Hưng
Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228-1300)
"Xin
Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng."
Ngài
tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻), là con trai của An Sinh Vương
Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, sinh ra tại Kiếp
Bạc, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, quê ở làng Tức
Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm sinh của Đức Thánh Trần không
rõ ràng, có tài liệu cho là năm 1228, có tài liệu thì cho là năm
1230, hay 1232.
Ngài vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà
Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt,
ngài đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ở kháng
chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần
Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh
đạo của ngài, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm
Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên - Mông ra khỏi nước.
Đến năm 1984, cả thế-gìới biết đến Hưng-Đạo
Đại-Vương tường-tận hơn, khi viện khoa-học hàn-lâm Hoàng-Gia Anh
với mục-đích hiệu-đính bộ The Encyclopedia of Great Britian, đã
triệu tập một Hội-Đồng gồm 478 vị học-giả và sử-gia trên thế-giới
để chọn ra những tướng-lãnh xuất-sắc toàn cầu từ trước đến nay.
Mười vị danh tướng lẫy-lừng nhất được Hội-Đồng đề-bạt trên tổng-số
98 vị được sưu-tầm. Thì chỉ có Trần-Hưng-Đạo được chấp-thuận với
100% số phiếu bầu.
Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3
thành công, Đức Trần Hưng Đạo về trí sĩ ở trang viên của mình tại
Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách.
Ngài mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (tức ngày 5
tháng 9 năm 1300), thọ khoảng 70 tuổi. Dân chúng lập đền thờ gọi
là Đền Kiếp Bạc.
Đại Việt sử ký toàn thư có chép: "Lúc mới sinh
ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: 'Người này ngày sau có thể
cứu nước giúp đời'."
Khi lớn lên, ông có dung mạo khôi ngô, thông minh
hơn người, đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ. An Sinh Vương Trần
Liễu trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng (tức vua Trần Thái
Tông - Trần Cảnh), mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ
để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, An Sinh Vương cầm tay Trần Quốc
Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ,
thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được." Do An
Sinh Vương Trần Liễu lấy người chị của công chúa Lý Chiêu Hoàng,
còn Trần Cảnh cưới Lý Chiêu Hoàng khi bà mới 7 tuổi. Sau này Lý
Chiêu Hoàng không có con (khi chỉ mới 13 tuổi) nên Trần Thủ Độ bắt
vợ của Trần Liễu lúc ấy có thai ba tháng về làm vợ Trần Cảnh (chị
thay cho em). Chính vì lẽ đó mà Trần Liễu oán giận Trần Cảnh. Quốc
Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Năm 4, 5 tuổi, Trần Hưng Đạo theo
cha là Đức Khâm Minh Thái Vương (tức Trần Liễu) đi Ái châu, là nơi
giam cầm trọng tội. Trưởng Công chúa Thuỵ Bà thương anh cả vô tội
bị đầy, bèn năn nỉ anh kế là Thái Tông, xin nhận Trần Hưng Đạo làm
con đem về Thăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói ghẻ lạnh của
triều đình, Trần Hưng Đạo được trưởng công chúa Thuỵ Bà gửi tại
chùa Phật Quang (làng Khúc Thủy, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Tây) nhờ
trụ trì chùa dạy dỗ cho tới năm lên 10.
Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước
đều do ở mình, ông đem lời cha trăng trối để dò ý hai gia nô thân
tín là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người gia nô bẩm rằng: "Làm
kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm.
Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin
chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu,
chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi".
(Lấy từ tích cũ: Sở Chiêu Vương chạy loạn ra nước
ngoài, có người làm thịt dê tên là Duyệt đi theo. Sau Chiêu Vương
trở về nước, ban thưởng cho Duyệt. Duyệt từ chối và nói: "Nhà
vua mất nước, tôi không được giết dê, nay vua về nước, tôi lại được
làm nghề giết dê, tước lộc thế là đủ còn thưởng gì nữa"
Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.
Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến:
"Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ
thế nào?"
Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến thưa: "Dẫu khác
họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!"
Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Trần
Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Trần
Quốc Tảng. Trần Quốc Tảng tiến lên thưa: "Tống Thái Tổ vốn
là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ."
Trần Quốc Tuấn rút gươm mắng: "Tên loạn thần
là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định giết Quốc Tảng, Hưng
Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc
Tuấn mới tha.
Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: "Sau khi ta chết,
đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng."
Năm Ất Dậu, Thiệu Bảo năm thứ 7, 1285, thế giặc bức
bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông
Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc
Sơn (mũi biển thuộc châu Vạn Ninh, gần Móng Cái, nay thuộc tỉnh
Quảng Ninh) để đánh lừa giặc.
Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn
vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều
người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt
sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu
sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại
loại như thế.
Sử
gia Ngô Sĩ Liên viết: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm
nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử,
như hào cửu tứ của quẻ Tùy (xem Kinh Dịch) thì mới có thể giữ tròn
danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang
tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm
được như vậy."
Trước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần
Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương
bắc đến. Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới bảo:
"Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư
đồ để tiếp sứ phương Bắc."
Trần Quốc Tuấn thưa: "Việc tiếp sứ giả, thần
không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám
vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu
mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ
chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi
xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn."
Một hôm, Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang
Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn
sợ tắm gội, Trần Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần
Quang Khải: "Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm", rồi cởi
áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm
nay được tắm cho Thượng tướng." Trần Quang Khải cũng nói: "Hôm
nay được Quốc công tắm rửa cho."
Trước đây, hai ông tuy một là Quốc công tiết chế,
một là Thượng tướng thái sư nhưng do lo lắng về mối thù của Trần
Liễu để lại mà có mối hiềm nghi xa cách. Sau khi được Trần Quốc
Tuấn tắm cho, hai ông trở nên thân tình, tin tưởng nhau, tình nghĩa
qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn mà. Trong việc giúp đỡ nhà
vua, hai ông đều đứng hàng đầu.
Vì
có công lao lớn trong cả 3 lần chống nhà Nguyên nên vua gia phong
ông là Thượng quốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho
người khác, từ minh tự trở xuống, chỉ có tước hầu thì phong tước
rồi tâu sau. Nhưng Quốc Tuấn chưa bao giờ phong tước cho một người
nào[cần dẫn nguồn]. Khi quân Nguyên vào cướp, Quốc Tuấn lệnh cho
nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang
tướng giả chứ không cho họ tước lang thực, ông rất kính cẩn giữ
tiết làm tôi.
Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước,
như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã
Nhi, Toa Đô. Các người nổi tiếng khác như Phạm Ngũ Lão, Trần Thì
Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn
Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn
chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một
lòng giữ gìn trung nghĩa vậy. Xem như khi Trần Thánh Tông vờ bảo
Trần Quốc Tuấn rằng: "Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi".
Trần Quốc Tuấn trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng".
Vì thế, đời Trùng Hưng, lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang
đến phương bắc, chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà
không dám gọi thẳng tên. Sau khi mất rồi, các châu huyện ở Lạng
Giang hễ có tai nạn bệnh dịch, nhiều người cầu đảo ông. Còn có lời
đồn rằng, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ
tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn.
Trần Quốc Tuấn từng soạn các sách như Binh gia diệu
lý yếu lược (quen gọi là Binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí
truyền thư để dạy các tỳ tướng, dụ họ bằng bài "Hịch tướng
sĩ".
Trần Quốc Tuấn từng soạn sách để khích lệ tướng sĩ
dưới quyền, dẫn chuyện Kỷ Tín chết thay để cứu thoát Hán Cao Tổ,
Do Vu giơ lưng chịu giáo để cứu Sở Tử. Ông dạy đạo trung như vậy.
Dân
Việt Nam vô cùng kính trọng ông do công lao hai lần lãnh đạo đất
nước chống lại được họa Thát Đát (Mông Cổ). Dưới vó ngựa của Nguyên
Mông, các nước Hồi giáo hiếu chiến ở Trung Á, các công tước của
Moskva, Novogrod (nước Nga ngày nay) cũng không thể nào bảo vệ được
nền độc lập của mình. Lãnh thổ của Nguyên Mông, theo chiều ngang,
kéo dài từ Viễn Đông (gồm cả Triều Tiên) đến tận Moskva, Muhi (Hungary),
Tehran, Damascus; chiều dọc từ Bắc Á xuống hết cả Ấn Độ, Miến Điện.
Trong cơn lốc chinh phục của họ, chỉ có Thái Lan (Sukhothai) thoát
khỏi họa diệt vong nhờ sách lược cầu hòa, Nhật Bản may mắn nhờ một
trận bão biển làm thiệt hại bớt tàu của Mông Cổ, và Đại Việt nhờ
khả năng lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương mà giữ được bờ cõi.
Mông Cổ không xâm chiếm được Ấn Độ, họ chỉ tiến được
đến biên giới miền bắc Ấn ngày nay và bị chặn lại. Họ cũng chỉ vào
được miền bắc Myanma trong một thời gian ngắn rồi phải rút lui.
Ngoài Đại Việt đánh bại được đế chế Mông Cổ còn có
Java (Indonesia), Ai Cập, Ấn Độ, tuy nhiên chiến công của Đại Việt
là hiển hách nhất.
Lấy dân làm gốc
Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới
nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương
Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"
Hưng
Đạo Vương trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng
nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân
ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh
thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê
dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt
mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình
Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền,
nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm,
đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt
bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc
phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận,
ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường
của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì
thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng
chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh
cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con
thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền
gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy."
Khi sắp mất, ông dặn con rằng: "Ta chết thì
phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An
Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ
nào, lại phải làm sao cho mau phục".
Trần Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, quân Nguyên hai lần
vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng, sợ sau này có thể xảy ra
tai họa đào mả chăng. Ông lo nghĩ tới việc sau khi mất lại là vì
vậy.
Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp Đạo Đại Vương.
Vua Trần Thánh Tông có soạn bài văn bia ở sinh từ
của Trần Quốc Tuấn, ví ông với Thượng phụ (Lã Vọng ngày xưa bên
Trung Quốc).
Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ
phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ
của ông. Ngài được người dân nhiều đời sùng kính phong Thánh tức
là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sử chỉ dành riêng
cho vị danh tướng nhà Trần.
Ngày lễ chính thức được tổ chức vào
ngày ông mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Dân chúng không gọi
trực tiếp tên của ông mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo Đại Vương,
Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ
Mẹ).
Wikipedia |