Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Lúa Nước Và Công Nghiệp Đá, Xưa Nhất Thế Giới

BS tiến sĩ Nguyển Thị Thanh

 

Người Hán gốc Mông Cổ cai trị Trung-hoa lâu đời, và đô hộ Việt Nam non 1000 năm, nên lòng người man di Trung-hoa gốc Bách Việt cũng như lòng người Việt Nam dần lãng quên gốc gác của mình mà tưỡng rằng văn minh nông nghiệp là do Tàu Mông cổ (Hán) khai hóa !

 

Ðối với dân tộc Trung-quốc thời bấy giờ, người Hán có nguồn gốc Mông Cổ là lớp quí tộc chủ nhân, lớp lãnh đạo quyền uy giàu có. Miêu tộc tuy đông, làm nghề nông bị liệt vào hàng bần cùng, nô lệ, bị coi làman di.

 

Trở lại Việt sữ, trong 2 bộ sữ xưa của Việt Nam là bộ Ðại Việt Sữ Ký do 2 sữ gia Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn dưới thời nhà Trần, và bộ Sữ Ký Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời nhà Lê đã ghi: "Trước họ Hồng Bàng (Kinh Dương vương) còn nhiều đời vua nhưng không kể đến..(đó là các vua Phục-HY, Ðế Viêm, Ðế Minh, Ðế Nghi vv.", và rằng " ...từ họ Hồng-Bàng (2879 tr. TC) dân ta cầy cấy mà ăn, đào giếng mà uống..." rằng "Vua Kinh Dương Vương nối nghiệp con cháu Thần nông, lấy con gái vua Ðộng Ðình, tỏ rỏ đạo vợ chồng, nắm ngay gốc văn hóa, lấy đức mà cảm hóa dân...đó chẵng phải là phong tục thái cổ từ Viêm Ðế ư ?." Có lẻ Trần Trọng Kim và Ðào Duy Anh cho là tưỡng tượng nên không tin vào đoạn sữ nầy.

 

Trong lúc đó sữ gia Trần Trọng Kim viết, họ Hồng Bàng có vua Kinh Dương Vương (2879-258) là dòng dỏi Vua Thần Nông có quốc hiệu là Xích Quĩ, có con là Lạc-Long-Quân nối ngôi ( 2.804 năm tr. TC). Ðã gọi là con cháu vua Thần nông thì tại sao không rành về nghề nông mà phải đi nhờ dân gốc Mông Cổ dạy!

 

Như thế, rõ ràng 2 sữ gia Trần Trọng Kim và Ðào duy Anh chỉ biết dựa trên sữ của một quốc gia đã xâm lăng nước ta lâu đời và luôn có khuynh hướng chiếm, phá hoại hay xuyên tạc văn hóa tiền sữ và lịch sữ của dân tộc Bách việt. Tuy nhiên nhờ vào di vật của tổ tiên còn để lại trong lòng đất, các học giả khảo cổ học ngoại quốc và Việt Nam đã chứng minh cho chúng ta và thế giới ngày càng thấy rõ sự thật, rằng chính dân Bách Việt nông nghiệp Bắc Việt đã ảnh hưỡng giáo dục lễ nghĩa, nông nghiệp và công nghiệp cho khắp lục địa Nam-Á trước khi Mông Cổ tới nhiều nghìn năm (sẽ chứng minh rõ sự kiện nầy)

 

Ðối với Bách-Việt thì ta có thể nói rằng khi dân du mục Mông cổ đánh liên minh Xích-Quỉ của Ðế Lai - Lạc Long Quân mà chiếm bình nguyên sông Hoàng Hà có thể coi đó là Bắc xâm lược lần thứ I (3000 năm tr.TC). Lúc Tần Thủy Hoàng chiếm nước Việt Âu Lạc của Thục An dương vương là Bắc thuộc lần thứ II (246-206 tr TC). Lúc nhà Hán dứt nước Nam-Việt của họ Triệu là Bắc thuộc lần thứ III. Nhà Ðông Hán đô hộ nước Lĩnh-Nam của Trưng-Vương là Bắc thuộc lần thứ IV. Những tài liệu nầy, kể cả tên nước Xích Quỉ cũng đều được nêu ra trong tài liệu viết sữ của các sữ gia nói trên, riêng về ranh giới thì lại càng rất đúng.

 

"Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú tại Giao-Chỉ và Cửu-chân (2 quận lớn nhất được coi là kinh đô của Việt Nam cổ), dạy dân điều lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng, dùng cày bừa mà cày cấy ruộng.....".? Qua những tài liệu trên làm sao tin được sự kiện lịch sữ nầy chứ ? . Chúng ta hãy nghe những câu nói của Ðức Khổng Tử sau đây.

 

Khi một môn đồ suôi Nam đến đất Việt, xin Ðức Khổng Tử chỉ dạy, ngài nói "...người Bách Việt miền nam (phía nam Dương Tử Giang) có lối sống, tiếng nói, luật lệ, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng...", ...? "...dân Bách-Việt chuyên? làm ruộng lúa mà ăn chứ không như chúng ta trồng kê và lúa? mì. Họ uống nước bằng lá cây hái trong rừng gọi là trà."

Một lần khác Ðức Khổng Tử? xác nhận : "Những đạo lý?ài) viết ra điều là những điều đã có sẵn trong dân gian (dân chúng gốc Bách-Việt) ". Chính những đạo lý đó Mông Cổ hoàn toàn không có vì với Mông-Cổ chỉ có đạo lý củ sức mạnh. Vì thế Ðức Khổng Tử mới lấy đạo lý từ dân gian, viết ra để dạy cho vua quan là giòng giỏi Hán tộc Mông Cổ.

 

Ðức Khổng Tử còn nói rằng : "Dân Bách Việt rất thích ca múa, vừa làm việc vừa ca vè, hát đối, nói vận (vè, thơ, ca dao), lấy lá cây mang vào người, trá hình múa hát..." . Và Ðức Khổng tử cho rằng: "xướng ca vô loại, chẵng nên ca múa như dân Nam Man". Nên trong thời gian đô hộ quan Tàu cấm dân ta múa hár trong những ngày lễ lạc. Nhưng hát-bội hay hát-bộ (vừa hát vừa làm bộ điệu) gốc Bách Việt mà Tàu rất thích nên họ phát triển hát bộ (sau nầy lại truyền qua cho Việt Nam phương thức hát bộ mới, được chế biến thêm. Miền Nam Việt Nam lại cải biến thêm thành Cải Lương, Tàu lại chế biến thành cãi lương Hồ-Quãng).

 

Sách Hậu Hán Thư quyển 14 viết lại "Dân Giao-chỉ (thủ đô của Bách Việt phương nam) biết nhiều thủ công nghiệp, luyện đúc đồng và sắt vv..".? Sách Cổ Kim Ðồ Thư, Thảo Mộc Ðiếm của Trung-hoa chép: "Mã viện tâu vua Tàu, Giao-chỉ ép mía làm đường phèn: Giao chỉ có thứ cây mía ngọt, đem ép lấy nước rồi làm đường phèn.". "Giao chỉ làm giấy mật hương: giấy mật hương làm bằng lá và vỏ cây mật hương trồng ở Giao-chỉ, giấy mềm, giai và thơm, ngâm nước không bở không nát".

 

Vậy mà trong quyễn ART DE LA CHINE của ông Jean Buhot "Les Éditions du Chène, Paris" xuất bản tháng Tư năm 1951, tác giả đã viết "Le papier ayant inventé par la Chine dès la dynastie de Hán probablement, on peut croire qu?il connaissent depuis la même époque deux procédés : l?estampage et l?impression. " "Giấy đã được Tàu phát minh ra từ thời nhà Hán, chắc như vậy, và người ta có thể tin rằng cũng vào thời ấy người Tàu đã biết 2 kỹ thuật : rập khuôn bằng tay và in ấn ..". ?Xem như vậy thì thấy những sự hiểu biết của người Âu Châu về Trung-Hoa và Việt Nam lệch lạc và bất công biết bao nhiêu.

 

Các sách cổ khác của Trung quốc như Giao-Châu Ký, Tam Ðô Phủ, Ngô Lục Ðịc Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng vv. đều chép đại lượt rằng : "Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà mà uống...";... "...họ biết uống nước bằng lổ mủi...";... "...nuôi tằm mà dệt vải..."; "...dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng phơi khô làm thức ăn quí, dùng làm quà quí để đi hỏi vợ...";... "...dùng đá màu làm men gốm...";. ".dùng mu rùa mà bói việc tương lai.";. ".họ dùng một khúc tre dài chừng 1 thước hơn, một dầu có trụ cao làm tay cầm, có giây buộc vào trụ lại đằng kia mà làm đàn gọi là độc huyền cầm.".... "...họ đem tính tình các con vật mà so sánh với ngươời, rồi họ truyền tụng rằng ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba trời sinh con cọp ...(chuyện thần thoại của người Dao : gốc tích của 12 con giáp của tử vi ngày nay)". "Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (tức thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt? lấy máu để trị bệnh (lễ giác bầu), lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh...."; ... ". Họ rất quí các loài chim, biết tập chim biết nói, ... họ cónuôi nhiều chim trỉ sống trên núi rất đẹp (mà sau nầy Tàu gọi là phụng hoàng)". Sữ Tàu kể rằng vào thời nhà Châu bên Tàu dân Bách Việt quận Việt Thướng đem tặng vua nhà Châu cặp chim trĩ, sau đó nhờ Tàu dùng xe chỉ nam của Mông Cổ chỉ đường về.

 

Những ghi chép thường có tính cách kỳ thị là man di. Nhưng những chuyện huyền thoại cổ Man Di như chuyện ông Bàng Cổ gốc người Dao (xem Bàn Cổ của Nguyễn Văn Diễn), chuyện bà Nữ Oabiết "đội đá vá trời" tức có kinh nghiệm về thời tiết mưa gió, dạy dân theo thời tiết mà trồng trọt, Thần Nông dạy dân làm ruộng, Viêm đế (vua xứ nóng Bách Việt) thì dân Mông Cổ chiếm lấy làm của riêng. Thật ra lúc đầu người Hán không quan tâm những câu chuện có vẻ hoang đường của dân Bách-Việt. Nhưng khi họ hiểu ý nghĩa triết lý sâu xa của những câu chuyện hoang đường về các Vị, thì ho ép ngay câu chuyện và? nhận ngay các Vị có gốc Bách Việt ấy làm tổ tiên của họ. Họ cũng có lý một phần, vì dân Miêu tộ⣠Trung-hoa là hậu duệ các Vị. Nhưng họ phải hiểu rằng dân Việt Nam mới là con cháu đính thị của các Vị.

 

Tuy người Tàu vẩn biết tổ tiên của người Hán có nguồn gốc Mông-Cổ có con vật tổ? là cọp trắng, với nhà truyền thống cổ là nhà gốc du mục hình tròn. (Les premières civilisations LA CHINE ANCIENNE, trang 28-29, của ông William Watson xuất bản năm 1969 tại Grande Bretagne) (xem hình của Bs Thanh vẻ lại dựa theo hình nhà khảo cổ của ông William Watson). Trong lúc đó nhà cổ của Bách Việt là nhà sàn hình chữ nhật làm bằng tranh và tre cong cho chắc chắn, dần dà sinh ra mái cong. (xem hình vẻ của Bs Nguyễn Thị Thanh, phỏng theo loại nhà minh khí {nhà chôn theo người chết} bằng đất nung thời Hùng Vương tìm thấy trong văn hóa Ðông-Sơn 2.800 ans tr T-C). Ngày nay thế giới và cả người Việt Nam cũng đều lầm tưỡng rằng con rồng (chỉ là hiện thân của con cá sấu) con chim phụng (làhiện thân của loài chim trỉ) vật tổ của Trung-Hoa, và mái nhà cong là văn hóa cổ truyền của họ luôn. Chẵng qua đó là hiểu lầm. Ngày nay nhờ khảo cổ học mới có thế chứng minh được sự thật.

 

Dầu sao thì cũng nhờ vào ảnh hưởng Bách Việt mà Trung quốc phát triển về mọi mặt văn hóa sau này và cả Nhật-bãn và Ðại-Hàn cũng nhờ vào ảnh hưỡng Bách-Việt qua Trung-Hoa. Trong lúc đó thế giới đặt biệt là người Pháp cứ cho là Việt Nam bắt chước Tàu (trong quyễn LES POTERIES ET PORCELAINES CHINOISES tác giả là bà Daisy LION-GOLDSCHMIDT đã cho rằng Annam bắt chước gốm Hoa-lam của Tàu (trang 4), trong khi chính Việt Nam có gốm trước Tàu và thợ gốm giỏi Việt bi Tàu bắt về tất hết cả, và gốm hoa lam Việt có trước Tàu và hoàn toàn khác Tàu),? và ngay cả dân Việt Nam cũng lầm lẩn và lẩm cẩm cho rằng văn hóaViệt Nam nhờ ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa.

 

Tệ lậu hơn nữa, hiện nay có nhiều nhà khoa bản Việt Nam còn không biết văn hóa là gì, còn cho là dân mình không có văn hóa nữakia, hoặc có chăng chỉ là cái "búi tó trên đầu" (bài "Bảo tồn Văn-hóa" ?! của nhà đại khoa bảng bác-sĩ giáo-sư? Ðại-học danh tiếng Mỹ kiêm nhà văn Vủ Ðình-Minh biệt hiệu là Mai-Kim-Ngọc đăng trên nhiều báo đặc biệt là báo Y-giới: bài viết có tính cách? mĩa mai Việt Nam không có văn hóa gì để mà bảo tồn hết trơn hết trọi, hoặc giả có chăng chỉ có cái "búi tó" của ông nội nhà khoa bảng MKN).

 

Trở lại nông nghiệpcủa dân Bách Việt. Làm ruộng cần công cụ. Nền nông nghiệp sinh công nghiệp. Công nghiệp sãn xuất côﮧ cụ cho thợ đá, kỹ nghệ đá, cho thợ đồng, kỹ nghệ? đồng và các thứ tiểu công nghiệp khác như nghề nuôi tằm dệt vải, làm đồ gốm của nước ta từ trước thời các vua Hùng cho đến thời Bắc thuộc lần đầu tiên (111 tr TC)?273;ã phát triển xa hơn Tàu và không hề nhờ phương bắc giáo huấn.

 

Trái lại các thợ giỏi và kỷ thuật cao của nước ta bị sức mạnh cướp lấy để phát triển, dành lấy làm văn hóa của mình. Dân việt cổ bị cấm tuyệt mọi sinh hoạt kỹ nghệ bản địa công khai. Vì vậy những nền văn hóa thời tiền và sơ sữ Việt Nam bị ngưng hẵn từ thời Bắc thuộc lần đầu. Thế giới cũng hiểu rằng Trung Quốc đã ngăn chặn những nền văn minh tiền sữ Việt Nam và đã xung phong vào để tiếp nối những nền văn minh tiền sữ đó (sẽ có bằng chứng rõ về sau).

xem tiếp