Bản Thông
Điệp 12.000 năm của Tổ tiên người Việt
Hà Văn
Thùy
Nhà nghiên cứu trẻ Trương Thái Du có
bài: “Những con chữ khởi thuỷ và một áng văn rất sớm của loài người”
trên mạng vannghesongcuulong.org ngày 3.5.06. Đọc bài điểm báo và
đi sâu vào nguồn tư liệu do ông giới thiệu, chúng tôi nhận ra đây
là vấn đề rất lớn, cần được tìm hiểu thấu đáo.
1/ Tóm lược tài liệu.
Nhờ tác giả bài báo, chúng tôi tìm được những tài
liệu sau:
1.a/ ‘Chữ viết cổ
nhất’tìm thấy ở Trung Quốc. BBC News 17.4.2003.(1)
Tortoise shells bearing the ancient writingTrong
24 ngôi mộ được khai quật tại làng Giả Hồ, di chỉ có tuổi 6.600
đến 6200 năm TCN thuộc tỉnh Hà Nam, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc
Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm
khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy Trung Quốc
xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle
cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi
với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về
“mắt’ và “cửa sổ”, số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được
sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN).
Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000
năm.
Shang character for Trong một vài vỏ rùa người ta
cũng tìm thấy những hòn sỏi nhỏ. Nhóm nghiên cứu Giả Hồ cho rằng
những vỏ rùa chứa đá cuội được dùng làm nhạc cụ phát tiếng kêu lách
cách trong nghi lễ Shaman. Trong một ngôi mộ có 8 vỏ rùa cùng bộ
xương của người đàn ông bị mất đầu. Những vỏ rùa được phát hiện
vào năm 1999, khi nhóm nghiên cứu khai quật những ngôi mộ trong
đó có những ống sáo cổ làm bằng xương. Đó là những nhạc cụ sớm nhất
được biết tới.
Text Box: Chữ “Mục” ?(BBC) News) Nghiên cứu này được công bố trên
tạp chí Antiquity.
Text Box: Ống sáo xương chim Giả Hồ (BBC News)Text
Box: Vỏ rùa tại Giả Hồ(BBC News)
1.b Ống sáo cổ. BBC
News 23.9.1999 (2)
Tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiêm Quốc
gia Brookhaven New York cùng đồng nghiệp Trung Quốc phát hiện những
ống sáo làm bằng xương chim hạc tại di chỉ Giả Hồ tỉnh Hà Nam Trung
Quốc. Những ống sáo 9000 tuổi làm bằng xương chim được khoét từ
5 đến 8 lỗ, chiếc dài nhất đo được 24 cm. Đáng chú ý là một trong
những ống sáo đó vẫn còn thổi được. Giả Hồ là di chỉ lớn, có tới
300 ngôi mộ được phát hiện, trong đó có nhiều đồ tuỳ táng. Sưu tập
sáo Giả Hồ là những ống sáo sớm nhất của người hiện đại được phát
hiện, tuy người ta đã biết đến những ống sáo 45.000 tuổi của người
Neanderthal tại Slovenia năm 1995.
1.c Khảo cổ chữ viết.(3)
Chúng ta biết nhiều về làng Bán Pha tỉnh Sơn Tây
Trung Quốc nơi phát hiện mộ Tần Thuỷ hoàng với hàng nghìn tượng
lính đất nung cùng nhiều hiện vật bằng đồng. Ngay dưới làng Bán
Pha 3,5 m là di chỉ khảo cổ khác, được gọi là Bán Pha 2, niên đại
12.000 năm. Tại đây người ta tìm được một bình gốm dính ở đáy một
chất giống như cặn chè. Đặc biệt là bề mặt bình có một văn bản khắc
chữ tượng hình giống chữ Trung Hoa cổ, mang tính biểu tượng cao
nhưng không giống với tự dạng chữ Hán hiện đại. Nhóm của tiến sĩ
Jeff Schonberg Đại học Angelo bang Texas Hoa Kỳ cố gắng tìm mối
liên hệ với tiếng Trung Quốc để giải mã câu chuyện. Một câu chuyện
đạo đức như là nghi lễ chữa bệnh. Để hiểu hiệu lực của câu chuyện
cần tìm hiểu cảnh quan tinh thần vùng Tây An. Miền quê này có nhiều
gò đất thiêng mang tinh thần bái vật giáo, được coi như những ông
thày dạy cách canh tác cũng như phép ứng xử… Câu chuyện trên cái
bình liên quan đến “hành vi xấu” mà ngôn ngữ ngày nay gọi là “sự
kiêu ngạo”. Sự kiêu ngạo này không phải do con người đối xử với
nhau mà với thần linh, thể hiện ở chỗ phớt lờ hay
không tôn trọng sự khôn ngoan của các vị thần. Câu
chuyện trên cho thấy: hành vi xấu làm sa đoạ tinh thần cùng sự cứu
rỗi.
1. Có một thời đen tối
2. Thế giới bị đảo lộn.
3. Thời kỳ ảm đạm xảy ra do con người ứng xử tồi
tàn và xúc phạm Thuỷ thần.
4. Do vậy con người bị bệnh tật.
5. Quan hệ giữa người và người trở nên rối loạn.
Phương thức cứu chữa:
1. Con người đến thưa với Sơn thần.
2. Sơn thần biết lý do khiến Thuỷ thần giận dữ.
3. Thần khuyên con người phải làm cuộc hành hương
cứu rỗi.
4. Trên dải núi xa sẽ thấy một loại cây, hãy mang
về chế thành chè uống.
5. Sự tha thứ xảy ra, bệnh sẽ khỏi và bóng tối biến
thành ánh sáng.
Dân địa phương cho biết: câu truyện trên vẫn được
truyền miệng trong vùng Tây An. Tiến triển lịch sử cùa Trung Quốc
hầu như thúc ép con người hiện nay sống với tâm trạng giận dữ. Có
nhiều nguyên nhân nhưng lý do thuyết phục nhất là trẻ con ở đây
thường được đưa tới trường rất sớm. Nhà trường giáo dục một lề thói
chống lại truyền thống gia đình. Hầu như những đứa trẻ này không
trở về làng nữa.
2/ Ý kiến các nhà khoa
học:
2.a/ Ý kiến các nhà
khoa học Mỹ.
Phát hiện trên mai rùa đã gây tranh luận mà người
cầm đầu cuộc khai quật cho là “một dị thường”. Tiến sĩ Harbottle
nói với BBC News: “Nếu bạn nhặt lên một cái chai có hình đầu lâu
xương chéo, bạn sẽ biết ngay đó là chất độc, dù không có bất cứ
lời giải thích nào. Chúng ta dùng ký hiệu để chuyển tải những khái
niệm và tôi không ngạc nhiên về những gì chúng ta thấy nơi đây.”
Tuy nhiên, giáo sư David Keightley của Đại học California,
Berkeley Hoa kỳ nhấn mạnh đến mối liên hệ của chúng với những nguyên
bản đời Thương. Ông nói: “Một khoảng cách 5000 năm mà giữa chúng
vẫn có sự liên hệ, thật là điều đáng ngạc nhiên.” “Tuy vậy mối liên
hệ cần được chứng minh kỹ lưỡng hơn.”
Nhưng Gs Harbottle nhấn mạnh đến sự liên tục của
những ký hiệu xuất hiện tại những vị trí khác nhau dọc theo sông
Hoàng Hà suốt từ thời kỳ Đồ đá mới đến đời Thương, khi một hệ thống
chữ viết phức tạp được phát hiện. Ông không cho là những ký hiệu
thời Đá mới có cùng ý nghĩa với những ký hiệu giống với nó ở đời
Thương.
G.s Keightley nói thêm: “Điều này thật khó hiểu
và không bình thường; nó có sớm đến mức kinh ngạc. Chúng ta không
thể coi đó là chữ viết khi chưa có bằng chứng thuyết phục hơn.”
Ông nhấn mạnh, những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả
Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết. Nhưng
ông cho rằng những ký hiệu đó mang tính biểu tượng hoặc được cách
điệu hoá cao. Nó là một dạng đặc biệt của chữ viết Trung Quốc. Chữ
“mục” là mắt tương tự với những chữ khắc mới tìm thấy gần đây.
W. Boltz, giáo sư tiếng Hoa cổ Đại học Washington,
Seattle: “Cách quãng hơn 5000 năm… Sao quá trình phát triển chữ
viết của Trung Quốc diễn ra lâu thế? Suy diễn dựa trên tương quan
hình thể đơn độc, dọc khoảng thời gian dài như vậy, gần như vô nghĩa.
Bằng cách nào người ta biết rằng hình nọ trong thực tế là hình con
mắt?” Theo ông, nó có thể giống ‘con mắt’ với ngưới này, mà cũng
có thể là cái khác với người kia. “Không có một văn cảnh, bao gồm
cà sự am hiểu về ngôn ngữ liên quan, không thể nói những dấu hiệu
này là chữ viết.”
2.b/ Ý kiến các học
giả Trung Quốc
Tác giả Trương Thái Du cho biết: “Khi tôi liên lạc
trực tiếp với giáo sư Trương Cư Trung - người đứng đầu nhóm nghiên
cứu- để hỏi về sự chính xác của thông tin mà tiến sĩ Jeff Schonberg
đề cập trong một hội thảo tại Mỹ, ông Trương khẳng định: cách nay
12000 năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết. Chỉ chắc chắn rằng chiếc
bình trà nọ có niên đại từ 5000 năm trở lên.”(bđd)
3/ Nhận định của chúng
tôi
3.a/ Về ý kiến các
nhà khoa học Mỹ:
Đối với sự thận trọng của các học giả Mỹ, tác giả
Trương Thái Du đã trả lời khá thoả đáng: “Một người Trung Hoa bình
thường nhất cũng có thể giải thích để Keightley hết ngạc nhiên:
hơn 3000 năm từ Thương – Ân, tiếng Hoa hiện đại vẫn còn rất nhiều
từ không hề thay đổi, chữ “mộc” và chữ “khẩu” là thí dụ rõ nhất.
Trong ý nghĩa nào đó của sự tương đối, 5000 năm từ thời Đá mới đến
đời Thương chưa chắc đã dài bằng 3000 năm tiếp theo.” (bài đã dẫn)
Nhưng sự thận trọng thái quá ở đây lại mang yếu
tố mâu thuẫn và nguỵ biện.
Nói rằng “những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ
có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết.” là không
có cơ sở. Một di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ, tại đó phát hiện nhiều
ống sáo bằng xương chim, có những vỏ rùa khắc chữ. Vỏ rùa không
chỉ khắc chữ mà còn là dụng cụ bói toán. Những hòn sỏi trong đó
có khả năng là những vật dùng trong bói dịch… Chứng tỏ một xã hội
phát triển cao, chữ viết là nhu cầu tất yếu.
Chúng tôi không hiểu vì sao, khi phân tích những
mai rùa Giả Hồ, nhóm nghiên cứu không hề liên hệ tới văn bản trên
bình Bán Pha 2. Văn bản Bán Pha 2 sẽ soi sáng rất nhiều cho việc
giải mã những ký hiệu trên mai rùa Giả Hồ. Không những chỉ sớm hơn
3000 năm, văn bản Bán Pha 2 là tập hợp những ký tự được tổ chức
theo quy luật nhất định khiến người ta đọc được. So với văn bản
Bán Pha 2, những gì trên mai rùa Giả Hồ không còn ‘quá sớm’.
Không hiểu vì sao các tác giả không cho biết chủ
nhân của những vỏ rùa hay bình cổ? Khi xác dịnh họ là ai, thì việc
giải mã những đồ tuỳ táng sẽ có cơ sở hơn. Chúng tôi nghi rằng đó
là những người Indonesien, Melanesien từ Đông Nam Á đi lên. Nếu
đúng vậy thì việc phát hiện ra ống sáo và chữ viết không đáng ngạc
nhiên.
3.b/ Về phát biểu của
giao sư Trương Cư Trung.
Chúng tôi nhận thấy câu trả lời của giáo sư Trương
không thuyết phục. Một bình gốm tìm thấy trong di chỉ 12.000 tuổi
mà ông lại bảo là có niên đại “từ 5000 năm trở lên” thì tính trung
thực khoa học phải hiểu thế nào đây? Tuổi của đồ gốm phụ thuộc tuổi
di chỉ kháo cổ. Trong trường hợp bình gốm này, nếu trung thực khoa
học thì phải nói: “có tuổi từ 12.000 năm trở lên.” Bởi lẽ ai biết
bình được làm từ bao giờ, nó theo con người bao lâu? Chỉ vì được
chôn xuống cùng con người nên bị định theo tuổi con người?
Chúng tôi biết, việc hạ thấp tuổi bình Bán Pha 2
và phủ định chữ viết 12000 năm không đáng ngạc nhiên. Tại sao giáo
sư Trương lại đưa ra con số 5000 năm mà không phải con số khác?
Phải chăng cần bỏ đi 7000 năm để cho chiếc bình nằm trong phạm vi
văn minh Trung Hoa? Phải chăng đó là tiếp nối truyền thống của những
Sanxingdui?(4)
3.c/ Tìm về sự thật
lịch sử:
Giáo sư Trương nói: “cách nay 12.000 năm Trung Quốc
chưa thể có chữ viết.” Điều này hoàn toàn đúng bởi lúc đó ngay cả
Trung Quốc cũng chưa có! Nhưng ít nhất từ 30.000 năm trước vùng
này là giang sơn Bách Việt.
Tháng 9 năm 1998 B. Su, Y. Chu, J. Ly những tác
giả người Hoa của Dự án Đa dạng di truyền người Hán (Chinese Human
Genome Diversity Project) được thực hiện bằng tiền của Quỹ phát
triển khoa học tự nhiên Trung Quốc đã công bố tư liệu: 70.000 năm
trước, người hiện đại Homo Sapiens đã từ Trung Đông tới Việt Nam.
Tại đây, hai đại chủng Mongoloid và Austrloid hoà
huyết và sinh sôi nhanh. Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông
Nam Á - mà sau này sách sử Trung Hoa gọi là Bách Việt - đi lên mở
mang miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc(5).
Trong khoảng 40.000 năm sinh sống từ sông Hoàng Hà
tới sông Dương Tử, người Bách Việt trong đó tộc Lạc Việt là chủ
thể đã triển khai Văn hoá Hoà Bình, tạo dựng xã hội nông nghiệp
lúa nước phát triển nhất thế giới. Trong thời gian dằng dặc ấy,
người Bách Việt đã sáng tạo rìu đá cũ, những công cụ đá cuội mài,
ra kinh Thi, kinh Dịch, đồ đồng… đã biết kết thừng, biết quan sát
vết chân chim làm ra chữ viết! Vì vậy từ lâu nhiều người dự đoán,
việc tìm ra chữ viết trên mai rùa hay đồ gốm là tất yếu. Việc phát
hiện ra chữ trên mai rùa 9.000 năm ở Giả Hồ, bản văn trên bình gốm
12.000 năm ở Bán Pha là điều không thể khác. Từ bản văn Bán Pha,
ta có thể tin là chữ viết có từ trước nữa!
Lịch sử cứ trôi đi như thế cho đến năm 2600 TCN,
Hiên Viên Hoàng đế từ thảo nguyên Thiểm Tây, Cam Túc đưa quân tràn
xuống chiếm đất của Viêm Việt (Bách Việt), mở ra cuộc hoà huyết
và hoà nhập văn hoá vĩ đại giữa chủng Mongoloid phương Bắc và Bách
Việt để tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam, tổ tiên trực tiếp
của người Hán và người Việt hôm nay.
Những chữ viết trên mai rùa, trên bình gốm rõ ràng
do người Bách Việt sáng tạo. Nhưng quyền kế thừa không chỉ thuộc
người Việt Nam mà cũng thuộc về người Trung Quốc và các dân tộc
Đông Á bởi chúng ta ngày nay, như trong cuốn sách cổ Trung Hoa nói
rất đúng, đều là Viêm Hoàng tử tôn. Do biến cải của lịch sử, người
Trung Hoa sống trên đất cũ nhưng những báu vật của tổ tiên Bách
Việt xưa đều là tài sản là niềm tự hào chung của các dân tộc Á Đông.
Mọi sự kỳ thị vừa không phù hợp với tinh thần khoa học vừa có tội
với vong linh tiên tổ Viêm Hoàng.
Trở lại Truyện cổ
Bán Pha :
Đây là thông điệp xưa nhất mà tổ tiên gửi tới con
cháu lời cảnh báo về mối hiểm nguy do thái độ kiêu ngạo trong ứng
xử với thiên nhiên. Bằng lương tri của mình, chúng ta cần có hành
động cứu rỗi để hoá giải tai ương. Chắc chắn đấy là con đường trở
về với truyền thống nhân bản của người Việt.
Viết đến đây tôi nhớ tới lời nhà văn Nga V. Rasputin:
“Không làng quê, chúng ta sẽ mồ côi,” trong bài báo cùng tên đăng
trên báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số ra ngày 1.7.2006.
Thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà vào năm tháng
này chúng ta nhận được từ tổ tiên thông điệp giầu ý nghĩa như vậy.
Sài Gòn 7.2006
Tài liệu tham khảo
1.’Earliest writing’found in China. News.bbc.co.uk/1/hi/sci/tech/454594.stm
2.’The bone age flute’. News.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/2956925.stm
3. Archaeology of Writing .www.geocities.com/cvas.geo/china.html
4.Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui tỉnh Tứ
Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt
xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao
1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật
rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Giới khảo cổ
Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào
thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục
có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn nhà Thương 1000 năm, chỉ bị
nhà Tần diệt vào thế kỷ III TCN. Đấy chính là sản phẩm của Bách
Việt.
5. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship
of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 n. 95 tr.
11763-11768.
anviettoancau.net |