Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước Và Công Nghiệp Đá, Xưa Nhất Thế Giới

BS tiến sĩ Nguyển Thị Thanh

 

Nhà học giả Sauer Hoa-Kỳ đã viết trong quyển Ðồng-Quê:

"Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua 2 giai đoạn, mà giai đoạn đầu là giai đoạn của văn-hóa Hòa-Bình, lúa nước đã được trồng cùng một lúc với củ môn nước (khoai sọ) ".

 

Ðến nay tất cả các nhà khảo cổ học, sữ học Hoa-kỳ như các ông C. Sauwer, R. Somhein, Trương Quang Trực (Ông Trực là người Mỹ gốc Trung-hoa), ông Jorhman và học-giả Liên-Xô ông N. Vavilow đều công nhận:

"Ðông-Nam-Á mà chủ đạo là Việt-Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm sủa, tiên-tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy một nơi nào khác trên thế-giới."

 

Chúng ta hãy nghe mấy dòng sôi nổi của ông C.O. Sauer viết trong quyển Agricultural Origins and Dispersals - Xuất bản ở New York:

"Tôi đã chứng minh Ðông-Nam-Á là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn-hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ naỳ. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông-Nam-Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế-ygiới về kỷ thuật trồng trọt và cải biến cây cối bằng cách tái sinh sản thực vật ".

 

Trước đây người ta vẩn ca tụng địa điểm văn-minh tân thạch khí ở vùng Tây-Á Tiểu-Á và cho rằng đây là một xứ nông-nghiệp xưa nhất thế-giới. Vì đã có những niên đại C14 lên đến thiên niên kỷ thứ VI, thứ VII. Việc phát hiện ra nền nông-nghiệp tại Hòa-Bình cách đây trên 10.000 năm đã làm cho thế giới rung chuyển, chao động.

 

Như vậy trung tâm nông-nghiệp xưa nhất không còn là vùng Lưởng Hà mà là Ðông-Nam-Á mà chủ đạo là Việt-nam. Việt-Nam đóng vai trò quan trọng nhất vì nơi đây là điểm phát xuất chính.

 

Chúng ta hãy nghe lời bình luận xác đáng của ông W. G. SOLHEIM II đã viết từ năm 1967"Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên-cứu lại nhiều cứ liệu ở lục-địa Ðông-Nam-Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát giác ra rằng việc thuần-thục-hóa cây trồng đầu tiên trên thế-giới đã được dân-cư Hòa-Bình (Việt Nam) hoàn thành vào khoảng 10.000 năm trước TC.... "

"...Rằng văn-hóa Hòa-Bình là văn-hóa bản-địa không hề chịu ảnh-hưởng của bên ngoài, đưa tới văn-hóa Bắc-Sơn (Việt Nam)... "

 

"... Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông-Nam-Á có những văn-hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài láng đầu tiên của Châu-Á, nếu không nói là đầu tiên trên thế giới và đồ gốm đã được phát? minh...”

 

"...Rằng không phải là sự thuần hóa thựt vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi. Mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư-tuỡng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau nầy một số cây đã được truyền đến Ấn-Ðộ và Phi-Châu. Và Ðông-Nam-Á còn tiếp tục là một khu-vực tiền-tiến ở Viển-Ðông cho đến khi Trung-Quốc thay thế xung lực này vào nữa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr TC tức khoảng 1500 tr TC." (Nữa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr TC tức khoảng 1500 sau khi Mông-Cổ chiếm lục địa Trung-Hoa non 1500 năm.)

 

Như đã nói trên, Trung-quốc thừa hưỡng văn hóa nông nghiệp phát triển nhờ dân Bách Việt còn lại trên hoa lục. Chính nhờ sự phát triển của những sắc dân Bách Việt nầy mà Trung quốc rộng lớn có đủ tư cách thay thế xung lực phát triển nông nghiệp Ðông Nam Á vào khoảng năm 1500 tr TC. Như vậy chứng tỏ chính dân Bách Việt? tức Việt cổ dạy Tàu nông nghiệp chứ không phải ngược lại như Trần Trọng Kim đã viết trong Việt Nam Sữ Lược.

Chúng ta phải xúc động trước những lập luận rất vô tư, công bằng và rất khoa-học của Solheim II, cũng như rất xúc động trước nắm gạo bị cháy dở hóa thạch đã tìm thấy ở Ðồng-Ðậu Vỉnh-Phú có niên đại 5.500 năm trước TC tức cách đây 7.500 năm (C14). Nắm gạo cháy dở của thời phát trịển trồng lúa nước nầy cũng chứng minh cho chúng ta rằng lúa nước đã được trồng từ rất lâu không ai biết được trước lúc nắm gạo bị cháy như ông Sauer đã cho rằng lúa nước đi đôi với nghề đánh cá.

 

Những sự kiện trên đây đã được công bố lên thế-giới từ lâu. Với C.O.Sauer chẳng hạﮬ trong quyển "Agricultural Orgins and Dispersals, New-York- 1952 ", với Wilhelm G. Solheim trong quyển "Southeast Asia and the West. Science vol. 157, 1967, p.899 ". Ít nhất là trước thời gian mà ông Trần Văn Tốt xuất bản quyển ? Introduction à l?art? ancien du Việt-Nam ? bằng tiếng Pháp năm 1969. Chúng tôi nói ngay mặt ông Trần Văn Tốt rằng một trong các văn-hoá tiền sữ Việt Nam, văn hóa Hòa-Bình của Việt Nam không phải là đứa con nuôi, con vay mượn, con hoang, hay con mồ côi, nó chính là con đẻ của văn-hóa Sơn-vi kéo dài từ rất xa xưa có thể lên đến 500.000 năm đến 25.000 năm tr TC. Thường người ta lấy một niên đại tượng trưng gần nhầt là 30.000 năm làm mốc trung gian. Và để tiếp tục cuộc đời, văn hóa Hòa Bình đã dẩn đưa nhanh chóng đến một nền văn-hóa nổi danh thế giới của Việt Nam là văn-hóa Bắc-Sơn. Và từ văn-hóa Bắc-Sơn đến các nền văn hóa Quỳnh Văn, Bầu Tró, Hoa Lạc, Phùng Nguyên, Gò Mun, Ðồng Ðậu và cuối cùng là Ðông-Sơn.

 

Sự liên tục của các nền văn hóa luôn được duy trì bằng những chứng minh cụ thể. Thật vậy các nền văn-hóa Việt-Nam cổ ngày càng được tìm thấy là có những bước tiến mạnh mẽ, những nét phát triển huy-hoàng. Mãi cho đến thời Bắc-thuộc lần thứ I thì, văn hóa Ðông Sơn nước ta, bắt nguồn từ thời tiền sữ, bị ngưng hẳn.

 

Chính giặc Mông-Cổ là những người đã xâm lăng các nền văn hóa tiền sữ và sơ sữ Việt cổ từ trên đất Trung Nguyên cho đến Việt Nam. Họ lấy hết cả, vừa đất đai, vừa công trình, vừa công cụ, vừa con người, vừa những người thợ tài giỏi Việt cổ đem về Tàu để phát triển nên nền văn hoá siêu-việt của Trung-Hoa sau này.

 

Ðồng thời cướp lấy, họ phá hoại, họ cấm cản mọi sự phát triển văn hóa địa phương của kẻ bị trị : trong suốt non 1000 năm đô hộ, họ đã cố tâm cướp đoạt, hủy hoại, cấm đoán, dìm dập và dấu diếm tất cả mọi vết tích, mọi hình thức phát triển của văn-hóa lịch-sữ Việt-Nam.? Lòng đất đã được phơi bày mọi sự thât. Chính sách vở và các học giả Trung Hoa hiên-đại cũng đã nhìn nhận những sự thật trên.

 

Văn-hóa Việt-Nam bị tê liệt, bị biến mất do xâm lăng và cướp giựt của Trung-quốc. 1000 năm quá dài, con cháu không được truyền đạt, nên dần dà người Việt-nam tự cho là mình đã được người Tàu khai hóa như các sữ gia Trần Trọng Kim và Ðào duy Anh nói trên, thật là hổ thẹn với tiền nhân thay!!

 

Từ rất sớm, năm 1932, tại Ðại Hội Nghị Quốc tế của các nhà khảo cổ tiền sử học Viển đông, vấn đề văn-hóa Hòa-Bình nước ta đã được xác nhận một cách chính đáng. Vấn đề thự tiển là nền văn hóa Hòa-Bình có mặt trên toàn thế giới. Nhưng điều quan trọng ở đây là nền văn-hóa nầy đã được tìm thấy ở Việt-Nam sớm hơn đâu cả, nghĩa là có trước những nơi khá trên thế giới và tìm thấy ở Hòa-Bình một làng nhỏ Việt Nam, ở vào một thời gian xa xưa nhất (cách đây trên 16.000) đối với các nơi khác trên thế-giới.

 

Ðiều nầy có nghĩa là người Việt cổ tại Hòa-Bình Việt Nam đã có làm nên nền văn-hóa Hòa-Bình trước nhất trong nhân loại. Nói một cách khác, người Hòa-Bình trên đất Việt-Nam đã có một thời văn minh xưa nhất thế-giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới minh chứng và xác quyết. Thế nên khảo cổ học thế-giới đã lấy tên của một làng quê Hoà-Bình Bắc-Việt đặt tên cho nền văn-hóa nầy gọi là văn-hóa Hòa-Bình cho toàn thế giới (xem Encyclopédie d'Archéologie).

 

Thế là Hòa Bình tại Việt-nam đã được coi là trung tâm văn minh tiền sữ đầu tiên của nhân loại về nông nghiệp lúa nước và về công nghiệp đá. Chẳng những nền văn minh tiền sữ nầy ngang hàng với Trung Mỹ và miền Lưỡng Hà về phương diện kỷ thuật. Một điểm rất đáng hảnh diện là "Hòa Bình đã được thế giới xác nhận là trung tâm phát minh nông nghiệp và sãn xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. ".? Trung tâm nông nghiêp cùng chăn nuôi đầu tiên trên thế giới tại Hoà Bình Việt Nam đã có trước vùng Lưỡng Hà đến 3000 năm. Như vậy thì còn điểm nào nghi ngờ rằng nơi nào "nhập cảng" nơi nào!.

 

Hòa-Bình, trung tâm văn-minh nông nghiệp đầu tiên của nhân loại trên thế-giới, để rồi từ đó nền văn-minh trên được lan tràn khắp vùng Ðông-Nam-Á: Trung-Quốc, Nhựt-Bản, Mả-Lai, Thái-Lan, Ấn-Ðộ v v..? Mà ở Hòa-Bình là nơi sầm uất, giàu thinh hơn đâu hết và đã có vị vua Viêm Ðế (vua nóng tượng trưng cho mùa trồng trọt), Thần-nông là người đã nghiên cứu dạy nghề nông và được tôn sùng như một vị vua, và có bà Nữ-Oa là người đã nghiên cứu thời tiết nắng mưa, cùng các ngày lể, ngày Tết phù hợp với mùa màng và sự nghỉ ngơi của người nông dân sau khi mùa đã thâu hoạch. Bà Nữ Oa đã nghiên cứu thời tiết lúc gieo, lúc cấy, lúc gặt, mà dạy dân làm ruộng không thất mùa. Vì thế dân gian coi bà Nữ-Oa như một vị thần-linh có khả năng " lấy đá vá trời ".

 

Văn hóa tiền sữ nước ta đã thu hút thế giới vào văn-hóa Hòa-Bình. Một trung tâm kinh tế sản xuất đầu tiên trên thế giới. Một trung tâm kỹ nghệ đá đầu tiên của nhân loại, trước rất xa văn hóa Lưỡng-Hà và Trung-Mỷ (Mexico hiện tại) đến cả 3 thiên niên kỷ. Bước tiến này nhảy vọt mạnh với văn hóa Hòa Bình, có lẻ một phần cũng nhờ ở biến cố thiên-nhiên là trận Ðại Hồng Thủy thế giới đã xẩy ra thời văn hóa Hòa Bình (sẽ nói rõ sau). Nói chung đó chỉ là một suy luận, nhưng thật chất là đã có sự phát triển liên tục và rõ ràng từ văn hóa Sơn-vi đến Hòa-Bình.

 

Tiềm lực của văn-hóa Hòa-Bình là càng ngày càng đưa con người thích nghi nhu cầu sự sống với một cố gắng như là một cuộc cách mạng. Ðó là cuộc cách-mạng sinh-sống bằng kỷ-nghệ sãn xuất công-cụ để bán đi khắp nơi cho thợ đá. Và dụng-cụ nông nghiệp đá cho người dùng. Với nhu cầu sãn xuất nông nghiệp mới nầy, tất nhiên kỷ-nghệ đồ đá phải phát triển. Văn hóa Hòa Bình là văn hóa đá giữa, nên nó có một ảnh hưởng sâu rộng về nghệ thuật đá mới. Vì chính nơi đây, Hòa Bình, trên đất nước Việt cổ, là điểm phát xuất ra nhũng nền văn hoá thuộc nền cách mạng đá mới của các nước Trung-quốc, Nhật-Bản, Philippine, Indonêsia, Mã-đảo và cả miền Ðịa Trung-Hải vv. Chính vì vậy, Việt-Nam chính là trung tâm cách mạng sản-xuất đá mới đã được thế giới khẳng định.

 

Có rất nhiều tầng văn hóa của các nước trên thế giới thuộc văn hóa Hòa-bình nhưng trẻ trung hơn, tức ra đời sau hơn nhiều, so với Hòa Bình, đã được nghiên cứu đến và đều được qui về văn hóa Hòa Bình. Thế giới đã khẵng định rằng trong những nền văn hóa ấy không hề có thuật chế tạo đá sỏi như ở Việt Nam.

 

Thời gian, thời tiết và mưa nắng đã làm tan vở rồi bào mòn và tẩy sạch những tãng đá lớn. Hạt nhân đá còn lại có độ cứn rất cao gọi là đá-sỏi hay đá-cuội. Chế tạo những hòn đá cứng nầy rất khó khăn. Nhưng người ta cần những rìu đá, búa đá, dao đá bằng đá-sỏi mới có thể sãn xuất ra những rìu, búa, dao, cày đá bằng đá tãnng mềm hơn cho người nông dân.?

Ghè đẻo trên đá sỏi cứng rất khó, nhưng rất cần thiết. Vì những công cụ bằng đá sỏi cứng dùng để chế ra các công cụ đá tảng dễ dành hơn. Chỉ ở Hòa Bình mới có nghệ thuật chế tác đá sỏi cứng, với số lượng rất cao, dùng để bán đi khắp nơi cho thợ đá chế tạo những dụng cụ bằng đá.

Thợ đá dùng công cụ đá sỏi cứng của Hoà Bình mà chế tác các dụng cụ nông nghiệp đá tảng mềm hơn đá sỏi. Khắp nơi trên địc cầu có rất nhiều học trò về chế tạo đá của các bậc thầy đá Hoà Bình Việt Nam. Ðiều nầy chứng minh rõ ràng là chỉ trong nền văn-hóa Hòa-bình tại Việt-nam mới có việc sãn xuất công cụ đá cứng cho người thợ đá xữ dụng như là dụng cụ chế tạo đá.

 

Vậy còn ai hoài nghi Hoà-bình không phải là trung-tâm đẻ ra nghiệp vụ đá cho nhiều quốc-gia trên thế-giới. Văn-hóa Hòa-Bình là một nền Văn-hóa cách mạng ra đời trước văn-hóa Bắc-Sơn, và như trên đã nói, lẻ dỉ nhiên trước Ðông-Sơn rất lâu, ít nhất đến cả từ 6.000 đến 8.000 năm.

 

Và chính Hòa Bình là mẹ đẻ ra nền văn hóa nổi danh Bắc Sơn và sau nầy là văn hóa Ðông Sơn rực rở huy hoàng. Văn hóa Ðông Sơn kéo dài cho tới khi Tàu qua chiếm nước ta lần đầu tiên thì ngừng hẳn. Ðiều nầy chứng minh rõ ràng Tàu đã đến cướp mất, phá hoại, cấm chỉ sự phát triển văn hóa của nước Việt cổ. Rõ ràng cũng nhờ cướp bóc lỏi cốt văn hoá Bách Việt cộng với sự giàu mạnh của cải và quân lực mà văn hóa Trung Hoa tiến nhanh sau nầy.

 

Trưng Vương là người Việt là một người đàn bà đã dành được độc lập cho Việt Nam đầu tiên trong thời gian rất ngắn ngủi (xem hình theo sữ Tàu).? Tuy nhiên con số 3 năm là do Tàu xuyên tạc và buộc dân Việt phải nghe theo, ai nói khác là bị tội. Sữ gia Trần Trọng Kim cứ dựa theo đó mà sao chép lại mà thôi, như trường hợp của Trần Văn Tốt? nói trên.

 

Sự thật là nguyên bà Trần Thi Ðoan là một nữ tướng, vợ của quan lạc tướng Trương Man Thiện ở đất? Mê-linh, giòng dỏi Hùng Vương. Vợ chồng ông Man Thiện, song thân 2 chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị (tên thật là Trương Nhất và Trương Nhì. Trước mắt chúng ta nhất nhì là chữ Hán. Nhưng tên hai bà Trưng cho chúng ta thấy rất có thể chữ hán có nguồn gốc trong chữ bách việt, rồi sau đó trở lại chữ Việt có nguồn? trong chữ Hán. Chẵng khác nào chữ Anh có nguồn gốc trong chữ Pháp hay La-Tinh, rồi chữ Pháp và La-Tinh lại có nguồn gốc từ chữ Anh ngày nay) đặt bản doanh ở đất Phong Châu nơi mà văn hóa Ðông Sơn vẩn âm thầm tồn tại, cùng hai con gái nổi lên chống Tàu từ? nhiều chục năm về trước. Chồng mất sớm, bà Man Thiện cùng 2 con thay quyền (xem hình chụp sách Hậu Hán Thư).

 

Nguyên từ trước gia đình bà Man Thiện Trần Thị Ðoan có mối thù truyền kiếp với gia đình Ðặng Thi Sách là người rất hùng dũng, giòng dỏi Sơn Tinh ở làng Chu diên, giòng giỏi nầy cũng chống Tàu. Bà Man Thiện bèn tìm kế cởi bỏ hận thù để liên minh chống giặc. Bà đặt con gái trưỡng là Trưng Trắc làm thống soái. Rồi cho Trưng Trắc kết duyên với Thi Sách để cùng liên minh. Khi lâm trận Thi Sách bị giết, Trưng Trắc một mình phải thống lảnh luôn? 2 đạo quân của mình và của chồng nên thanh thế bà rất mạnh, nơi nơi đều lần lượt đến hợp tác.

 

Vì thế nếu chúng ta cứ gọi Trưng Trắc đánh Tàu là vì thù chồng là sai lầm trầm trọng và oan cho một vị nữ anh hùng Việt Nam. Bà Trưng cùng mẹ chống Tàu từ thuở còn niên thiếu vào những năm 20,22 sau TC. Ðến năm 30 sau TC, tuy còn trẻ bà qui tụ được nhiều anh hùng nam nữ. Trong thời gian dấy nghiệp, và trong phạm vi cai trị của bà Man Thiện Trần Thị đoan, văn hóa Ðông Sơn đã có phần phục hưng khá mạnh. Chính dân quân của bà Man Thiện, rồi đến sau là của Trưng Vương tự rèn lấy gươm dáo, tự đúc lấy trống đồng mà dùng và đem tiếp tế cho những bộ tộc Bách Việt khác theo bà. Ðó cũng là lý do khiến các bộ tộc Bách Việt đều kính nể và qui về một mối với Trưng Vương.

 

Nền văn hóa Ðông Sơn dưới thời Trưng vương tuy âm thầm và ngắn ngủi nhưng tính ra có đến trên 100 năm, vì nó tiềm ẩn trong rừng sâu núi cao. Nền văn hóa nầy được gọi là nền văn hóa Ðông-sơn-phục-hưng. Ðiều nầy cũng chứng minh trong mọi hoàn cảnh tiềm lực nghệ thuật của người Bách Việt mang một tính chất bất khuất, nhân gian và liên tục. Âu đây cũng là đức tính mà Trưng Vương đã truyền lại cho con cháu vùng Hà Tĩnh Nghệ An và sau nầy truyền đến Quãng Bình, Quãng Trị Thừa Thiên vv. vậy.

 

Về sau lúc có độc lập dài lâu, văn hóa thời Lý, Trần cũng đã dần dần chổi dậy, nhưng so với văn hóa Ðông Sơn thì còn kém xa. Như thế thì thấy nạn xâm lăng tai hại cho văn hóa dân tộc biết bao!

 

Thật vậy, nhờ vào khảo cổ học mà mọi bí ẩn của tiền sữ đã được làm sáng tỏ. Và thế giới đã công nhận Việt Nam, tiêu biểu là văn hóa Hoà Bình mà tên tuổi đã được "thế-giới-hóa" (Encyclopédie d'Archéologie), đã được thế giới xác nhận là nơi có một nền nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới.

 

Có thể vì văn hóa Hòa Bình nằm vào thời điểm của trận Ðại-hồng-thủy cách đây từ 17.000 năm đến 6.000. Cuộc Ðại Hồng Thủy nầy bao gồm cả thế giới, theo đó chắc nó ăn khớp và trùng hợp với cuộc Ðại Hồng Thủy đã được diễn tả trong Cựu Kinh Ước của đạo Do Thái và Ðạo Công Giáo. Vì vậy theo khoa học, rỏ ràng trước và sau Ðại Hồng Thủy loài người đã có mặt thậm lâu trên miền Ðông Nam Á, mà quan trọng là tại Việt Nam.

Sau vụ đại hồng thủy nầy, nơi trên thế giới nguy hại nhiều nhất, chính là Lục Ðịa Ðông Nam Á. Vì một phần đất lớn của miền nầy đã sụp xuống biễn, mở rộng thêm Thái-bình-dương. Xét theo thềm lục địa Ðông Nam Á, các nhà khảo cổ nhận thấy Ðại Hồng Thủy lên và lui rất chậm chạp, vì thế không xẩy ra tai nạn chết ngừơi tập thể.

 

Và như vậy số người đã sống trên bình nguyên Ðông Nam Á củ mà nay là biển đã di tản nguyên vẹn ra khắp các lục địa Ðông Nam Á, và Úc Châu còn lại. Có lẻ đó là lý do chính của sự hổn hợp nhiều chủng tộc trên miền Ðông Nam Á.

 

Phần đất còn sót lại sau Ðại-hồng-thủy trở nên quá ít đối với số dân sống bằng hái lượm trước kia. Do đó vấn đề cần thiết cho sự sinh sống của người Ðông Nam Á mà trong đó người Bách Việt cổ là căn bản là đi tìm thức? ăn. Người Bách Việt cổ đã di tản lên chốn cao nguyên tức là lục địa Bách Việt cổ mà nay là miền Nam Trung Hoa và đồng bằng Bắc Việt và thẵng đến miền duyên hải Trung Việt (vùng Quãng Trị Quãng-Hóa tức là Thừa-Thiên).

 

Người Việt cổ bắt buộc phải nghỉ đến cách làm tăng số lượng thực phẩm cần thiết để sinh sống mà trước đây họ chỉ cần tìm thấy dễ dàng trong thiên-nhiên. Ðây có lẻ là nguyên nhân phát triển nghề nông của các chủng người đã di tản đến Ðông Nam Á mà chủ yếu là Việt Nam cổ.

 

Trên đây tôi đã dẩn những cứ liệu lịch sữ về văn hóa Hòa Bình với mục đích xóa tan những luận điệu và nhận xét sai lạc của thực dân Tây và Tàu; đồng thời cũng để trình bày một cách tương đối sơ lượt, một khía cạnh nào đó sự nghiệp lớn lao của tổ tiên chúng ta: hiện tại thế giới đã công nhận rằng nước Việt Nam chúng ta đã có một nền nông nghiệp lúa nước và một nền công nghiệp đá đã từng phát triển rực rở và xưa nhất thế giới.

 

Vậy mà bao nhiêu trăm năm nay đất nước chúng ta phải trãi qua biết bao gian truân, đói khó, xâm lăng, huynh đệ tương tàn. Ðến nổi con cháu mờ mịt cả mắt mủi không còn thấy gì về tiền nhân, không còn biết gì đến công lao tổ tiên. Ðồng thời con cháu cũng đã để ngoại bang hiểu lầm về sự nghiệp của các Vị. Vậy mà hiện tại người dân Việt phải đói khổ, phải nghèo nàn, phải đau thương, phải chậm tiến một cách man rợ. Thật là một điều vô cùng tủi nhục cho thân phận con người Việt Nam.

 

Thôi thì, tục ngữ ta vốn có câu "Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó ba đời". Ngày xưa vinh thì ngày nay nhục vậy. Ðối với Trung Hoa hay ít lắm là với Nhật Bãn, Ðại Hàn, Thái Lan, Ðài Loan... Việt Nam tệ lắm là ở địa vị ngang hàng, chúng ta trở thành thua kém xa vời thì nổi nhục ấy quả nhiên là lớn lao. Chúng ta lại phải di tản sống lưu vong trong nhiều quốc gia có những nền văn minh khoa học và xã hội vượt bực.

 

Vậy, chúng ta chỉ còn cầu mong hết nhục ắc sẽ có ngày vinh quang. Chúng ta hãy đầy lòng tin tưỡng cho ngày mai. Sau cơn sáng trời lại mưa, thì ắc sau cơn mưa trời lại sáng. Chúng ta phải tin tưỡng như vậy. Chúng ta sẽ không tự mãn hả hê trước những thành tựu về học hành thi cử hay nghề nghiệp của con em trên đất khách. Vì đó chỉ là chuyện đương nhiên, mà trái lại chúng ta phải tự kiểm điểm những thiếu sót, những mất mát lớn lao cho thế hệ trẻ về phương diện văn hóa dân tộc.

 

Chúng ta phải có bổn phận vun trồng mầm móng văn hóa Bách Việt nước nhà lên lòng non dân tộc hãi ngoại. Ðó tất nhiên phải là điều khó khăn, chúng ta có thể bỏ công lao mồ hôi nước mắt, nghị lực thời gian làm việc hữu ích cho hậu duệ chúng ta; hơn làngày đêm ganh tương tị hiềm, kình địch, châm biến, chia rẽ, đua nhau bịa đặt bôi nhọ kẻ nào có gì hơn mình chút đỉnh. Những hành đông đó chẵng những đãbiến dần dân lưu vong thành một sắc dân mất gốc vô văn hóa, vô tổ tiên, mà còn biến một số người Việt đông đúc kém cỏi về kiến thức văn hóa Việt Nam (mặc dầu có khoa bản, bằng cấp ngoại quốc cao, hay tiền bạc nhiều) lưu vong thành man di đúng như suy luận của người Trung-Hoa.

 

Các các dân tộc khác như Trung-hoa, Nhật-bãn, Do-Thái...; họ mang tinh thần đoàn kết với nhau bảo tồn và xây dựng lại nền văn hóa dân tộc đi tiền phong khó khăn vất vả cho đến đạt mục đích thiết thực và họ đã thành công huy hoàng. Các dân tộc ấy là những tấm gương sáng giúp chúng ta trong nổ lực làm phát triển văn minh tinh thần tức văn hóa truyền thống của tổ tiên Việt.

 

Niềm tin sẽ trở nên hiện thực hay không trong một ngày mai hậu gần gủi cũng do ở những hành động sâu ẩn trong mối ưu tư văn hóa dân tộc của mổi một người trong chúng ta.? Ðể cầu chúc cho bước tiến văn hóa ở tương lai gần của dân Việt , chúng tôi xin kính hiếu chút tình cảm lên trước bao công trình của tổ tiên chúng ta suốt từ thời tiền sữ đến nay. Chúng tôi xin mượn câu nói của nhà văn hào Jean Valery:?

 

"Hởi tâm hồn cao cả, đã đến lúc mà Người cần được mặc

chiếc áo xinh đẹp xứng đáng với cơ thể của người." ?

 

anviettoancau.net