Ba vòng tròn chỉ 3 nhóm Lạc
khác nhau: Lạc bộ Chuy và Khương, Lạc bộ Trãi (chủ lực) và Lạc bộ
Mã. Hình vuông chỉ các chi tộc Âu. Thuyết của các học giả thời tiền
chiến chỉ chú ý đến 'thành phần lãnh đạo' của vòng tròn Lạc bộ Mã
ở vùng gần biển, phía Đông nước Tàu.
Xin nhắc lại đẳng thức do loạt bài này đề ra, về
nguồn gốc tộc Việt Nam:
Việt Nam = Thái cổ (Âu) + Việt-cổ (Lạc) // Môn-Khờme
+ Đa Đảo + Nê-gri-tô {1}
Người Việt Nam là hợp chủng giữa Thái-cổ và Việt-cổ,
trên tầng lớp chính Môn-Khờme. Người bản địa ở đó từ trước, ngoài
nhóm Môn-Khờme và Thái cổ, còn bao gồm loại người Đa Đảo và Nê-gri-tô,
có tóc xoắn.
Chỉ trừ người Âu-Việt, tức Thái cổ, và người Hmong,
tức Miêu-Yao, các tộc khác thường được người Hoa gọi Lạc. Thông
thường có 4 thứ Lạc:
- Lạc bộ Trãi, tức Hẹ cổ, và người Việt tại xứ Ngô
& Việt - 貉
- Lạc bộ Mã, tức người Mân Việt (Phúc Kiến) 駱
- Lạc bộ Chuy, tức người Môn 雒
- Lạc bộ Khương, tiền thân người Khmer 羌各 thường
viết tắt: Khương [Qiang] 羌.
Trái với hiểu biết thông thường, người Lạc Việt theo
phân loại của người Tàu, thường chỉ bao gồm: Lạc bộ Trãi, tức đám
Bộc Việt ở khu vực Sơn Đông cộng với hai nhóm Ngô (tỉnh Giang Tô
ngày nay) và Việt (U Việt của Câu Tiễn, địa bàn ở Chiết Giang) -
cùng với nhóm Lạc bộ Mã tức dân Mân Việt ở khu vực tỉnh Phúc Kiến
ngày nay. Lạc Việt, trong ý nghĩa thuần túy không có bao gồm dân
Âu Việt, thuộc chủng Thái cổ; hoặc các thứ Lạc bộ Chuy và Khương,
dùng để chỉ dân Môn-Khờme, dân bản địa chủ lực ở xứ Việt cổ.
Trong ba bài trước, chúng ta đã quan sát khá kỹ về
nhóm chủ lực Lạc bộ Trãi, và đã xác định được rằng nhóm này chính
là nhóm Bách Bộc hay Bộc Việt, tiền thân của người Hakka, tức Hẹ
ngày nay.
Cách xử dụng các từ 'Lạc' thường phân biệt như sau:
- Lạc bộ Trãi, 貉, thường viết cho họ Lạc của Lạc
Long Quân, thành phần Lạc 'chủ lực'.
- Lạc bộ Mã, 駱, là chữ 'Lạc' dùng trong từ kép: 'Âu-Lạc'
và 'Lạc Việt'
- Lạc bộ Chuy, 雒, thường bao gồm luôn 'Khương' 羌,
chỉ dân bản địa Môn-Khmer, dùng
trong: Lạc hầu, Lạc tướng [1].
Tộc Việt vào thời cổ đại bao gồm tất cả các thứ Lạc
kể trên, công với tộc Âu, tức Thái cổ. Tiền nhân, cả hai bên Hoa
và Việt, đã xử dụng tất cả các chữ Lạc đó để chỉ dân Lạc Việt, không
phải vì thiếu thốn lô-gích hoặc lộn xộn, nhưng có lẽ bởi muốn nhắn
với hậu thế chủng Lạc sinh sống ở xứ Việt cổ thật sự đã bao gồm
tất cả những thứ Lạc khác nhau đó.
Trong đẳng thức về nguồn gốc {1}, tộc Thái-cổ, tức
Âu Việt bao gồm ít lắm cũng 5 chi tộc khác nhau, với chi lớn nhất
có mặt tại xứ Việt cổ chính là chi tộc từ xứ Tây Âu ngày xưa, hoặc
Quảng Tây bây giờ. Chủng Âu có thể là chủng đã phát minh ra 'du
kích chiến', lợi dụng địa bàn rừng núi của mình để kháng chiến với
quân xâm lược nhà Tần vào khoảng cuối thời Chiến Quốc (222 TCN)
[2]. Một trong những danh nhân nước Nam thuộc chủng Thái cổ, chính
là Bình Định Vương Lê Lị, thường được biết qua Lê Lợi, do ở kị huý
[12], tức vua Lê Thái Tổ, người khai sáng nhà Lê.
Nếu muốn phân biệt các tộc ở xứ Việt cổ, dựa trên
chữ [Yue] ('Việt'), người Hoa xưa nay thường viết ra hai chữ {Yue]
khác nhau:
- Việt bộ Mễ, chỉ tộc Âu Việt, tức Thái-cổ, hãy còn
dùng để chỉ tỉnh Quảng Đông: 粵
- Việt bộ Tẩu, chỉ tộc Lạc Việt, dân vùng ven biển,
gồm phần chính: Lạc (Trãi) và Lạc (Mã): 越. Lạc (Trãi) ban đầu dùng
cho dân du mục Bách Bộc, nhưng về sau bao gồm luôn dân xứ Ngô (Giang
Tô), và Việt (Chiết Giang).
Ngoài ra, một đôi khi người Hoa cũng dùng đến chữ
'Việt' mang nghĩa cái rìu đánh trận ưa dùng trong lễ nghi: 鉞 , đã
khai quật được tại Hàng Châu (Chiết Giang), để chỉ dân Việt ở phía
Nam sông Dương Tử, như U Việt và Mân Việt xưa [3].
Trong những bài trước, chúng ta đã xem qua các tộc
Âu, và phần chủ lực của Lạc bộ Trãi, tức người Đông Di hay Hẹ cổ,
một thứ người du mục. Trong bài này chúng ta hãy tìm hiểu phần 'không-dumục'
của Lạc bộ Trãi, cùng với nhóm Lạc bộ Mã.
Phần 'không-dumục' của nhóm Lạc bộ Trãi chính là
cư dân ngày xưa của hai xứ Ngô và Việt ở vùng ven biển phía Đông,
chung quanh cửa sông Dương Tử tức Trường Giang. Xin nhắc lại lịch
sử oai hùng của hai nhóm Lạc bộ Trãi tại hai xứ Ngô và Việt như
sau.
Tại bờ biển phía Đông, dưới sông Dương Tử, vào khoảng
cuối thời Xuân Thu có một tiểu quốc tên Việt, chính là tỉnh Chiết
Giang ngày nay, quê hương của Kim Dung, tác giả những truyện chưởng
thật tuyệt chiêu vào thời thập niên 60. Ngay ở phiá Bắc nước Việt
là nước Ngô. Dân Ngô và Việt đồng chủng với nhau và nói cùng một
thứ tiếng Việt-cổ. Chuyện tranh chấp giữa Ngô và Việt cũng dài y
như chuyện Hoa Sơn luận kiếm trong bộ 'Xạ Điêu Anh Hùng' của Kim
Dung.
Đầu tiên vua xứ Ngô là Hạp Lư dùng tướng Ngũ Tử Tư,
gốc người nước Sở, đánh bại được Sở, nhưng sau đánh với xứ Việt
bị trọng thương rồi chết. Con cháu Hạp Lư là Ngô Phù Sai tìm cách
trả thù, đánh bại được Việt và bắt được vua Việt, Câu Tiễn, đem
về cầm tù, bắt coi ngựa trên dưới 10 năm. Câu Tiễn có tướng giỏi
Phạm Lãi giúp bày mưu đem cống hiến mỹ nhân Tây Thi cho Phù Sai
để làm cùn mũi dùi quân sự của Phù Sai, và làm cho vua nước Ngô
xao nhãng việc nước. Câu Tiễn chịu nhục nếm phân Phù Sai lúc Phù
Sai bị bệnh, nên được trả tự do trở về quê cũ. Câu Tiễn, sau đó
chiêu mộ binh hùng tướng mạnh nổi lên đánh lại Phù Sai và tiêu diệt
được nước Ngô, tạo nên uy thế vang lừng vào thế kỷ thứ 5 trước Công
Nguyên. Tên tuổi Câu Tiễn đước đứng vào hàng võ lâm ngũ bá của thế
giới nước Tàu vào thời nhiễu nhương Đông Châu Liệt Quốc đó. Sau
khi nước Việt tiêu diệt được Ngô, Phạm Lãi, có lẽ làm gương cho
Trương Lương sau này, rút lui về ở ẩn. Có giả thuyết cho rằng Phạm
Lãi, khi rút lui đã cùng với Tây Thi cưỡi ngựa chạy về hướng mặt
trời lặn, y như những phim cao-bồi western ở thế kỉ 20.
Việt Vương Câu Tiễn thừa thắng xông lên đánh tiếp
phương Bắc và hùng cứ một bờ cõi rộng lớn bên cửa sông Dương Tử,
chảy ra biển Hoàng Hải của Thái Bình Dương. Ở phía Tây nước Việt
chính là nước Sở, chứa nhiều tộc Việt chi Âu tức Thái-cổ, lúc đó
cũng rất hùng cường, nhưng mang tiếng rợ và thô bạo dã man. Thừa
cơ nước (Ư) Việt ngày càng suy yếu sau khi Câu Tiễn qua đời, Sở
hợp lực với Tề (ở khu vực Sơn Đông) đem quân sang dứt điểm nước
Việt vào năm 334 TCN. Nước Sở tiếp tục bành trướng lãnh thổ và chiếm
luôn nước Lỗ của Khổng Tử vào năm 249 TCN. Nhưng cuối cùng Tần,
ở phía Tây, mạnh mẽ hơn, gồm thâu được lục quốc, trong đó có Sở,
rồi nhất thống được nước Tàu ở vùng Hoa Bắc (năm 221 TCN). Một số
dân nước Việt (bao gồm Ngô), chịu không nỗi thô bạo của quân Sở,
rồi đến Tần, đã kéo nhau di tản về phía Nam, đặc biệt định cư rất
nhiều tại xứ Mân Việt, tức khu tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Mân Việt
sau đó tồn tại không lâu thì bị nhà Hán đem quân đánh chiếm. Mân
Việt cuối cùng thất thủ cùng một lúc với xứ Nam Việt của Triệu Đà,
vào năm 111 TCN.
Nhân vật nổi tiếng nhất tại nước Ngô vào thời cổ
đại chính là Tôn Tử, tác giả bộ sách 'The Art of War' tức binh thư
Tôn Tử, một bộ sách tiếng Tàu có lẽ được dịch ra nhiều thứ tiếng
nhất từ xưa đến nay. Tôn Tử sống cùng thời với Khổng Tử, vào khoảng
thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Ông là dòng dõi con quan nhà binh,
về sau được người tiến cử lên gặp vua nước Ngô. Gây ấn tượng tốt
đẹp với vua Ngô sau buổi thao dượt tập trận dùng các thứ phi và
cung tần thường được nhà vua sủng ái, Tôn Tử được vua Ngô tin dùng
và phong làm quan tướng. Nước Ngô dưới thời Hạp Lư cũng nổi tiếng
với cặp kiếm Can Tương và Mạc Tà. Nhưng, có thật chính là những
cây kiếm báu của Ngô Phù Sai, Việt Vương Câu Tiễn, v.v., đã được
khai quật cách đây vài mươi năm (xem bài viết về 'Bảo Kiếm' của
Nguyễn Duy Chính tại trang web về chưởng-học: Vietkiem.com).
Thế còn Tây Thi thì sao? Tây Thi có chung huyết thống
nào đó với người Việt (Nam) cổ hay không? Đây chính là một câu hỏi
hết sức gút mắt và phức tạp. Bởi do ở trực giác, chúng ta thường
có cảm tưởng bàng bạc mơ hồ rằng Câu Tiễn, Phạm Lãi, và Tây Thi
mang chủng Việt cổ nguyên thủy. Nhưng trên thực tế, người Việt Nam,
dù đôi khi có thể rất muốn nhận, nhưng lại không dám. Lý do chính:
Không ai thấy bóng dáng nàng Tây Thi ở đâu, trong toàn bộ kho tàng
cổ tích xứ Việt Nam. Lí do phụ: Người ta thường có thói quen dè
dặt, nhất là đối với những gì mình không biết rõ, mà lại liên can
đến Tàu.
Qua truyền thuyết Âu Cơ được giải mã trong loạt bài
này, chúng ta bắt buộc tìm cách xem lại vấn đề này dưới một góc
nhìn hoàn toàn mới. Câu hỏi được đặt ra: Các thứ Việt tộc (Lạc)
xuất thân từ các xứ Ngô (Giang Tô), Việt (Chiết Giang), và Mân (Phúc
Kiến), đã góp phần hợp chủng với các chủng Lạc khác, như đám Hakka
(Hẹ) cổ, hoặc chủng Âu (Thái) và Môn Khmer (bản địa), để biến tạo
nên người Việt ra sao? Nói một cách nôm na: Ngoài nhóm du mục Bách
Bộc tức Hẹ cổ, những loại người Lạc ở khu vực ven bờ biển phía Đông
nước Tàu, có di dân đến xứ Việt-cổ hay không?
Trả lời câu hỏi này thoạt đầu có vẻ xem rất khó,
nhưng thật ra cũng không đến nỗi khó như chuyện mò trai dưới biển.
Nếu chúng ta nhân cơ hội kiểm chứng thêm việc ăn khớp với nhau,
giữa truyền thuyết giải mã ở đây với các chứng liệu lịch sử quen
thuộc.
Trước hết là Thục Phán, nhà lãnh đạo đầu tiên của
xứ Việt cổ, rất có khả năng một người có thật, bằng xương bằng thịt.
Trước tiên họ Thục là lãnh tụ đám dân quân ở một vùng đất thuộc
khu Tây Âu (Quảng Tây ngày nay). Thục Phán chắc chắn một người mang
chủng Thái cổ. Hiên tại nhiều mwang bản ngài Mường, người ta có
thờ Thục Đế.
Tiếp đó, Hai Bà Trưng xuất thân từ huyện (bộ lạc)
Mê Linh [4], khu Châu Phong - Phú Thọ, ái nữ một Lạc Tướng, nổi
lên chống giặc Đông Hán (40). Rất có khả năng, thuộc chủng Thái
cổ. Cũng có nhiều đền thờ Hai Bà tại những khu vực Mường. Về sau,
có bà Triệu thị Trinh (Triệu Âu) xuất thân từ miền núi huyện Nông
Cống, quận Cửu Chân, tức khu vực sông Mã – Thanh Hoá ngày nay, dấy
quân chống nhà Ngô (248). Bà Triệu, cũng rất có khả năng, thuộc
chủng Thái cổ.
Thêm hai nhà lãnh đạo thuộc chủng Thái cổ, rất rõ:
Đinh Bộ Lĩnh và Lê Lợi. Đinh Bộ Lĩnh xuất thân từ động Hoa Lư -
Ninh Bình, con Đinh Công Trứ. Họ Đinh Công là môt họ khá phổ biến
của chủng Thái cổ, bà con cật ruột người Mường. Khu vực Hoa Lư cũng
là khu tập trung rất nhiều người Mường. Lê Lợi, anh hùng áo vải
đất Lam Sơn tỉnh Thanh Hoá, xử dụng du kích chiến, truyền thống
tộc Âu Việt (Thái), kháng chiến ròng rã suốt 10 năm đánh đuổi được
quân nhà Minh ra khỏi nước Nam. Theo dẫn chứng [5], Nhượng Tống
dịch giả đầu tiên của bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã minh giải khá
vững chắc Lê Lợi mang chủng Thái cổ. Cuisinier [7] cho biết họ Lê
tại Thanh Hoá rất phổ biến trong các cộng đồng Mường.
Chủng Lạc Việt, viết theo bộ Trãi, tức nhóm người
Bách Bộc xưa hay Hakka ngày nay, ngày trước có địa bàn chung quanh
tỉnh Sơn Đông và sông Hoàng Hà, có đại diện sáng giá nhất là thị
tộc nhà Lý, bắt đầu bởi Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ, người khởi nghiệp
nhà Lý. Vào năm 1160, vua Lý Anh Tôn ra lệnh xây đền thờ 'đại tù
trưởng' Xuy Vưu, mặc nhiên xác nhận thị tộc nhà Lý là một nhánh
hậu duệ khá lẫy lừng của nhóm du mục Bách Bộc hay Đông Di. Dân Bách
Bộc, hay Đông Di, qua danh tướng Lý Thường Kiệt, cho thấy họ đã
sản xuất được những vị lãnh đạo quân sự hết sức xuất sắc.
Xích xuống phía Nam, sự có mặt của dân Mân Việt (Triều
Châu - Phúc Kiến) tại nước Nam được thể hiện sáng chói với thị tộc
nhà Trần. Sử Ký của Ngô Sĩ Liên [4] ghi ở nhiều chỗ thị tộc họ Trần
mới di dân sang nước Nam vài đời mà thôi. Từ xứ Mân Việt, đa số
dân mang chủng Lạc bộ Mã. Họ Trần bước vào hành lang của quyền bính
nhờ ở tướng Trần Thủ Độ, người đã dẫn cháu Trần Cảnh, khi còn nhỏ,
vào cung làm bè bạn với công chúa cuối đời nhà Lý là Lý Chiêu Hoàng.
Về sau, Trần Cảnh thành hôn với Chiêu Hoàng, rồi Thủ Độ dựa vào
nguyên lý giữ cội nguồn quyền bính, bắt ép Chiêu Hoàng nhường ngôi
vua lại cho Trần Cảnh.
Thật sự, nhà Trần là một triều đại sáng chói, huy
hoàng. Thủ đoạn chính trị của Trần Thủ Độ, hoặc những đòn chính
trị, quân sự của nhà Trần nói chung, đã cho thấy một vài điểm khá
lí thú. Thứ nhất, có vẻ như rằng dân Việt xứ Mân, nhất là đám 'ê-lít'
nhà Trần, trước khi di tản sang nước Nam, đã học được rất nhiều
đòn phép của Hoa chủng. Bởi hai xứ Mân Việt và U Việt, khu ven biển
phía Nam, qua nhiều thời đại, là các khu vực có nhiều biến động
chính trị và quân sự nhất ở bên Tàu. Thứ hai, nhà Trần qua những
hành vi sex và trai gái lấy nhau giữa những người trong họ [13],
cho thấy họ là một thị tộc khép kín. Mang nhiều đặc tính của những
đám di dân mới đến định cư ở một chốn mới xa lạ. Thứ ba, đòn phép
tuyệt chiêu nhất của thị tộc nhà Trần chính là chuyện Trần Anh Tôn
gả Huyền Trân công chúa cho vua Chăm-pa Chế Mân để đổi lấy châu
Ô và châu Rí (1307), tức Thuận châu và Hoá châu, gây mầm mống cho
việc mở mang bờ cõi nước Nam, sau này.
Thế những người mang huyết thống của Câu Tiễn và
Tây Thi có đến nước Nam hay chăng? Cũng có luôn.
Đó là những thị tộc của Hồ Quý Ly và Nguyễn Huệ.
Cả hai đều truy về nguồn gốc tổ tiên từ Chiết Giang, quê hương của
Kim Dung, và chính là địa bàn của nước U Việt mở rộng (bao gồm Ngô
Việt) của Câu Tiễn năm xưa. Cả hai vị, Hồ Quý Ly và vua Quang Trung,
đều là những người mang đầu óc cải cách canh tân. Riêng Quang Trung
Nguyễn Huệ, cho thấy ông không thua gì thiên tài quân sự Tôn Tử
của nước Ngô Việt năm xưa.
Tóm tắt, hãy xem lại đẳng thức về tộc Việt Nam:
Việt Nam = Thái cổ (Âu) + Việt cổ (Lạc) // Môn Khmer
+ Đa đảo + Nê-gri-tô {1}
(Lạc) Việt cổ = Bộc Việt (Hẹ) + U Việt (Chiết Giang)
+ Mân Việt (Phúc Kiến) {2}
Phân bố các triều đại và danh nhân hoặc thiên tài
quân sự:
· Âu: Thục Phán, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Bộ
Lĩnh, Lê Lợi
· Lạc: gồm có
- Bộc Việt: Nhà Lý & Lý Thường Kiệt
- Ư Việt: Hồ Quý Ly, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ
- Mân Việt: Nhà Trần & Trần Hưng Đạo
Tây Thi, qua hiện diện của nhà Hồ và Tây Sơn tại
Việt Nam, do đó chắc chắn có chung một thứ huyết thống nào đó với
người Việt Nam.
Dựa vào những phát hiện kể trên, chúng ta cũng có
thể đi đến một số nhận xét sau.
(a) Các chủng Âu và Lạc mặc dù đã di tản đến xứ Việt
cổ trong suốt thời gian Xuân Thu Chiến Quốc ở bên Tàu (770-221 TCN),
nhưng di dân vẫn tiếp tục dài dài cho đến thời nhà Lý, nhà Trần,
v.v. Trừ ê-kíp của Thục Phán, những đám di dân đầu tiên có vẻ thiếu
thốn thành phần ưu tú 'ê-lít'. Chỉ đến thời Lý Bôn (năm 544), người
ta mới thấy những đợt di dân của những người đã quen thuộc với hành
lang quyền bính, hoặc như trường hợp thị tộc nhà Trần, giới thương
gia thành công từ lúc ở bên Tàu, hay tại xứ định cư mới.
(b) Cũng bởi những đợt di dân trước Công Nguyên chỉ
bao gồm đám thường dân chạy giặc, việc hợp quần để chống trả quân
xâm lăng Bắc phương bị vướng phải rất nhiều khó khăn. Trong đó,
việc quan trọng nhất: tộc người Việt Nam vẫn chưa hình thành, ít
lắm cũng đến một hai thế kỷ đầu sau Công Nguyên [16]. Nhóm người
bản địa, gồm: Thái-cổ tập trung ở vùng Hoà Bình [14], dân Môn-Khờ-me,
và lớp người Đa đảo và Nê-gri-tô, thấp và có tóc xoăn. Chủ lực trong
tiếng nói chính là dân Môn-Khmer. Từ chỉ số đếm từ 1-10 có âm vận
y như tiếng Môn-Khmer. Những từ chỉ miệng, mũi, mắt, đầu mình, tứ
chi cũng mang gốc gác Môn-Khmer. Tiếng Việt thời sơ khai chính là
tiếng của dân Môn-Khmer. Tộc Môn Khmer, phản ánh qua người Chăm-pa,
hãy còn theo mẫu hệ dài dài. Người Thái-cổ, qua hình ảnh bà Trưng
bà Triệu, có lẽ cũng vậy. Chỉ có giống Lạc Việt, chạy sang xứ Việt
cổ sau cùng, trước sau vài trăm năm, có lẽ đã khởi xướng việc chuyển
sang phụ hệ, mang nặng ảnh hưởng của Hoa chủng.
(c) Lý Bôn đầu tiên xác nhận giòng họ ông chỉ mới
định cư tại nước Nam có 7 đời, tức khoảng 250-300 năm. Nhà Lý của
Lý Công Uẩn cũng không phải là dân bản địa. Họ là người Bách Bộc
có đồng chủng sang xứ Việt sớm hơn. Nhưng chính họ chắc cũng không
lâu, nên đã nhớ rõ thánh tổ Xuy Vưu của họ, và đám Đông Di ở Sơn
Đông. Sau cùng, họ đã lên tàu căng buồm nhắm hướng quê cha đất tổ
ở miệt Sơn Đông - Triều Tiên mà bôn đào, sau khi chính quyền nhà
Lý bị mất về tay Trần Thủ Độ. Nhà Trần cũng tương tự. Sử sách ghi
rất rõ họ xuất xứ từ Mân Việt và chỉ định cư tại nước Nam có mấy
đời. Nhưng tuyệt nhiên, ta không hề thấy một quyển sách nào ghi
lại chuyện dị đồng ngôn ngữ giữa các tộc Lạc và Âu, với nhau. Từ
đó, có thể suy ra, tiếng Việt hình thành trong một khoảng thời gian
khá dài lâu, trên nền tảng cơ bản là tiếng của người Môn Khờme.
Những từ vựng, đa số chúng ta thường lầm là tiếng Nôm hay tiếng
Hán Việt thật ra là một hỗn hợp khá phức tạp và gay cấn giữa các
tộc Việt từ phía bờ biển Đông nước Tàu, chung đụng với thứ tiếng
Thái cổ, trên nền tảng Môn-Khờ-me. Thái cổ và Môn Khờme có mặt tại
xứ Việt cổ sớm hơn hết.
Thêm một câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây. Đó là:
bởi những lý do nào, Tây Thi cùng những nhân vật cổ sử thuộc tộc
Lạc Việt, đã hoàn toàn nằm bên ngoài kho tàng cổ tích nước Nam?
Trước hết, chúng ta thấy 'lịch trình chính trị' tại
xứ Việt cổ cho đến thời Lý Bôn (tức Lý Nam Đế), hoàn toàn do những
vị thuộc chủng Thái cổ điều động: Thục Phán, Hai Bà, và bà Triệu.
Những đợt di dân rầm rộ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc
lại bao gồm hai đám chính, Âu (Thái) và Lạc (Việt) xuất phát từ
nước Sở, và các khu vực phía Nam như Động Đình Hồ, Dạ Lang, Tây
Âu và Nam Hải. Chủng Lạc ở đây đa số gồm người Bách Bộc thuộc đám
Đông Di từ khu vực Hoàng Hà - Sơn Đông, xuống Sở từ trước. Nhưng
đông nhất phải là chủng Âu.
Trong hành lý của khối di dân đó có rất nhiều kỷ
vật văn hoá và tông giáo (thờ cúng tổ tiên, lên đồng). Đặc biệt,
rất nhiều chuyện cổ tích mang tính u linh hoang đường, sở trường
của dân Thái tại nước Sở, được truyền tụng lan tràn trong chốn dân
gian. Đám Bách Bộc du mục ngược lại, có rất ít chuyện về anh hùng
để kể lại cho con cháu. Bởi họ luôn luôn chia thành nhiều đám di
động nay đây mai đó.
Những đám di dân từ các xứ Ngô, Việt hay Mân, trước
khi đến xứ Việt cổ, cũng đã di dịch thay đổi địa bàn sinh sống rất
nhiều phen. Thêm vào đó, bởi vùng gần biển là vùng dễ sống, sử Tàu
(thí dụ [9] & [15]) cho thấy người Hoa từ mạn Bắc đã nhiều lần
tràn xuống định cư ở những khu Giang Tô, Chiết Giang và Phúc Kiến.
Trong khi người bản địa tại những khu này chạy sang nơi khác, thí
dụ từ U Việt (Chiết Giang) chạy xuống Mân Việt (Phúc Kiến). Bao
nhiêu chuyện tích anh hùng qua nhiều lần di cư cũng dễ bị xoá nhoà
trong tâm khảm những người Việt xa xứ.
Thêm vào đó, chúng ta có thể phân biệt bản chất khác
nhau giữa lê dân hai miền: Khu rừng núi Hoa Nam chung quanh Quế
Lâm (Dạ Lang) của tộc Thái cổ, và khu bình nguyên ven biển miền
Chiết Giang (U Việt) của dân Lạc. Bản chất dân sống ở khu rừng núi,
rất có khả năng, hãy còn dưới thể chế bộ lạc: Dân chúng gần gũi
thân mật với nhau. Dân ở miền Giang Tô - Chiết Giang, hai 'nước'
Ngô và Việt, sống dưới chế độ quân chủ phong kiến. Trong đó sự phân
biệt lối sống giữa giai cấp thống trị và bị trị rất rõ nét. Đặc
biệt nhất, những chuyện chính trị và quân sự, chiến tranh hoàn toàn
là chuyện của vua chúa, lê dân không nên biết tới.
Từ đó, việc Tây Thi, Phạm Lãi, Câu Tiễn, Phù Sai,
hay Ngũ Tử Tư hay những vị anh hùng tộc Việt ở vùng biển thời xa
xưa, có nằm ngoài toàn bộ kho tàng cổ tích nước Nam đi chăng nữa,
cũng chỉ là một chuyện rất thường tình mà thôi. Dù vậy, chúng ta
cũng đã ghi nhận ngạn ngữ: 'Trên Bộc dưới dâu' (Bộc thượng tang
gian), miêu tả chuyện sex của tiền nhân chủng Lạc Việt (bộ Trãi)
cư dân hai nước Trịnh và Vệ, bên bờ sông Bộc và trong ruộng dâu
- đã len vào ngạn ngữ bình dân nước Nam, ngày ấy đã lâu rồi. Rất
có khả năng do thị tộc nhà Lý, hoặc những người cùng tộc trước đó,
đã mang sang xứ Việt xưa.
Trong bài tới chúng ta sẽ kiểm chứng lại, ở chỗ có
khả năng, những nhận xét này qua góc nhìn ngôn ngữ.
Tháng 7, 2005
NN
Ghi Chú
[1] Một sai lầm kéo dài từ đời này sang đời kia:
Các chức Lạc Hầu & Lạc Tướng toàn là những tên bằng tiếng Tàu,
do người Tàu sáng tác để gọi những chức vụ địa phương dùng tiếng
địa phương. Người Việt cổ trước khi người Hán đến cai trị, hoàn
toàn không biết gì đến các chức vụ mang tên Lạc Hầu & Lạc Tướng
hay Lạc Vương hết. Cũng y như việc người Anh gọi 'cái bàn' là 'Table'.
Hai thứ chữ, cái bàn và table, là hai chữ thuộc hai thứ tiếng khác
nhau, chỉ cùng một sự vật.
[2] Cuộc kháng chiến của Việt tộc (chủng Âu) chống
quân Tần được ghi rõ trong bộ Hoài Nam Tử của Lưu An, cháu của Hán
Cao Tổ Lưu Bang. Phe Tần đầu tiên giết được đại tù trưởng xứ Tây
Âu tên Trạch Hu Tống. Sau đó dân Âu Việt chống trả bằng cách rút
vào rừng núi xử dụng 'chiến thuật du kích', và giết được tướng nhà
Tần là Đồ Thư.
[3] www.nationmaster.com/encyclopedia/Yue-(peoples)
[4] Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc Luật hiệu đính theo bản dịch của
Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học
Xã Hội Việt Nam được trình bày đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[5] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân
tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu, tái bản tại Hoa Kỳ.
[6] Keith Weller Taylor, tác giả quyển 'The Birth
of Vietnam' [10], trong bài phỏng vấn với đài BBC cho biết các vị
anh hùng dân tộc như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Hai Bà Trưng, Lê Lị
(Lợi), v.v. xuất thân từ những vùng có đông cư dân người Mường.
Theo dẫn ở [5], Nhượng Tống, dịch giả đầu tiên của 'Đại Việt Sử
Ký Toàn Thư' đã minh chứng Lê Lị (Lợi) mang gốc người Mường. Chúng
tôi có thể đồng ý với Taylor về những vị: Đinh Bộ Lĩnh, Hai Bà,
và Lê Lợi thuộc gốc Thái cổ (bà con gần với Mường). Nhất là Đinh
Bộ Lĩnh, con của Đinh Công Trứ, bởi theo Jeanne Cuisinier [7] họ
'Đinh-Công' là một họ rất phổ biến trong giới người Mường. Nhưng
'Lê Hoàn' tức Lê Đại Hành của nhà Tiền Lê, chúng tôi mạo muội không
cho rằng Lê Đại Hành mang chủng Thái cổ, và tương lai, nếu có dịp
sẽ trở lại vấn đề này.
[7] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mường, Géographie
et Sociologie humaine. Université de Paris. Một công trình rất đồ
sộ về người Mường, nhưng rất tiếc không có bản dịch ra chữ Việt.
Một điểm đáng để ý trình bày trong quyển sách này về các họ phổ
biến của người Mường, tức thuộc tộc Thái-cổ phần lớn đã hợp chủng
với tộc Lạc Việt, và dân Môn-Khmer ở vùng đồng bằng, tạo nên người
Kinh. Tóm tắt những họ thường gặp thuộc tộc Thái cổ gồm: Cao và
Cao-Viết ở khu Hoà Bình, Đồng Hới; Đinh Công, Đinh Thế và Đinh Văn
ở khắp các tỉnh, đặc biệt Hoà Bình; Bùi ở Thanh Hoá, Sơn Tây; Bạch
ở Hoà Bình, Ninh Bình; Ái ở Thanh Hoá; Hà và Hà Công, tại Phú Thọ,
Thanh Hoá, Hoà Bình; Hoàng ở Phú Thọ, Sơn Tây, Hoà Bình; Lê ở Thanh
Hoá (thí dụ: Lê Lị (Lợi)); Phạm Bá, Phạm Văn, ở Thanh Hoá, Vinh;
Quách, tại Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn Tây, Ninh Bình; Trần, ở Yên
Báy; Trịnh, ở Thanh Hoá; Vũ ở Vinh; Trương hay Tlương ở Vinh, Thanh
Hoá; và đặc biệt 'Nguyễn' ở khắp nơi. Họ Nguyễn tăng gia vùn vụt
sau khi Trần Thủ Độ đàn áp những người mang họ Lý, bắt buộc họ phải
đổi họ. Về sau họ Nguyễn lại gia tăng khi chúa Nguyễn bắt đầu hùng
cứ một cõi phương Nam. Hiên nay, trên toàn nước Việt Nam có đến
hơn 40% số người mang họ Nguyễn. Phía Bắc nhiều Nguyễn hơn phía
Nam. Họ Nguyễn cũng còn tồn tại ở Hoa Nam, đặc biệt khu Lưỡng Quảng,
Triều Châu, Phúc Kiến. Cũng có tại Thái Lan, dưới tên gọi 'Yuyen'.
[8] Người Hmong, còn gọi Miêu-Yao, ưa sống chung
với đám Bộc Việt tức người Hẹ cổ. Tại khu vực Giang Tây ngày nay,
có một nhóm người 'She' sống chung đụng và rất gần gũi với người
Hakka (Hẹ). Gần đến nỗi người She xài luôn tiếng nói hoặc nhiều
từ vựng của người Hakka, đưa đến nhiều lộn xộn, tranh cãi giữa các
nhà nhân chủng & ngôn ngữ học (xem [11]). Nhóm di tản sang Triều
Tiên thuộc rợ Tam Hàn, có 2 thành phần chủ lực lớn: Người Hmong
và Bộc Việt (Lạc Việt bộ Trãi).
[9] Randy J. LaPolla (2000) The role of migration
and language contact in the development of the Sino-Tibetan language
family. IN: Areal Diffusion and Genetic Inheritance: Case Studies
in Language Change. Ed. by R.M.W. Dixon & A.Y. Aikhenvald. Oxford
University Press
[10] Keith Weller Taylor (1983) The Birth of Vietnam.
University of California Press.
[11] Sagart, L. (2001) Gan, Hakka and the formation
of Chinese dialects. Centre de Recherches Linguistiques sur l'Asie
Orientale. Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales (UMR 8563
du CNRS). Paris, France.
[12] Tên thật của Lê Lợi là Lê Lị. Trước đó, 'lị'
利 mang nghĩa 'lợi' trong 'lợi nhuận', 'lợi tức', có phát âm rất
giống tiếng Hoa. Nhưng vì kị huý tên vua, dân bị bắt đọc tất cả
các từ mang âm 'lị' ra 'lợi'. Sau thời Lê Lợi, dân chúng quên mất
từ mang âm 'lị' và dùng 'Lợi' cho 'Lị'. Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tự nhiên
mất đi phát âm tên cúng cơm của mình (Lị), và tên thật bị thế bằng
tên kị húy, 'Lợi'.
[13] Theo [4], Hưng Đạo Đại Vương, nhà quân sự có
lẽ lỗi lạc bậc nhất của dân Việt, có vợ là một người bà con trong
họ. Bà vợ này ban đầu vua đã hưá gả cho một hoàng thân khác. Hưng
Đạo sau khi nghe tin người yêu sắp lấy chồng, tự nhiên đánh mất
bản đồ quân sự. Đang đêm đang hôm, ông xông qua khu vực phi quân
sự của người yêu, và rốt cuộc ông hoàng thân kia đành phải ôm một
mối hận tình.
[14] Hoà Bình hiện nay có hơn 65% dân người Mường.
Hoà Bình có một nền văn minh khá xưa (khoảng năm 5000 TCN) ở Đông
Nam Á.
[15] Nguyễn Hiến Lê (1997) Sử Trung Quốc. Nxb Văn
Hoá.
[16] Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược
có viết: “Khi đất Giao Châu còn gọi là Văn Lang hay là Âu Lạc thì
người bản xứ ăn ở thế nào, phong tục làm sao, nay cũng không có
di tích gì mà kê cứu ra cho rõ được. Có lẽ cũng tự hồ như Mường
hay là Mán ở mạn thượng du đất Bắc Việt bây giờ. Giả sử có đem vua
Hùng Vương họ Hồng Bàng hay An Dương Vương họ Thục mà sánh với mấy
người Quan Lang ở mạn thượng du thì dễ thường cũng không xa sự thực
là mấy.’
Nguồn: An
Việt Toàn Cầu
|