Phát
Hiện Thơ Cổ Thời Bắc Sơn (7000-1000 tr.c.n)
Tiến sĩ Nguyễn Thị
Thanh
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh là một cây bút
khảo luận lịch sử sắc bén. Tập sách "Văn hóa Mỹ thuật tiền
sử Việt Nam" của bà là một tác phẩm hiếm hoi quý giá, xác định
nền văn minh Bách Việt là một sự thật tuyệt diệu mà người Trung
Hoa phải "nghẹn ngào" khi bà chứng minh rằng nền văn minh
cổ Việt đã bị người Tàu dùng sức mạnh chiến tranh và sức mạnh của
chữ viết (chữ hán) chép lại và giữ lấy làm của riêng. cùng lúc với
sự xâm chiếm đất đai của nứơc Xích Quỷ trải dài từ Ðộng Ðình Hồ
xuống thẳng miền núi non phía nam của bà Âu Cơ.
Cảm hứng từ một tài liệu của nhà giáo An Phong
Nguyễn Vân Diễn về một bài thơ cổ mà ông sưu tầm được cách đây 40
năm, qua ngòi bút của bà, nền văn minh Bách Việt cổ với những tổ
tiên hiền triết, thi ca. đã sống lại vô cùng rực rỡ. Con bé Lọ Lem
từ trong rừng núi Thanh Hóa di tản đến rừng núi Ban Mê Thuột đã
lột xác trở về nguyên vẹn hình hài nàng tiên xinh đẹp của ngàn năm
cũ.
Bất cứ nhà khảo cổ chính quy hay tài tử nào, khi
bắt gặp được cổ ngoạn hiếm hoi, họ sẽ tự coi như bắt được một tài
sản quý báu. Những vật cổ còn tìm thấy nhiều trong lòng đất, nhưng
tranh cổ và thơ văn cổ thì thật là hiếm. Nhìn được tranh họa, và
đọc được thơ văn tức biết được người.
Từ nhiều ngàn năm, đất nước Việt Nam bị giặc phương
Bắc xâm lăng liên tục, và nội chiến hàng trăm năm, lại thêm thiên
tai bão lụt không ngừng, khí hậu ẩm ướt nên những tranh cổ, văn
thơ cổ, đa số nếu không bị cướp bóc đốt phá tiêu huỷ thì cũng bị
hư nát theo thời gian. Những bức tranh xưa nhất họa chăng còn tìm
thấy đều được vẽ trên da, trên gốm hoặc trên đá. Những lời văn thơ
xưa nhất còn lưu lại là nhờ vào lời truyền tụng trong dân gian.
Phải chăng một số lớn ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ, hát vè
hát đối ngày nay là những câu thơ hữu dụng cho cuộc sống, sống sót
mãi qua cửa miệng dân gian? Nôm na có lẽ người Việt cổ gọi thơ là
vè, nhất là những bài thơ ngắn dùng là lời hát nói. Thường người
ta có vẻ khinh bạc đối với chữ vè. Nhưng phải chăng vè là tên cổ
tiền phong của thơ từ ngàn xưa. Thực tế, phải chăng thơ hay vè có
giá trị hay không là do hình thức và nội dung của nó.
Khoảng trên 40 năm trứơc đây, nhà giáo Sử địa An
Phong Nguyên Vân Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một làng Mường
trong rừng Ban Mê Thuột di tản vào từ rừng Thanh Hóa. Nhìn vào một
góc cạnh, bài thơ cổ hay lạ lùng. Càng đọc thấm thía càng cảm nhận
nó chính là một bài thơ cổ từ thời tiền sử. Ông Diễn đã tu chỉnh
lại cho dễ hiểu, bình giải bài thơ và đã phát hành theo sách báo,
hoặc thỉnh thoảng trình bày kèm theo với vũ nhạc trong các dịp đám
cưới.
Theo ý kiến của nhà giáo A.P Nguyễn Vân Diễn "Toàn
bài thơ chỉ dùng chữ Việt, có một số chữ cổ hơi khó hiểu, hoàn toàn
không có chữ Hán Việt hay sáo ngữ. Bài thơ có vẻ xuất hiện trước
khi Tàu đô hộ."
Tuy đã định bài thơ ngắn này là vè là thơ cổ, nhưng
xét về cái hay cái đẹp ngày nay, bài thơ có một cái hay cái ngộ
nghĩnh, cái kỳ diệu đến lạ lùng! Bài thơ hiếm hoi này có thể có
một giá trị khảo cứu lớn lao thi văn cổ trong văn hóa dân tộc. Theo
sự nghiên cứu của tôi, có thể bài thơ này đã ra đời rất xa xưa trước
cả thời trống đồng. Trên trống đồng khắc đầy những hình nhảy múa:
có múa phải có hát, có ca. Có hát có ca thì phải có lời thơ. Lời
có vận, có vần, có nhịp, có phác, có ý, có gợi cảm, gợi hứng, gợi
tình mới thúc giục mọi người dấn thân vào ca múa tập thể.
Trước khi có trống đồng thì đã có trống gỗ mặt da.
Trước khi có trống gỗ thì phải có sanh, có phách, có gõ mõ, vỗ tay
hay giậm chân làm nhịp. Lời thơ, lời ca, văn nói có âm điệu nhịp
nhàng êm đẹp phù hợp với tiếng vỗ tay giậm chân mới kích động lên
những điệu múa kỳ diệu. Lời, ý ngâm nga, lời, ý thơ văn thường phải
xuất hiện từ lâu trước điệu ca múa, nếu không thì ít nhất phải đồng
thời với ca múa.
Trống đồng cũng như đời sống của các dân tộc bán
khai chứng minh rằng ca múa là thức ăn tinh thần cần thiết cho sự
sống con người từ thời tiền sử. Ðó là những hoạt động cần thiết
cho sự sống trong mọi thời đại như rau cỏ thịt cá từ nguyên thuỷ
đến ngày nay. Nên chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên trước tác
phẩm thơ văn tuyệt vời của người Việt cổ. Khi có sự hiện diện của
con người biết nói trên trái đất thì tất có vận động ca múa nhảy
nhót, mà có ca múa thì tất nhiên phải có văn-thơ, có nhạc điệu,
phải có lời hay ý đẹp.
Thật sự việc sưu tầm lại những thơ văn tiền sử khi
con người chưa có chữ viết hoặc chưa biết ghi chép là điều quá khó
để chứng minh. Trên thực tế nếu có thể thì đó chỉ là một sự chứng
minh lấy tâm lý làm căn bản mà thôi.
Khi nghiên cứu thời văn hóa Bắc Sơn (hậu Hòa Bình),
người Việt cổ đã có truyền thống mai táng và cưới hỏi. Mai táng
và nhất là cưới hỏi thì cần nhiều ca múa. Ðể đem sử dụng vào mai
táng và đám cưới, tất nhiên ca múa và văn thơ phải có từ trước.
Thời văn hóa Bắc Sơn là thời huy hoàng về nông nghiệp
lúa nứơc và công nghiệp đá của Việt cổ kéo dài 6 thiên niên kỷ từ
năm 7000 đến năm 1000 tr.c.n. Vì thế tìm một niên đại trong thời
đại dài dẵng này cho bài thơ cổ của chúng ta tưởng không đến nỗi
nhầm lẫn nhiều.
Người ta có thể đặt vấn đề bài thơ cổ do người Mường
sống cách ly với người Việt đồng bằng làm ra sau này. Theo nhà giáo
sử địa kiêm nhà văn Nguyễn Vân Diễn, sau khi nghiên cứu hiện tại
của dân tộc Mường, đã quan niệm rằng "Văn hóa các tộc họ Bách
Việt thiểu số, Mường, Mán, Dao, Thái. còn sót lại đã tàn phai sau
cuộc chiến thảm bại của Liên Minh Xích Quỷ tại trận Trác Lộc và
các cuộc chiến tranh lấn chiếm đất đai của Trung Quốc cổ trong suốt
nhiều ngàn năm. Họ không còn khả năng tư tưởng sáng tạo. Họ chỉ
còn nhớ những gì tổ tiên Bách Việt lưu lại mà truyền khẩu cho con
cháu mà thôi. Vì đó là những khúc ca múa có vần có nhạc dễ nhớ,
dễ truyền mà mọi người ưa thích. Bằng cớ là chính đông đúc tập thể
của họ không thể giải nghĩa được tư tưởng của tiền nhân trong bài
thơ cổ. Giống như trường hợp của người Ai Cập trước đây đã không
đọc được chữ trong Kim Tháp Tự mà phải nhờ đến người Pháp thời Napoléon
nghiên cứu rồi dạy lại cho họ". Phải chăng đó cũng là trường
hợp của khoa tử vi Kinh Dịch?
xem
tiếp
|